Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

VỀ MỘT BÀI THƠ TRÊN Faceboook




Tôi yêu thơ, thích thơ và cũng thường tập tọng làm thơ. Nhưng dù có cố gắng thế nào tôi cũng chỉ trở thành người ghép vần thôi. Nghĩa là tôi chỉ diễn tả được những ý nghĩ của mình bằng những bài văn vần với đủ các thể loại: lục bát, ngũ ngôn, tứ tuyệt thậm chí cả thất ngôn bát cú Đường luật. Dẫu những bài tôi làm không vi phạm niêm luật cũng không thất vận bao giờ nhưng ngôn ngữ không mới lạ, không lấp lánh, lung linh ; cấu tứ chẳng có gì đặc biệt. Vì vậy bài viết chẳng có lớp nang ý nghĩa cần phải khám phá khai thác mà cứ thẳng tuồn tuột phơi bày hết ra khiến đọc xong là hết chẳng còn chút dư ba ý vị nào . Vì thế, hồi này tôi chẳng buồn viết thêm nữa, chỉ đi tìm thơ hay để đọc thôi. Nhưng không dễ chút nào khi tìm đọc thơ hay trên mạng. Nó giống như đãi cát tìm vàng ấy.
Cho nên vớ được bài thơ hay thì cứ sướng âm ỉ mãi thôi.
Cách đây chừng hơn một tháng, tôi đọc được bài thơ này của Nguyễn Lục, em gái bạn tôi, tôi ấn tượng vô cùng và bài thơ cứ thế bám riết trong tâm trí tôi
Sáng nay hoa bưởi ướt đầm
Trắng rơi ướp lối, hương dầm mềm mưa
Chiều hoang thiền với hạt mưa
Tháng giêng ơi… những dại khờ còn xanh?
( Nguyễn Lục)
Tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của hoa bưởi rụng trong mưa. Bởi lẽ thường, muốn miêu tả vẻ đẹp của hoa, người ta hay chọn hình ảnh những đoá hoa chớm nở, trong một ban mai trong sáng yên lành. Em tôi lại miêu tả hoa rụng trong mưa nhưng vẫn đẹp, một vẻ đẹp tinh khiết mà đằm thắm; não nùng mà quyến rũ và lan toả đến mê ly : “Sáng nay hoa bưởi ướt đầm/ Trắng rơi ướp lối, hương dầm mềm mưa”. Rõ ràng là cái vẻ não nùng của “hoa bưởi ướt đầm” trong mưa, vụt sáng láng, tinh khôi trong “ Trắng rơi ướp lối” và lan toả vào màn mưa làm cho mưa không não nề,khiến ta bí bách khó chịu mà trở nên mềm mại, dịu ngọt, duyên dáng đáng yêu: “hương dầm mềm mưa”. Mọi hình ảnh thơ đều đằm nặng, thấm vào, dày trĩu xuống rất ấn tượng. Hoa thì mưa làm cho "ướt đầm", cánh trắng rơi xuống thì "Ướp lối", hương không phảng phất, ngan ngát mà "dầm mềm mưa" Ngôn ngữ thơ thật thần diệu, có hồn. Đúng là một cảm quan nghệ thuật độc đáo. Nếu không có tâm hồn và con mắt nhìn của thi sĩ thì không thể viết ra được như thế. Ví thử cảnh trí này mà qua ngòi bút của tôi nó sẽ chỉ thành ra: Cánh rơi trắng lối hoặc hoa rơi trắng lối, hương thơm ngát vườn mà thôi chứ làm sao mà vẽ ra được hình ảnh: "Trắng rơi ướp lối, hương dầm mềm mưa” kia chứ! Vì thế, với tôi, cách diễn tả này của em mới lắm, lạ lắm mà lại cũng chân thực vô cùng. Bởi từ cái mới lạ trong ngôn ngữ thơ kia em đã khơi gợi được cái thần, cái hồn của cảnh vật và bộc lộ tự nhiên cảm xúc của mình trước cảnh trí. Đọc đến đây, tôi lại chợt nhớ tới bài thơ Hương bưởi của Trần Đăng Khoa rồi tự nhẩm lại xem Nguyễn Lục có lặp lại điều gì trong thi phẩm này không? Không! Trần Đăng Khoa mượn vẻ đẹp của hoa bưởi rụng xuống cho quả non trồi lên để kính tặng hương hồn liệt sĩ Mạc Thị Bưởi : 
" Hôm qua cái cánh rụng rồi
Sáng nay cái cuống đã trồi quả non
Hoa rơi trắng mảnh sân con
Ơi hoa đã rụng vẫn còn ngát hương"
Ở đây, Trần Đăng Khoa đã qua ngôn ngữ thơ của mình mà vẽ ra hình ảnh hoa bưởi rụng mà vẫn đẹp "Hoa rơi trắng mảnh sân con, vẫn thơm: "Ơi hoa đã rụng vẫn còn ngát hương" và nhất là hoa rụng nhưng không hết mà rụng đi để cho quả non kia trồi lên, lớn dần rồi hứa hẹn đem đến cho đời những trái bưởi vàng ươm, thơm dịu, ngọt mát, ngon lành. Từ ý nghĩa tự nhiên của bài thơ như thế, tác giả gợi mở ra cho độc giả những liên tưởng về sự mất đi mà vẫn còn hữu ích cho đời, về những hy sinh cao quý của các anh hùng liệt sĩ quên mình vì Tổ quốc non sông ...
Nguyễn Lục thì khác, em chỉ khắc hoạ một vẻ đẹp và hương thơm của hoa bưởi rụng trong mưa bằng ngôn ngữ độc đáo, bằng cảm nhận tinh tế bằng tình yêu đằm thắm như đắm chìm hoà đồng vào cảnh vật của chính em để rồi tự nhiên hình ảnh thơ đó lưu lại dư ba không thể nào quên trong lòng độc giả và khơi gợi lòng yêu cái Đẹp trong con người. Như thế chẳng đáng quý lắm sao?!
Cái đặc sắc nữa của Nguyễn Lục nằm ở câu chuyển và câu kết trong bài lục bát tứ tuyệt này:
Chiều hoang thiền với hạt mưa
Tháng giêng ơi...những dại khờ còn xanh?
Thời gian biến đổi từ"sáng" sang "chiều; không gian biến chuyển từ mưa dày hạt làm ướt đầm hoa bưởi sang mưa thưa hơn nhỏ hơn"hạt mưa" và nhân vật trữ tình cũng biến chuyển cả tư thế hoạt động đến tâm thế cảm xúc. Nếu sáng ra, tác giả chỉ say đắm ngắm nhìn, tha thiết mến yêu và thưởng thức vẻ đẹp, hương thơm của hoa bưởi trong mưa nơi lối nhỏ vườn nhà thì chiều đến tác giả lại đang ngồi "thiền với hạt mưa" trong chiều hoang vắng như thực như mơ. Để rồi trong tư thế ấy, tác giả vụt bật lên tiếng gọi rất thiết tha và câu hỏi rất bất ngờ: " Tháng giêng ơi...những dại khờ còn xanh?"
Bằng vào ngôn ngữ thơ trong hai câu này, tôi hình dung ra tác giả đang ngồi thiền trong chiều mưa phảng phất mà tâm hồn lại trở về với thuở xa xưa và những "dại khờ" trong cuộc đời của tác giả bỗng ùa về tươi nguyên, xanh nguyên, mới nguyên lại rất ngọt ngào nữa khiến tác giả thốt ên thành lời vừa như chất vấn lại vừa như reo vui thích thú: "Tháng giêng ơi...những dại khờ còn xanh?" Những "dại khờ" là những điều chi mà đáng yêu đáng nhớ đến thế? Có thể là những trò chơi thưở ấu thơ của tác giả với chị em ,bạn bè trong vườn bưởi nhà mình khi đi nhặt những hoa bưởi rụng đem về ướp nước hoa rồi bôi đầy cả tóc nhau và "hí hửng bảo nhau thơm đấy chứ/ Nước hoa ngoài tỉnh thấm vào đâu" ( thơ Nguyễn Bính). Hay bọn họ đang thi nhau hái bưởi ăn bưởi vụng cũng chưa biết chừng? Cũng có thể đó là cái "dại khờ" trong sự vụng về ngu ngơ của tình yêu đầu đời mà nàng đã "Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay" ( thơ Phan Thị Thành Nhàn) định trao cho ai đó mà chưa dám trao để rồi đến giờ vẫn thương? Hoặc cũng có thể đó là những dại khờ trong vấp ngã giữa cuộc đời này chăng? Không thể đoán hết ra được nhưng chỉ biết rằng những dại khờ đó còn sống mãi trong lòng Nguyễn Lục và mỗi chúng ta ai lại chẳng có kỉ niệm với sự dại khờ của riêng mình. Bài thơ hàm súc là vì nó nói rất ít nhưng lại gợi liên tưởng thật nhiều. Bài thơ ấn tượng là bởi dù chỉ nói nỗi niềm riêng của thi nhân mà chạm tới miền kí ức của bao người. Bài thơ hấp dẫn bởi tác giả đã nói tất cả những điều đó bằng ngôn ngữ thơ thật thơ, độc đáo mới lạ, tưởng như bất hợp lý mà lại rất hợp lý vậy.
Nhớ lại khi vừa đọc bài này, tôi đã comens với em rằng: Bài thơ rất lạ, rất ấn tượng nhưng có một chỗ trùng vần, đọc chưa khoái lắm: "Trắng rơi ướp lối hương dầm mềm mưa/ Chiều hoang thiền với hạt mưa". Em có thể đổi từ hạt mưa thành xa xưa được không? Em trả lời với tôi rằng “ Hạt mưa “ vừa cụ thể , vừa hình tượng . Hạt mưa có hồn , có thần , có hình , có tình . Hạt mưa có thần giao cách cảm . Hạt mưa cô đơn , hạt mưa thật , hạt mưa hư ... Em thích từ “ hạt mưa “ , chị ơi "Bị bác lại, tôi có hơi cụt hứng nhưng chẳng hề tức giận chi em mà càng quý em hơn bởi một Nguyễn Lục cá tính, luôn thẳng thắn, bản lĩnh và có chính kiến riêng của mình cả ở ngoài đời và cả trong quan niệm văn thơ. Em đúng là con người: Dù ai cầm dao doạ giết/ Cũng không nói ghét thành yêu"( Thơ Phùng Quán) như vậy đó. Tôi không tranh luận trực tiếp với em nữa nhưng tôi vẫn bảo vệ quan niệm của tôi rằng chỗ trùng vần trong bài thơ trên của em làm cho bài thơ chưa thật sự trọn vẹn. Nhưng ngọc còn có vết kia mà. Đồng thời tôi cũng ngộ ra rằng thay từ "hạt mưa" bằng từ xa xưa như gợi ý của tôi với em là không ổn. Bởi nó làm lộ trước cái ý thơ trong câu sau, làm mất luôn cả cái thi vị, kín đáo của thơ rồi. Khó thật! Có lẽ đây là sự trùng vần bất khả kháng chăng?

Sao Đỏ: 07-4-2020
Song Thu 

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Thi sĩ đồng quê làm thơ về “Người đẹp”


Cách đây gần ba năm, một “người đẹp xứ Đông” đã gửi cho tôi một bài thơ mời họa. Đó là bài "Tiếng Thu":

Tiếng thu dịu ngọt khúc ru êm,
Chiếc lá vàng rơi khẽ chạm thềm.
Gió thổi se se làn gió mỏng,
Mây trôi lãng đãng dải mây mềm.
Bầu trời soi bóng xanh hồ mộng,
Mặt nước in hình nguyệt sáng đêm.
Nhè nhẹ hương hoa theo gió thoảng,
Tâm hồn đa cảm mộng mơ thêm./.

Hà nội : tháng 9/2015
Cẩm Tú

Tác giả bài thơ này cũng là một học trò cũ của trường cấp 3 Hồng Quang nhưng sau chúng tôi 3 lớp. Nghĩa là khi khóa chúng tôi đã ra trường được vài tháng thì nàng mới nhập trường. Nếu sau này nàng không thành cô giáo và về dạy cùng trường thì lẽ tất nhiên tôi sẽ chẳng biết gì về nàng. Nàng không dạy văn chương, nhưng người nàng xinh, chữ nàng đẹp và tâm hồn nàng thì đa cảm. Mãi đến cuối đời khi về già nàng mới làm thơ. Tôi cũng rất thích những nét “đồng quê” trong thơ nàng:
Đây là cảnh sinh hoạt của một gia đình nông dân, lam lũ nhưng quấn túm và đầm ấm biết bao:

Đi xa mà vẫn nhớ nhiều,
Sáng rợp bóng khế, nửa chiều bóng sung.
Mùa hè chị em tắm chung,
Lội hái củ ấu nước tung trắng đầu
Buổi trưa thả chiếc cần câu,
Bắt con rô nhỏ nấu rau tập tàng.
Chiều về bên cầu rộn ràng,
Em ngồi vo gạo, Bà đang rửa trầu,
Chị băm bèo lợn phía sau,
Đàn vịt cạc cạc tranh nhau miếng mồi.
Bố mẹ lưng đẫm mồ hôi,
Xuống cầu ao thấy lòng vơi nhọc nhằn.
(Chiếc cầu ao)

Và đây là những hương vị làng quê, mùa nào thức ấy, còn lưu luyến mãi trong lòng người xa quê:

Vải thơm vườn trước ngõ sau,
Hoa sen mùa hạ đầm sâu thơm nhà.
Chuối thơm thờ cúng Ông Bà,
Mít, dứa thơm đến mấy nhà vẫn thơm,
Thơm ấm mùi thơm của rơm,
Thơm ngon, thơm dẻo bát cơm đầu mùa
Thơm mật khoai nướng đồng trưa,
Thảo thơm cô Tấm thị vừa chín cây.
Nếp thơm, thơm đĩa xôi đầy,
(Hương quê)

Những ký ức ấy trong thơ, ký ức nào cũng sống động, gợi lên cảnh sinh hoạt và hương vị làng quê bằng một thứ ngôn ngữ khá tự nhiên và hoạt bát. Những ký ức ấy thức dậy trong ta biết bao nhiêu kỷ niệm về một thời quá vãng chưa xa. Lam lũ, vất vả nghèo khó thật, nhưng trời đất trong lành, tình người ấm áp. Thương làm sao, nhớ làm sao và cũng tiếc làm sao!
Gần đây nàng lại làm cả thơ Đường luật nữa. Tôi cũng rất thích bài Tiếng Thu của nàng. Thích cái âm thanh rất nhẹ và ấm áp tình người trong “khúc ru êm”, thích cái tiếng lá vàng rơi cũng rất nhẹ “khẽ chạm thềm”. Rồi lại tiếng của một “làn gió mỏng”. Tôi cũng rất thích cái phong cảnh mùa thu trong veo và mơ màng mà bài thơ gợi ra. Tất cả, tất cả…dường như đều kết thành “hồn mộng” trong tâm hồn tác giả.

Tôi phải đi tìm tứ để họa lại bài thơ của “Người đẹp”. Thì đột nhiên một ký ức xa xăm về nàng bỗng hiện về. Thật ra thì tôi có những sáu năm hoc cùng với nàng cơ. Nhưng suốt ba năm ở cấp 2 tôi chả biết gì về nàng cả. Có lẽ vì tuy cùng trường nhưng khác lớp. Cũng có thể là do lúc ấy nàng còn bé bỏng, chưa “dậy thì” và vẻ đẹp thiếu nữ cũng chưa xuất hiện chăng? Mãi đến khi lên cấp 3, học cùng lớp với nàng thì tôi mới biết. Nhưng biết là biết vậy thôi chứ cũng chẳng quan hệ chơi bời thân thiện gì. Bởi nàng là người thành phố, con nhà giầu lại đẹp gái. Còn tôi chỉ là một anh chàng nhà quê “chân đất mắt toét”. Với tôi nàng như một “siêu phẩm” treo mãi ở trên lưng chừng giời.
Nhà nàng ở gần ngã tư Đông Thị. Mỗi sáng nàng thường qua cái ngã tư này rẽ vào phố Quang Trung um tùm bàng và san sát phố. Đi gần hết phố Quang Trung đến đầu Nguyễn Văn Tố thì nàng mới rẽ vào trường. Nàng thường mặc quần đen, áo thì khi mầu gụ, khi mầu trắng. Nàng có một mái tóc đen rất dài buông đến quá khuỷu chân. Tôi chưa bao giờ đi học cùng đường với nàng vì chúng tôi trọ học ở tận đằng Ngã Sáu. Chúng tôi thường đi theo đại lộ Hồ Chí Minh, đến vườn hoa Độc Lập, rẽ vào Phạm Hồng Thái, lại rẽ vào Bắc Sơn, đến đầu này Nguyễn Văn Tố thì cũng rẽ vào trường.
Nhiều hôm khi chúng tôi đi đến đầu này Nguyễn Văn Tố thì cũng chợt thấy nàng xuất hiện ở đầu kia. Nàng thường cum cúp đi một mình. Nàng đi đến đâu thì mọi người xung quanh đều ngước mắt nhìn. Hình như nàng muốn lảng tránh những cái nhìn như thế nên thường lơ đãng nhìn đi mãi đâu đâu. Đôi khi còn cầm sách lên che ngang một bên mày.
Tôi bèn đem cái ký ức này về nàng cắt gọt đi rồi ghép vần lại thành bài thơ "Thiếu Nữ":

Dáng ai nhè nhẹ lướt thu êm
Bước bước gót sen khẽ dạo thềm
Mắt biếc xa xôi miền lãng đãng
Vai thon hờ hững tóc buông mềm
Lơ mơ mái phố làn sương sớm
Lặng lẽ hàng bàng tắt gió đêm
Thiếu nữ bước đi ngơ ngác lối
Cho lòng ai đó rộn ràng thêm ?
08/10/2015
Thi sĩ đồng quê

Biết nàng mới có trang Fb tôi xào xáo qua lại bài thơ này, lại thêm chút hành răm mắm muối để làm một món ăn mời nàng xơi tạm.

06/08/2018
Đỗ Đình Tuân

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2018

VÀI NÉT VỀ HAI BÀI THƠ CỦA HAI NGƯỜI BẠN THƠ QUÁ CỐ

Tổ thơ xóm Núi
Ông Bùi Trác Trường và phu nhân
Ông Vũ Bá Huyên

        Tổ thơ khu phố Nguyễn Trãi 2 mà chúng tôi quen gọi là tổ thơ phố núi chỉ có vẻn vẹn hơn chục người thôi. Ai cũng nghỉ hưu từ lâu rồi. Vì về hưu mới có thì giờ mà thơ ca hò vè chứ. Ít người thì ít thật nhưng sinh hoạt đều đặn lắm và mỗi năm vẫn cho ra đời một tập thơ kia đấy. Tính đến năm 2017 vừa qua đã có đến 11 tập thơ chào đời rồi. Như thế là tổ thơ đã hoạt động được 11 năm. Vui vẻ, ấm cúng và nồng đậm nghĩa tình cũng là một nét đặc trưng tiêu biểu của tổ thơ này.
      Tuy vậy, năm vừa qua lại có tới hai thành viên đã về với tổ tiên. Dẫu biết rằng : “sinh, lão, bệnh, tử” là lẽ thường của cõi đời. Song ai trong tổ thơ chúng tôi cũng thấy buồn và trống vắng lắm. Mới hồi tháng 11 năm ngoái, sinh hoạt còn đủ mặt anh hào, thế mà lần sinh hoạt đầu năm nay đã vắng mất hai người rồi. Trước ngày sinh hoạt, Song Thu mới lần tìm những bài thơ của hai bậc tiền bối để đọc lại mà lòng không khỏi bùi ngùi xúc động. Bởi đọc thơ mà như thấy hai ông cứ hiện ra rõ mồn một, từ dáng hình đến điệu sinh hoạt và cốt khí của từng ông. Có câu: “ Văn là người” quả không sai vậy.
      Tôi xin chọn để giới thiệu một bài thơ của ông Vũ Bá Huyên, một ông già thon gọn, tầm thước vừa mau mồm mau miệng vừa nhanh nhẹn trong mỗi bước đi, một ông già hôm nào cũng dậy từ 4h sáng để tập thể dục đến khoảng hơn 5h là vào ăn sáng rồi lại đi bộ thăm bạn bè gần hoặc đạp xe đi thăm bạn bè xa hơn chút xíu. Ông hay làm thơ Đường luật thất ngôn bát cú về các con vật như con cua, con ếch, con cóc con cò hoặc con ốc con cá vv… Cũng có khi ông lại dùng thơ Đường để tự hoạ chân dung của chính bản thân mình. “Tuổi tám mươi” là một bài thơ như thế:
Tôi thọ năm nay tám chục tròn
Trông sau người bảo vẫn trai son
Là nhờ nhà nước tinh thần tốt
Lại được gia đình vật chất ngon
Thể dục năng rèn cơ chậm tóp
Dưỡng sinh siêng luyện cốt lâu giòn
Rượu chè, thuốc sái a lê tuốt
Nên tuổi tuy già dáng vẫn thon

2004
Vũ Bá Huyên 
     
      Một bài thơ Đường rất chuẩn về niêm luật, rất chặt chẽ trong kết cấu nhưng không trang trọng cổ kính, gò bó khuôn sáo mà rất giản dị. Thậm chí là nôm na và mộc mạc trong từng câu từ và rõ ràng rành mạch trong ý tứ nhưng vẫn đủ sức cuốn hút người đọc. Nó đúng là một bản phác thảo thô mộc về bản thân nhưng không thô thiển mà pha chút cười cợt hom hóm nên đọc lên thấy vui vui và ý vị. Tôi thích cách dùng những cụm từ dân dã mà giàu sức gợi của tác giả như: trai son, tinh thần tốt, vật chất ngon, cơ chậm tóp, cốt lâu giòn và nhất là những từ trong câu 7: “ rượu chè thuốc sái a lê tuốt” thì thật là không còn có thể mộc mạc hơn. Nó như một khẩu ngữ thuần phác được bê nguyên vẹn vào một bài thơ cổ mà đọc lên không chút gợn. Ngược lại ta thấy một thái độ dứt khoát không dính líu đến những tệ nạn, những thứ độc hại của một ông già qua một bài thơ có giọng điệu vui vui, tưng tửng như cợt đùa chứ không hề lên gân lên cốt hoặc cao giọng giáo huấn răn dạy chi cả .Tôi lẩn mẩn làm một phép thử để thay những từ khác vào như thay từ “thuốc sái” bằng thuốc lá, rồi thay cụm từ “a lê tuốt” bằng cụm từ không màng tới, không dùng tuốt vv… thì đều thấy không ổn chút nào.Vì thay như thế, tuy ý thơ không có gì khác biệt đáng kể nhưng giọng điệu thơ và vị thơ thì đã mất hẳn rồi. Thế mới biết những khẩu ngữ được dùng đúng chỗ lại trở nên đắc địa và sinh động biết bao.
      Điều đặc biệt nữa là kết cấu của bài thơ cũng rất tự nhiên và chặt chẽ. Này nhé, câu phá đề,giới thiệu cụ thể về tuổi thọ của bản thân rất nghiêm túc và chuẩn xác: “ Tôi thọ năm nay tám chục tròn”. Đến câu thừa đề lại nói về độ trẻ trung của ông lão một cách rất khách quan: “ Trông sau người bảo vẫn trai son”. Nghĩa là, thực tình tôi đã tám mươi tuổi rồi nhưng người ta vẫn bảo tôi trẻ trung như trai son vậy. Thế rồi tất cả những câu sau lại lý giải tỷ mỷ vì sao tôi có được sự tươi trẻ ấy. Trước hết “là nhờ Nhà nước tinh thần tốt”. Câu này có vẻ như hơi sáo chăng? Không đâu. Chân thực lắm đấy. Đã nhiều lần ông tâm tình với tôi: “ Tôi tham gia phá kho thóc của Nhật rồi bỏ làng ra đi đến làng Thủ Chính làm thuê làm mướn kiếm ăn. Dân ngụ cư bị coi thường lắm. Đói rét, bệnh tật tôi đều đã trải qua rồi. May mà ơn Đảng ơn Bác ơn Nhà nước nên mới được như ngày hôm nay; Đã có hơn 40 năm tuổi Đảng, lại có lương hưu, có nhà đất đàng hoàng, tôi chả còn mong ước gì hơn”. Như thế là nhờ nhà nước mà tinh thần tốt là chính xác rồi. Kế đến là “ được gia đình vật chất ngon”. Nghĩa là được vợ con lo chu tất về miếng ăn miếng uống giúp tôi thấy ngon miệng lắm. “ vật chất ngon” là một cách nói là lạ và khá ấn tượng. “Ngon” chứ không phải sang hay nhiều đâu nhé. Từng sống gần ông mấy chục năm, tôi biết cái “ vật chất ngon” với ông thanh đạm và bình dị lắm. Chỉ mỗi bưa vài lưng cơm gạo quê, bát canh rau vườn nhà, chút thịt hoặc cá tép kho hay vài miếng đậu. Thế thôi chứ chẳng phải sơn hào hải vị gì nhưng ông cụ cảm thấy ngon miệng lắm. Điều quan trọng nhất để giữ được thân thể khoẻ trẻ dài theo năm tháng được tác giả nhấn mạnh là do bản thân chăm rèn luyện thể dục và tránh xa những thứ độc hại…
Thể dục năng rèn cơ chậm tóp
Dưỡng sinh siêng tập cốt lâu giòn
Rượu chè thuốc sái a lê tuốt 
      Từ đó tác giả kết luận một cách đầy tự tin rằng: “ Nên tuổi tuy già dáng vẫn thon”. 
Bài thơ cứ phô bày hết mọi nhẽ chứ không ẩn dụ, nói bóng nói gió gì; Đọc lên ai cũng hiểu, không cần phải giảng giải ;Nhưng ta không thấy nhạt bởi nó tải được cái hồn cốt thần thái của tác giả trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, một nếp sống thanh đạm, lành mạnh, vui vẻ. Nó cũng nêu lên một bài học thật quý giá được rút ra từ thực tế cụ thể sinh động trong cuộc sống của chính bản thân tác giả . Bởi thế mà không hô hào, vận động, không giảng giải lý lẽ hay khuyên răn dạy bảo ai, bài thơ, tự thân nó đã mang ý nghĩa giáo dục lớn. Đó chính là thơ có ích cho đời vậy.
Nếu ông Vũ Bá Huyên say mê viết thơ Đường luật thì ông Bùi Trác Trường lại thường làm thơ lục bát. Và thơ ông Trường phần lớn là lấy đề tài từ chính phu nhân của ông. Ông từng nói: “tôi sẽ phấn đấu để trở thành người làm thơ về vợ nhiều nhất Việt Nam” . Và thực tế đúng là như vậy. Tôi xin nhặt ra đây một bài thơ thuộc đề tài ấy của ông để mọi người chiêm ngưỡng:

MỪNG XUÂN CHO BÀ
Chín sáu con gái mừng bà
Áo chùng bà mặc đậm đà sắc xuân
Giao thừa đinh sửu đến gần
Năm nay tôi sẽ mừng xuân cho bà
Thời kì kháng chiến đã qua
Huân chương tôi lĩnh vài ba năm rồi.
Sáu mốt năm tuổi của tôi
Tham gia chống Mỹ hai mươi năm tròn
Thay chồng nuôi mẹ, dạy con
Năm tháng mỏi mòn bà vất vả thay
Tiền Nhà nước thưởng tôi đây
Đôi hoa mua sẵn xuân nay mừng bà
Nhìn về quá khứ xa xa
Ngày tôi yêu bà đã tặng gì đâu
Nay ngoài sáu chục tuổi đầu
Tặng hoa tuy muộn nhưng sâu ân tình
Lại thêm cái tết hoà bình
Tuy chưa nâng chén mà hình như say
Ngoài trời gió lộng mây bay
Hẳn là tiên nữ hôm nay xuống trần
Tiên nữ vui với táo quân
Còn tôi, tôi chỉ vui xuân cùng bà
Giao thừa 1997
Bùi Trác Trường 

      Riêng đề tài về tặng quà cho vợ cũng được tác giả Bùi Trác Trường viết nhiều bài lắm. Nào là tặng quà nhân ngày mừng thọ, nào tặng quà nhân dịp 8-3. Quà tặng cũng khá đa dạng: Khi là nồi bún riêu cua, lúc là nồi nước tắm, kèm theo động tác kì lưng rất đa tình. Song có lẽ, bài “ Mừng xuân cho bà” là một bài tôi thấy xúc động hơn cả. Trừ những câu thuộc phần đầu có vẻ kể lể, dài dòng thì từ câu “ Thay chồng nuôi mẹ dạy con”đến cuối bài đã lắng đọng tâm tư, đậm chất trữ tình khiến người đọc rưng rưng rung cảm.Tác giả không chỉ cảm kích và đánh giá cao công lao nuôi mẹ, dạy con của vợ mà còn nhìn hình ảnh người vợ gầy guộc vất vả bằng con mắt đầy yêu thương trân trọng : “ Năm tháng mỏi mòn bà vất vả thay”. Tình cảm yêu thương ấy được đẩy lên bước nữa bằng hành động cụ thể và thiết thực mà tác giả dành cho vợ:
Tiền Nhà nước thưởng tôi đây
Đôi hoa mua sẵn xuân nay tặng bà” 
      Sau hành động mua đôi hoa tai tặng vợ này, tác giả không đi vào mô tả niềm vui sướng của vợ khi nhận quà như nhiều bài thơ khác trong đề tài này của ông mà bỗng dưng giọng điệu thơ chùng xuống, lắng lại trong miên man hoài niệm:
Nhìn về quá khứ xa xa
Ngày tôi yêu bà đã tặng gì đâu
Nay ngoài sáu chục tuổi đầu
Tặng hoa tuy muộn nhưng sâu ân tình .
      Tôi muốn nhìn nhận khổ thơ này bằng một nhãn quan: “cách cho hơn của mang cho”để thấy rõ hơn cái sức nặng trong tình cảm của tác giả với phu nhân. Đã đành, món quà đôi hoa tai không phải cái gì quá to tát nhưng cũng không phải thứ rẻ mạt hay phù phiếm mà nó vừa có giá trị như một món trang sức lại vừa có tính thiết thực như một chút của để giành. Đặc biệt là khi trao tặng món quà đó cho vợ, tác giả lại xót xa nghĩ về quá khứ xa xôi từ thuở yêu đến khi thành vợ chồng rồi có con có cháu tôi cũng chưa tặng được gì cho bà thì ta chợt hiểu rằng, tác giả thương và yêu vợ biết bao nhiêu. Ông không có quà tặng vợ không phải vì ông vô tâm, không nghĩ tới mà vì hoàn cảnh eo hẹp quá đấy thôi. Đọc tới đây tôi lại chợt nhớ đến những câu thơ ông viết về vợ mình trong ngày cưới:
Ngày nào tôi đến đón dâu 
Thấy bà trong chiếc áo nâu vải dầy
Thế rồi năm tháng đánh Tây
Áo nâu vá víu càng dầy càng thâm 
( Nét xuân về bà).
      
       Đúng là trải qua những năm tháng khốn khó vì nuôi mẹ dạy con, bà đã mỏi mòn, gầy guộc đi. Tấm áo nâu cũng ngày càng thêm thâm, thêm dầy lên vì nhiều mảnh vá. Nhưng không vì thế mà nghĩa phu thê nhạt nhoà, tình chồng vợ vơi bớt. Ngược lại, tình yêu thương của ông đối với bà ngày càng thêm đằm thắm đậm đà. Vừa nhận được chút tiền thưởng là ông nghĩ ngay đến vợ rồi mua quà tặng vợ. Cho nên: “ Tặng hoa tuy muộn nhưng sâu ân tình” và ông rưng rưng xúc động khi được trao tặng cho bà, được tri ân đối với bà, người đã từng cùng ông gánh vác chia sẻ mọi khó khăn gian khổ trong suốt bao năm tháng “ nuôi mẹ, dạy con”. Cho nên những câu thơ sau cứ tưởng như chuyển sang một mạch khác, tưởng như không ăn nhập gì với chuyện tặng quà mà lại thật đẹp, thật thắm thiết nghĩa tình:       
Lại thêm cái tết hoà bình
Tuy chưa nâng chén mà hình như say
Ngoài trời gió lộng mây bay
Hẳn là tiên nữ hôm nay xuống trần
Tiên nữ vui với táo quân
Còn tôi, tôi chỉ vui xuân cùng bà 
     Ở đây, ngôn ngữ thơ đã mất đi cái vẻ thật thà kể lể, cái tính chân thực trần trụi mà trở nên ảo diệu, mơ hồ như thực như hư để diễn tả niềm yêu, lòng say của tác giả đối với vợ mình. Hình như tác giả bỗng thấy vợ mình đẹp lung linh như tiên nữ vậy. Mà với tác giả, giờ đây tiên nữ có xuống trần đi chăng nữa ông cũng chẳng thèm để mắt tới, ông chỉ vui xuân cùng bà, tiên nữ của riêng ông thôi.Bài thơ không hề có một từ yêu, từ thương hay từ đắm say tha thiết nào mà đọc lên ta vẫn cảm nhận đủ đầy tình yêu niềm thương và lòng say mê, trân trọng của tác giả với người vợ tao khang. Có lẽ đây chính là tình cảm chân thành nhất mà tác giả luôn giành cho vợ trong suốt bao năm chung sống, giờ đã được chắt ra thành thơ nên vì thế mà bài thơ cứ tự nhiên gieo vào lòng độc giả những cảm xúc rưng rưng. 
      Trên đây là hai, trong nhiều bài thơ mà tôi thích của hai thi hữu xóm núi chúng tôi. Mỗi thi phẩm đều có một nét đẹp riêng, một phong cách sáng tác riêng.Tuy không bay bướm trong ngôn từ, không độc đáo trong cấu tứ nhưng cả hai thi phẩm đều tạo được dư ba trong lòng độc giả bởi cái mộc mạc, chân thật trong tình cảm và trong suy nghĩ của hai ông. Tôi viết vài cảm nhận của mình về hai tác phẩm đó coi như một nén tâm nhang bái biệt vong linh hai vị và nói với hai vị rằng thơ ca và tinh thần của các vị sẽ còn mãi trong lòng chúng tôi, những người bạn thơ thân thiết của các vị.

Sao Đỏ : 5-4-2018
Song Thu

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Tâm sự



Tôi là sư tiểu tại Thung Mây
Đun bếp quét chùa suốt ở đây
Thỉnh thoảng Thị Hồ ra lễ Phật
Tâm hồn sư tiểu lại phây phây…

Tâm hồn sư tiểu lại phây phây
Phấn chấn thăng hoa suốt mấy ngày
Đun bếp quét chùa quên cả mệt
Tôi là sư tiểu tại Thung Mây


29/05/2017
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2017

LAI LỊCH PHỐ BÈO


Ngày xưa hồ ấy vắng teo
Những năm có bèo lại hóa đông vui
Bà con xóm phố tới lui
Vớt bèo nuôi lợn nói cười râm ran
Phố Bèo từ ấy thành tên...

26/02/2017

Đ Đình Tuân



PHỤ CHÉP

"BÈO"- MỘT BÀI THƠ ĐẬM ĐÀ Ý VỊ


    Ngay sau nhà tôi có một cái đập lớn. Trước đây, khi còn hợp tác xã nông nghiệp, người ta cho đắp  con đập này để giữ nước nhằm cung cấp cho nhiều héc ta lúa của hợp tác. Đến khi  khoán Mười, con đập vẫn còn thực hiện đúng chức năng của mình. Nhưng từ ngày “ Mở cửa”, diện tích đất nông nghiệp phải thu hẹp lại. Nhiều héc ta lúa của nơi này bị quy hoạch hóa thành khu đô thị. Thế là con đập mất chức năng tưới nước cho ruộng đồng. Người ta lại cho đấu thầu nuôi cá. Nông dân khốn đốn vì mất ruộng còn mọi người ở xung quanh bờ đập thì nhiều phen cơ khổ vì phi vụ đấu thầu này. Bởi người trúng thầu giữ nước quanh năm nên nếu gặp trận mưa lớn là nước không tiêu kịp làm cho vườn tược ngập úng, không cây nào chịu được. Lại còn cảnh ô nhiễm nặng nề, mỗi khi cá chết hàng loạt thì mùi xú uế bốc lên nồng nặc thật kinh khủng. Năm nay  lại khổ vì nạn bèo. Bởi cái giống bèo tây (miền Nam gọi là lục bình ấy) sinh sản nhanh vô cùng. Mới hôm nào, trên đập nước mênh mông chỉ lơ thơ mấy đám bèo xanh ngắt, trông cũng đáng yêu. Sau vài trận mưa, bèo ken kín mặt nước, lá xanh, bông tím, đẹp ra trò. Nhưng người thả cá lại không thích cái đẹp đó của bèo vì nó phủ kín mít như thế thì còn đâu ô xy cho cá thở nữa. Thế là họ thuê người vớt bèo lên. Chao ôi, bèo chất như núi trên đường đi. Thật khổ cho người qua kẻ lại. Nhiều xe máy phải quay đầu tìm lối khác. Chính tôi cũng phải gửi xe ở nhà bên cạnh chứ không thể mang xe qua những núi bèo chết tiệt kia. Thế đã yên đâu. Còn cái mùi hôi của bèo và nước chảy qua cổng vào sân nữa mới thật là khó chịu. Vì thế, mấy hôm nay tôi ghét cay ghét đắng lũ bèo. Cho nên, hôm nay, vào blog Đỗ Đình Tuân, thấy bài “ Bèo”, tôi chắc mẩm là thể nào bác Đỗ cũng sẽ viết về nỗi bực mình với bèo như cảm giác tôi đang phải mang đây. Nào ngờ không đúng. Đó là một bài thơ ca ngợi nhiều vẻ đẹp của bèo rất chân thực nhưng lại tiềm ẩn nhiều ý nghĩa khá lý thú  Bài thơ ấy đây:

                                    BÈO…

Hồ nước sau nhà nay hóa sang
Hoa bèo phủ kín đẹp miên man
Kéo bè kết cánh nhanh hơn muống
Sắc thắm vẻ mềm chả kém lan
Gà mổ lợn ăn cho thỏa thích
Gió dồn sóng dập vẫn hiên ngang
Một lòng một dạ theo cùng nước
Còn nước còn tươi chẳng thấy tàn

14-9-2012
Đỗ Đình Tuân


     Quả là một bài thơ đường luật, thất ngôn bát cú đã chuẩn về niêm luật lại  không chút gò bó, cầu kì mà dân dã trong ngôn từ, tự nhiên trôi chảy trong mạch thơ. Tác giả  miêu tả chân thật, cụ thể về “Bèo”. Nào là sinh sôi nảy nở nhanh, gắn kết với nhau thật bền chặt “Kéo bè kết cánh nhanh hơn muống”; Lại có  sức sống mãnh liệt, chẳng hề khuất phục trước sóng cả gió to và còn là nguồn thức ăn vô tận cho lũ lợn đàn gà “Gà mổ lợn ăn cho thỏa thích/ Gió dồn sóng dập vẫn hiên ngang”;  Đã có dáng vẻ mềm mại lại có hoa đẹp  mê hồn “Sắc thắm vẻ mềm chả kém lan”  “Hoa bèo phủ kín đẹp miên man”. Tôi rất thích cụm từ “đẹp miên man” trong câu thơ trên. Vì nó không chỉ gợi  vẻ đẹp trải rộng ra mênh mông, kéo dài đến bất tận, một vẻ đẹp tưởng đến không cùng không dứt của bèo mà còn gợi cảm xúc thật thiết tha, thật mê đắm của thi nhân trước vẻ đẹp đó. Cứ tưởng như tác giả đang sà xuống mà ôm ấp, nâng niu rồi xuýt xoa thích thú vậy. Đúng là một cụm từ vừa chân thực, vừa mới lạ lại rất giàu sức biểu cảm!
       Một đặc điểm nữa của bèo được tác giả miêu tả rất giỏi trong hai câu kết bài :
 Một lòng một dạ theo cùng nước
Còn nước còn tươi chẳng thấy tàn
      Đúng là loại bèo tây này sống chết cùng với nước thật. Nếu cứ ở dưới nước thì chúng chẳng bao giờ chết. Nhưng chỉ cần tách khỏi môi trường nước là chúng: hoặc chết khô héo tóp, khi bị tản ra, phơi ra; hoặc sẽ thối nhũn nếu bị ấp lại, ủ vào. Nghĩa đen là như vậy, cố nhiên rồi. Nhưng tôi muốn nói đến cái nghĩa bóng, ẩn đằng sau câu chữ của bài thơ, cái ý nghĩa mà khi đọc bài thơ khiến ta liên tưởng tới. Đó là hình tượng nhân dân, hình tượng đất nước. Liệu có đúng chăng, khi đọc bài thơ này, tôi cứ thấy vẻ đẹp của nhân dân, sức sống của nhân dân, sức mạnh của nhân dân cũng như sự gắn bó sống chết của nhân dân với đất nước non sông?
     Trong thơ văn xưa nay, đã nhiều người sử dụng hình ảnh bèo để nói tới thân phận nổi trôi, lênh đênh, phiêu dạt của con người:
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân
                                                                ( Kiều- Nguyễn Du)
       Hay:
Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh
                                                              ( Bèo- Phùng Cung)
  Nhưng tôi chưa  thấy ai ca ngợi vẻ đẹp của bèo như tác giả Đỗ Đình Tuân. Vì thế, với tôi, bài thơ trên của bác Đỗ đúng là một khám phá mới lạ. Rất chân thực và rất đậm đà ý vị.

Sao Đỏ: 15-9-2012
Vũ Thị Song Thu

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

THƠ NGUYỄN THỊ NGỌC THÚY

  Ngọn lửa đốt cháy mình và đốt cháy những người khác
 
                                           Lời Bình:Tạ Anh Ngôi
    Nguyễn thị Ngọc Thúy là người thơ.Chị yêu thơ và sống vì thơ.Chị yêu thơ đến độ cuông nhiệt,nhiều khi quên cả mình:
                  Rượu thơ mình lại với mình
                  Khi say quên cả cái hình phù du
                                             (Tản Đà)
    Nói như thi sĩ Tản Đà thì Nguyễn Thị Ngọc Thúy là Người Thơ đích thực. Chị có một tâm hồn thật phong phú, hoàn cảnh nào chị cũng nuôi dưỡng cho mình có được cảm xúc thơ và thơ lại đến với chị, đến với mọi người thật tự nhiên, dung dị nhưng không kém phần sâu lắng:
                   Bâng khuâng lạc giữa trang thơ
                    Bước chân lữ khách ngẩn ngơ…lối về
                                    (Tưởng nhớ thi sĩ Nguyễn Bính)
    Chị có duyên với thơ tình. Hình như những mất mát của cuộc đời chị đã nhen nhóm cho chị có những câu thơ rừng rực lửa, đốt lên những khát khao cháy bỏng tình yêu lứa đôi:
                 Nhà bên hú hí-Nao nao dạ
                 Ngõ trước xôn xao –Chạnh chạnh lòng
                                                (Nhớ chồng)
    Chị nói với Thị Mầu hay là nói với chính lòng mình:
                   Lần theo tiếng mõ nhặt thưa
                   Ngẩn ngơ như nuốt phải bùa vậy sao?
                                                    (Mầu Ơi )
    Nhìn đào cúc đơm hoa chị chạnh lòng nhớ đến thục nữ đơn côi nơi lều tranh. Chị ngẩn ngơ bên dòng sông Đào quê anh:
                     Câu thơ tình gối bãi
                     Thả hồn vào gió trăng
                                            (Đôi Dòng )
    Đi dự một buổi sinh hoạt giao lưu về, chị cũng thao thức suốt đêm để mà nhớ, mà thương…người dưng !
               Bâng khuâng thức suốt đêm dài
               Núi Găm đêm ấy nhớ hoài…người dưng !
                                                     (Đêm Núi Găm)
    Đọc tập thơ :”Bao Giờ…Lại Đến…Bao Giờ”của Nguyễn Thị Ngọc Thúy, tập thơ thứ 3 sau tập”Thơ và em” NXB Lao Động năm 2007 và tập thơ “Trăng Khuyết” NXB Thanh Niên năm 2008, tôi mới thấy hết sự mẫn cảm, tinh nhạy của chị. Với những câu thơ dung dị, không cầu kỳ mòn xáo, thơ chị đã chạm vào vùng nhạy cảm của tâm hồn, của trái tim người đọc, làm rung lên sự rung cảm đồng điệu:
                  Vô tình ngọn gió sớm mai
                   Cứ vu vơ thổi…thổi hoài bờ thương…
                                (Bao Giờ Lại Đến Bao Giờ )
    Những câu thơ thật da diết, đằm thắm nhưng giàu biểu đạt. Tuy nhiên, mảng thơ Đường luật trong tập thơ: ”Bao Giờ Lại Đến Bao Giờ” mới thực sự vẽ lên chân dung thơ của Nguyễn Thị Ngọc Thúy.
    Chúng ta ai cũng biết, để có một bài thơ hay đã khó. Nhưng để có được bài thơ Đường hay thì lại càng khó hơn. Bởi vì, thơ hay nói chung chỉ cần có tứ lạ, lời hay; ý tình cảnh sự mang sắc thái, hương vị riêng và được thể hiện bằng những lời tinh diệu là đủ. Nhưng để viết được bài thơ Đường luật hay, ngoài tiêu chí chung của một bài thơ còn phải đạt được những tiêu chí riêng rất khắt khe của thể thơ Đườngluật. Đấylà: Niêm, luật, vần, đối và hàng chục điều cấm kỵ khác. Với 56 từ ngữ, người nghèo cảm xúc, thiếu kiến thức thì không thể chuyển tải được hết ý, tình của mình vào thơ, chưa thể nói đến thơ hay, hay không hay.
    Tập thơ: ”Bao Giờ Lại Đến Bao Giờ” có 87 bài thơ các thể loại (Không kể 22 bài thơ họa và 3 bản nhạc phổ thơ)
Đã có tới 50 bài thơ Đường luật. Đọc thơ Đường luật của Nguyễn Thị Ngọc Thúy, tôi thấy mình đã bị mê hoặc bởi những câu thơ Đường luật giản dị nhưng sống động, tràn đầy nhựa sống và cháy bỏng tình yêu lứa đôi:
                      Bỗng thấy chiều nay rối rối lòng
                      Hình như người ấy vẫn còn mong
                      Đã trót gửi trao niềm khát vọng
                      Vậy nên thấu hiểu cảnh cô phòng
                                      (Hẹn mùa hoa phượng)
              Hay:  Đố ai tìm được lá diêu bông
                        Mai mốt rồi em sẽ lấy chồng
                        Quán lá chông chênh khơi lửa ấm
                         Lều tranh trống trải ủ than nồng
                                                       (Đố Ai )
    Những câu thơ Đường đăng đối nhưng thật giàu cảm xúc, chân thực và bỏng cháy một nỗi khát khao như thế, người đọc sẽ còn gặp ở nhiều bài thơ Đường khác trong tập thơ.
    Nguyễn Thị Ngọc Thúy chịu nhiều trắc trở, mất mát trong cuộc đời. Chị đã từng dạy học, từng có chồng con và gia đình yên ấm. Nhưng nay những điều đó chỉ còn là một vùng ký ức. Chị sống một mình và bươn chải với chếc quán lá nghèo nàn bên bờ sông Vĩnh Trà, thành phố Thái Bình nơi quê ngoại của chị. Khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng may thay, tình thơ đã níu giữ và chắp cánh tâm hồn để chị thêm vững bước trên cuộc đời này.
                   Mưa rơi lắc cắc ở bên thềm
                   Gió bắc lao xao lạnh buốt thêm
                   Lách cách chạm say từ chập tối
                   Rì rầm tán gẫu tới tàn đêm
                   Bập bùng ánh lửa thêm nồng ấm
                   Lai láng tình thơ thấy dịu êm  
                   Ý hợp tâm đầu vui tái ngộ
                   Mới hay cuộc sống biết bao niềm…
                                          (Dịu Êm )
    Một bài thơ Đường đã dùng tới 6 cặp động từ ghép liên tiếp, nhưng khi đọc lên, câu thơ vẫn thanh thoát, lời thơ vẫn mượt mà, ý thơ lại sâu lắng và hàm chứa cảm súc. Viết được như vậy,người viết không những phải có một ”ngân hàng” ngôn ngữ thật phong phú, mà còn có một ”Kỹ thuật” thật vững vàng.
    L.TỖNXTÔI đã từng nói:”Thơ là ngọn lửa nhen lên, đốt cháy,sưởi ấm và soi sáng lòng người. Nhà thơ chân chính là người dù không muốn, vẫn phải chịu đau đớn, vẫn phải đốt cháy mình lên và đốt cháy những người khác…”
    Đọc tập thơ “Bao Giờ Lại Đến Bao Giờ”, Người đọc bắt gặp người thơ Nguyễn Thị Ngọc Thúy sắc sảo trong cách nhìn, cách cảm, cách đánh giá sự việc, để cảm xúc NGƯỜI thực sự trỗi dậy, xuyên thấm vào sự vật và hiện tượng đời sống, làm tăng lên những va đập, những rung cảm đến tận đáy sâu tâm hồn mình và bạn đọc. Đấy là những câu thơ ”Đã đốt cháy mình lên và đốt cháy những người khác…” của nữ tác giả - Người thơ Nguyễn Thị Ngọc Thúy vây .
                              Nhân Hưng, 24h ngày 4-6-2010
                                             Tạ Anh Ngôi

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

MỘT NÉT TÂM TRẠNG THU

 


Trong lúc thơ được "ra lò" một cách ào ạt như hiện nay, nhiều người đọc có tâm lý quay lưng lại với thơ. Bởi vì đọc thơ cứ thấy nhàn nhạt, cứ thấy chuội đi, không để lại cái gì. Thảng hoặc mới bắt gặp một bài thơ để người đọc có thể dừng mắt lại trên trang giấy, để rồi: "Ồ đây rồi, ở đây có một tâm trạng". "Tản mạn thu" của Hà Cừ (đăng trên tạp chí Văn nghệ Hải Dương số tháng 9-2016) là một bài thơ như thế.

Mở đầu bài thơ là một phản ứng tâm lý rất tự nhiên trong cuộc sống: "giật mình!". Phản ứng này xảy ra chỉ trong khoảnh khắc, nhưng nhiều khi lại mở đầu cho một trạng thái suy tư, cảm xúc. Trong văn học Việt Nam, chúng ta đã từng thấy cái "giật mình" tạo nên thi tứ diệu kỳ qua bài thơ "Sông lấp" của Tú Xương. Với Hà Cừ ở bài thơ này, người đọc cũng bắt gặp trạng thái có gì đó giống như vậy. Và cũng như Hữu Thỉnh, khoảnh khắc "Sang thu" dường như cũng rất bất ngờ: "Bỗng nhận ra hương ổi/Phả vào trong gió se/Sương chùng chình qua ngõ/Hình như thu đã về". 
Mùa thu về là sự trở lại của thời gian, của không gian luân hồi theo quy luật của tự nhiên. Nhưng mùa thu nay trở lại trong sự thảng thốt của tác giả trước những đổi thay. Bây giờ không còn là mùa thu của "thời trẻ dại" với những "Hoa cúc vàng và bướm trắng nhởn nhơ", cũng "Không phải mùa thu đầy ắp ước mơ/Thuở trong vắt với cái nhìn lấp lánh/Trời đầy sao, vầng trăng tròn vành vạnh/Bốn phía nhìn đâu cũng thấy non tơ...". Hồi ức thu xưa được nhắc đến không phải để hoài niệm, luyến tiếc, mà được nhắc đến trong sự đối sánh trước những đổi thay phũ phàng của thực tại. Thu nay đã khác, không phải thu xưa, cũng không phải "mùa thu năm ngoái". Câu thơ như dự báo một điều gì mới mẻ, lời dừng mà ý không dừng!
Với 6 khổ thơ tiếp nối 2 khổ đầu, Hà Cừ muốn gửi gắm vào đây nỗi niềm của hôm nay. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là ở chỗ này: "Mùa thu nay bao biến đổi không ngờ". Nói đến mùa thu, thi liệu thì vẫn thiên nhiên xưa cũ với "gió lặng", "trời xanh", "mây trắng"... Nhưng cái hiện hữu bây giờ không còn cái trong trẻo của đất trời, cái hồn nhiên của lòng người. Cảnh vật hiện lên đầy trắc ẩn: với những mây trắng mùa thu "bay thảng thốt cuối chân trời", còn gió thu thì "hoang hoải thổi nỗi buồn xao xác", dòng sông thu "như thiếu phụ xa chồng", cánh diều "đơn côi bay về phương trời lạc"... Đến cái cao xanh là một nét đẹp đặc trưng của trời thu giờ đây cũng không gợi mỹ cảm nữa mà rập rình hiểm nguy: "Trời xanh thẳm một màu xanh không đáy". Nhìn thiên nhiên trong cái giác quan bị chi phối bởi tâm trạng nên lòng người thấm đượm nỗi buồn, đầy lo âu, trắc ẩn. Những nỗi buồn nhiều cung bậc đan xen trong mấy khổ thơ: có nỗi buồn riêng cá nhân của sự chia xa với một người qua câu thơ phiếm chỉ: "Mùa thu này em đã quá xa xôi", có nỗi buồn vì tuổi tác: "Mái đầu xanh xổ bạc tự bao giờ?", có nỗi buồn lo toan "Mưa nắng, lo toan, nỗi niềm nặng trĩu", có nỗi buồn của sự cô đơn: "Mùa thu nay lòng trống rỗng mông lung" và trên hết là nỗi buồn thời cuộc "Sáng, tối đan chen phấp phỏng từng giờ": 
"Mùa thu nay bao biến đổi không ngờ
Gió lặng phắc, trời nồng như đổ lửa
Những bất trắc, dị thường như cơm bữa
Biển chừng im, sóng xô trắng bãi bờ..."
Không buồn sao được khi bao thảm họa bất trắc đang rình rập, những giá trị xã hội ngày hôm nay đang bị đảo lộn, môi trường ô nhiễm, cái ác lên ngôi, lòng người vô cảm, thời cuộc rối ren...Vậy mà kẻ mang danh vững vàng, lạc quan lại chính là cơ hội, kẻ muộn phiền lại chính là người có lương tâm, trách nhiệm với đời. Tâm trạng trước "Thu nay" của Hà Cừ có thể nói được cho nỗi niềm của nhiều người trong cuộc sống hôm nay. Có những nỗi buồn không gọi được tên nhưng chính nó lại nâng nhân cách con người lên! 
Với nhiều cung bậc cảm xúc, có khi thì định hình, có khi không định hình, khi ý thức được, khi không rõ ràng tường minh... tạo thành phức điệu trong tâm trạng, nội dung trữ tình làm nên vẻ đẹp của bài thơ. 
Không phải ngẫu nhiên mà Hà Cừ lại đặt cho bài thơ cái tên "Tản mạn thu"! Cái trực giác, trực cảm về "mùa thu nay" được tác giả láy đi láy lại qua các cụm từ có cùng trường nghĩa: "Mùa thu nay", "Một mùa thu hiện hữu", "Thời khắc này"...như thể nhấn mạnh, như thể bộc bạch cảm xúc một cách rất tự nhiên. 
Bài thơ được kết với cách kết của thơ truyền thống, có vẻ như "đóng" nhưng không gượng, làm cho tứ thơ có tầm khái quát cao:
Thời khắc này đâu phải cho thơ?
Lòng như muối cồn lên bao đắng chát
Nâng mùa thu trên tay - ly rượu nhạt
Bạn cùng ta chia sẻ giữa thu này! 
Hình ảnh thi nhân ở cuối bài thơ: "Nâng mùa thu trên tay- ly rượu nhạt/Bạn cùng ta chia sẻ giữa thu này" gợi lên phong vị cổ kính của bài thơ mà vẫn hiện đại trong cảm xúc trữ tình. 
"Tản mạn thu" là nỗi niềm thế sự của con người biết lo đời, đau đời trước thời cuộc, được thể hiện bởi cây bút thơ giàu cảm xúc với cách thể hiện nhẹ nhàng, tinh tế và nhiều trải nghiệm, đáng để người đọc suy ngẫm. 

Tản mạn thu

Anh giật mình
Gặp lại mùa thu
Nhưng không phải mùa thu năm ngoái
Cũng không phải mùa thu cái thời trẻ dại
Hoa cúc vàng và bướm trắng
                                             nhởn nhơ...

Không phải mùa thu đầy ắp ước mơ
Thuở trong vắt với cái nhìn lấp lánh
Trời đầy sao, vầng trăng tròn vành vạnh
Bốn phía nhìn đâu cũng thấy non tơ...

Mùa thu nay bao biến đổi không ngờ
Một mùa thu hiện hữu
Một mùa thu gánh gồng nặng trĩu
Mây trắng bay thảng thốt cuối chân trời.

Mùa thu này em đã quá xa xôi
Gió hoang hoải thổi nỗi buồn xao xác
Cánh diều đơn côi bay về phương trời lạc
Dòng sông thu như thiếu phụ xa chồng.

Mùa thu nay lòng trống rỗng mông lung
Trời xanh thắm một màu xanh không đáy
Lá vàng rơi như nghìn năm vẫn vậy
Mái đầu xanh xổ bạc tự bao giờ?

Mùa thu nay không phải trong mơ
Một mùa thu hiện hữu
Mưa nắng, lo toan, nỗi buồn nặng trĩu
Sáng, tối đan chen phấp phỏng từng giờ.

Mùa thu nay bao biến đổi không ngờ
Gió lặng phắc, trời nồng như đổ lửa
Những bất trắc, dị thường như cơm bữa
Biển chừng im, sóng xô trắng bãi bờ...

Thời khắc này đâu phải cho thơ?
Lòng như muối cồn lên bao đắng chát
Nâng mùa thu trên tay - ly rượu nhạt
Bạn cùng ta chia sẻ giữa thu này!
 
                            Thơ : HÀ CỪ
                                                                       Lời bình: CẢNH THỤY
                                                                       (Song Thu sưu tầm)