Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tô Hà giới thiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tô Hà giới thiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

MỘT THỜI NHỚ MÃI

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, bộ vét
Bài viết của anh Nguyễn Văn Quang - Thầy thuốc ưu tú, Giám đốc Bệnh viện Thể thao Việt Nam, 
Trí thức xuất sắc thời kì đổi mới, cựu học sinh khóa 1970-1973 Cấp III Chí Linh
       Đó là thời lứa chúng tôi, những học sinh Khóa 5 (1970 – 1973) Trường Phổ thông Cấp 3 Chí Linh cùng đất nước trải qua những mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
       Đó là thời chúng tôi, những cô bé, cậu bé 14, 15 tuổi rời trường cấp 2 của xã tập trung về trường huyện - ngôi trường cấp 3 duy nhất của huyện lúc đó. Bao bỡ ngỡ, bao lạ lẫm với trường mới, thầy cô mới, bạn mới và những bài học mới, chúng tôi đã từng bước trải qua tuổi hoa niên đẹp nhất của đời người.
      Đó là năm học đầu tiên trường được chuyển từ thôn Đồi Thông, xã Chí Minh lên thị trấn Sao Đỏ. Từ khu nhà hiệu bộ, nhà tập thể của các thầy cô đến các lớp học đều là nhà cấp 4, nằm dưới những tán lá của rừng cây bạch đàn xanh mướt quanh năm. Nhiều ngôi nhà được đắp lên bằng đất mà không phải xây bằng gạch, các thầy cô chưa ai có nhà riêng, đều sống ở tập thể, tuổi đời các thầy cô rất trẻ, chủ yếu là 22- 25 tuổi. Khu tập thể của thầy cô thật đơn sơ nhưng trong lòng các thầy cô đầy ắp niềm vui về ngôi trường mới, về lứa học trò chúng tôi. Lòng yêu nghề, yêu trò đã giúp thầy cô vượt qua bao khó khăn mang đến cho chúng tôi những bài giảng sống động, thắp lên trong mỗi chúng tôi những ước mơ hoài bão mà sau này chúng tôi đã thực hiện. 
       Đó là khóa học mà Trường Cấp 3 Chí Linh xây dựng và khánh thành ngôi nhà 2 tầng đầu tiên. Chúng tôi được tham gia lao động từ khi đào móng, lấy cát, lấy sỏi trên đồi. Sau 3 năm xây dựng, khu nhà 2 tầng to và đẹp nhất huyện lúc đó được hoàn thành. Học kỳ 2 lớp 10, chúng tôi là những học sinh đầu tiên được đặc cách lên học tại tầng 2 của ngôi nhà ấy.
       Đó là thời rất khó khăn về kinh tế. Lương các thầy cô rất thấp, chỉ 40-60 đồng/ tháng; gạo chỉ có 13 kg/tháng nhưng phải ăn độn bằng hạt bo bo, bột mì, ngô hay sắn khô; phiếu mua thịt lợn mỗi tháng chỉ có 0,5 kg, muốn có 1 kg thì phải đổi bằng chân giò, xương hay mỡ lá; phiếu đường cũng chỉ có 0,5 kg/tháng; phiếu mua vải phân phối 5 mét một năm, muốn mua vải màu theo ý của mình cũng khó, hầu như ai cũng có những bộ quần áo phải bích kê ở gối, mông quần hay vai áo. Nhiều thầy cô chưa có xe đạp để đi lại.
       Đó là thời gần một nửa các bạn học sinh đi học xa nhà từ 5 - 10 km phải đi bộ hay đi nhờ xe của bạn. Vở viết toàn giấy đen, thậm chí không có dòng kẻ mà cũng chẳng đủ. Mực viết lúc xanh, lúc tím. Bút máy Trường Sơn phải mài ngòi, ai có được cây bút Kim Tinh ngòi bút trơn thì thật là xa xỉ. Sách giáo khoa không bao giờ có đủ cả bộ cho mỗi người, chúng tôi phải mượn nhau để học. Học xong lớp 10 sách đã được các em lớp 9 xin hết, chuẩn bị thi đại học không có sách lại phải mượn lại để xem. Thời ấy không có khái niệm ôn thi đại học, đến ngày thi là cứ việc thi, thật là nhàn nhã so với học sinh bây giờ.
       Đó là thời cả nước dồn sức cho những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Bao lớp thanh niên lên đường ra trận. Khóa chúng tôi vào lớp 8 có 4 lớp với hơn 200 bạn học sinh, lên lớp 9 còn 3 lớp, lên lớp 10 chỉ còn 2 lớp và 62 bạn. Phần lớn sĩ số lớp giảm là do các bạn đi bộ đội, 100 % nam học sinh viết đơn tình nguyện xung phong tòng quân. Nhiều bạn chích máu viết “ huyết tâm thư” được nhà trường biểu dương. Một năm có tới 3 đợt tuyển quân, hầu hết các bạn đủ 17 tuổi, nặng 40 kg và đủ sức khỏe là lên đường nhập ngũ. Những buổi tiễn bạn tòng quân bao lưu luyến. Đợt tuyển quân tổng động viên năm 1972, sân trường xanh màu áo lính. Các thầy, các bạn đều trở thành chiến sĩ, đều là lính binh nhì. Cho đến bây giờ, “Tiểu đoàn Trần Hưng Đạo” vẫn mang đậm dấu khóa học 1970 - 1973 của Trường cấp 3 Chí Linh cũng như của huyện Chí Linh.
       Đó là thời B52 Mỹ rải thảm bom Hà Nội khi chúng tôi đang học cuối kỳ 1 của lớp 10. Những đêm Điện Biên Phủ trên không, từ Sao Đỏ nhìn về Hà Nội đạn lửa đỏ trời. Những ngày ấy chúng tôi phải nghỉ học, sơ tán về thôn Chi Ngãi, xã Cộng Hòa và thôn Nội, xã Tân Dân. Chương trình học lớp 10 bị gián đoạn nên năm học kéo dài đến 30/7 mới thi tốt nghiệp, 15/8 thi Đại học. Năm học cuối cấp lớp 10 cũng là thời điểm Hiệp định Paris về chiến tranh Việt Nam được ký kết và có hiệu lực.
       Đó là thời những ngày đêm ôn thi tốt nghiệp trong rừng bạch đàn. Chưa có điện thắp sáng, những ngọn đèn dầu lung linh trong tán lá bạch đàn và trên hành lang nhà 2 tầng thật đẹp… Những buổi phụ đạo của các thầy cô, không phụ cấp, không học phí … mà thầy cô vẫn tận tụy hết lòng, tất cả vì học sinh thân yêu.
Đó cũng là thời “ Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Không có quỉ và ma, chỉ có lũ học trò nghịch ngợm chúng tôi với bao kỷ niệm không thể nào quên, với bạn bè, với các thầy cô giáo. Nhiều bạn tinh nghịch làm các thầy cô không hài lòng. Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Văn Hải bây giờ vẫn nhắc: “Khóa học 1970 - 1973 là khóa học có nhiều dấu ấn đặc biệt của Trường”.
       Đó cũng là thời chúng tôi bắt gặp trái tim mình lỗi nhịp với những rung động đầu đời. Bạn trai bạn gái bắt đầu để ý đến nhau. Thời đó thích nhau mà nói trực tiếp thật là khó, thật là tiểu thuyết. Thế là những quyển sách, quyển vở được trao đi trả lại, kèm theo những lá thư tỏ tình mộc mạc, ngây ngô. Thật là thú vị khi những bức thư đó lại là sản phẩm trí tuệ chung của cả nhóm bạn trai hay nhóm bạn gái viết. Thú vị hơn là ngườì nhận thư cứ tưởng chỉ có mình được đọc những dòng ngọt ngào say đắm ấy…
       Đó là thời hầu hết bạn trai nhập ngũ, kể cả các bạn thi đỗ đại học. Các bạn gái học tiếp trung cấp hoặc đại học. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các bạn trai mới tiếp tục con đường học tập của mình.
       Đó là một khóa học có nhiều bạn thành đạt trên nhiều lĩnh vực công tác của xã hội như: khoa học, chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, xã hội, văn học nghệ thuật, y tế, giáo dục… Có 2 bạn được Chủ tịch nước tặng danh hiệu: Thầy thuốc ưu tú và nghệ sĩ ưu tú; có 3 bạn là cán bộ cấp cục, vụ, viện; 3 bạn cấp hàm đại tá, 1 bạn là Chủ tịch huyện, 1 bạn là Phó Bí thư huyện ủy, 5 bạn là trưởng ngành của huyện...nhiều bạn là doanh nhân, nông dân sản xuất giỏi. Khóa học của chúng tôi cũng có 5 bạn là anh hùng liệt sỹ đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
       Mang dấu ấn một thời kỳ lịch sử của đất nước, 3 năm học cấp 3, dưới sự dạy dỗ của các thầy cô giáo, chúng tôi dần khôn lớn. Các thầy cô không chỉ truyền dạy cho chúng tôi những kiến thức phổ thông cơ bản mà còn là những tấm gương sáng về nhân cách. Những bài học ấy, những nhân cách ấy đã dạy chúng tôi trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội.
       43 năm đã trôi qua từ mùa hè 1973, chúng tôi - học sinh Khóa 5 Trường Phổ thông Cấp 3 Chi Linh đã lần lượt nghỉ hưu sau những tháng năm học tập và lao động. Mỗi người một con đường số phận, nhưng tất cả chúng tôi đều mang trong ký ức của mình một thời tuổi hoa đẹp đẽ. Chúng tôi vẫn họp khoá mỗi năm một lần để thấy nhau già đi mà vẫn không thể quên thuở ban đầu học tại Trường Cấp 3 Chí Linh, để tự hào nói với nhau rằng: chúng tôi không phụ công ơn dạy dỗ của các thầy cô, đã trở thành những người có ích cho quê hương đất nước.
       Và trong tim mỗi chúng tôi, ngôi trường ấy mãi là một mái ấm yêu thương!
                                           
                                                     Hà Nội, tháng 5- 2016.

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

GẶP MẶT TRIANCUOCĐƠI 2018


       Theo quyết định của lần gặp trước, TRIANCUOCĐỜI 2018 được Xóm Hà Nội đăng cai tổ chức. Địa điểm được chọn là thị trấn Vân Đình, quê hương của vợ chồng Đỗ Đăng Biên - Hồng Huệ. 
       Địa điểm mới, cung đường mới, Xóm Nam và Xóm Chí Linh náo nức về thủ đô. Sự chuẩn bị chu đáo và đón tiếp tận tình của vợ chồng Đăng Biên - Hồng Huệ đã đem lại kết quả mỹ mãn cho cuộc gặp mặt TRIANCUOCĐƠI 2018.
         Hươu Sao copy một số hình ảnh trên FB TRI ÂN CUỘC ĐỜI để làm ấm lại Xóm Trian.
       Trân trọng giới thiệu.       


CHÀO HỔI VÀ TỰ GIỚI THIỆU - Ảnh: Đỗ Đăng Biên









Ảnh: Nguyễn Khắc Nguyệt










LÂU GẶP QUÁ CHUNG LY NÀY MỪNG NHAU -
Ảnh: Đỗ Đăng Biên









NGƯỜI TÔI YÊU DO Lan Anh Dao BIỂU DIỄN - Ảnh: Đỗ Đăng Biên











NHỮNG HÌNH ẢNH ĐẸP NHẤT GẶP MẶT TRI ÂN 2018
Ảnh: Đỗ Đăng Biên






Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

CHÒM SAO TUA RUA HY VỌNG

Lời giới thiệu của Tô Hà: 
Mạc Yên là FB của một người học Khoa Văn với Hươu Sao. Anh có nhiều bài viết sâu và hóm, rất thực. Hươu Sao xin giới thiệu một bài viết của anh để mọi người cùng đọc. 
Trong hình ảnh có thể có: 11 người, mọi người đang cười
                                       TẤM ẢNH CÓ HAI THẰNG TRỐN LÍNH (Mạc Yên)
     Nhớ 46 năm trước mặc áo lính lên đường, tôi lại nhớ ngày khám tuyển nghĩa vụ, nhớ cu Theo - thằng bạn nối khố, nhớ đêm nằm đếm chòm sao Tua rua hy vọng.
     Vào những ngày đầu hè 1971, khi chúng tôi “chưa ráo máu đầu” trong đời sinh viên, tức là vẫn sống như còn là những cậu học trò ngốc nghếch của giảng đường đại học, chúng tôi đã có lệnh chuẩn bị đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Hình như khi đó chiến dịch Đường 9 –Nam Lào ta đánh không ngon lắm, sang tới năm 1971, chiến trường càng thiếu nhiều quân. Đám thanh niên 17, 18 tuổi sinh viên như chúng tôi không ra trận thì còn ai ra trận. Nhưng đang ở cái tuổi này, lại học ở cái khoa Văn Tổng hợp này mà phải bỏ dở thì tiếc lắm. Nghe các thày Đại học giảng đang hay, mà Hà Nội cũng đang hay. Từ quê ra tỉnh, lần đầu tiên tôi biết mùi kem Bờ Hồ. Kem thủ đô nhuốt vào mát lạnh đến tận ngón chân. Đường Hà Nội thì chỗ nào cũng rải nhựa, cứ chân trần mà bước, hơi nhựa mát từ gan bàn chân lên đến tận đỉnh đầu. Sướng quá, "như đi Liên Xô". Tiếng súng chiến trường chưa vọng tới. Hà Nội thanh bình, đi đâu cũng thấy cỏ dại, cây xanh. Vì chưa chết bao giờ nên tôi không sợ chết. Tôi mới 17 tuổi, nhưng lại khai sinh thành 18. Tôi chỉ thấy tiếc học, tiếc lắm ! Giá được học thêm năm nữa, cho tròn 18, cao hơn chút nữa rồi ra trận vẫn hơn. 
       Đêm trước ngày đi khám tuyển quân sự, tôi buồn. Nhắm chặt mắt, cố ngủ mấy lần không được, tôi đành kéo chiếc chiếu lên sân thượng nhà cao tầng, nằm đếm sao, chờ sáng. Tôi nằm được một lúc thì nghe có tiếng giây thép chống sét cột thu lôi rung rinh trong gió. Có bóng người đến gần. Tôi hắng giọng, báo hiệu để người lạ ấy tránh ra, không dẵm vào mặt chiếu tôi nằm. “H đấy à ?”. Tôi nhận ra giọng thằng cu Theo, người Thái Nguyên, có biệt danh là “Theo Bi”, vì mặt mũi, tai mắt mọi thứ đều tròn. Nghe tiếng Theo thở dài buồn buồn, tôi đoán ngay là Theo đang nghĩ đến chuyện ngày mai đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Tạng người đầy đặn, khỏe mạnh như Theo, như tôi, khám là trúng nghĩa vụ ngay. Tôi hỏi thật: “Theo này, mày có thích đi không?”. Theo trả lời còn sâu hơn sự thật: “Mày hỏi rất thừa. Quan trọng lúc này là có cách nào khám trượt, ở lại học thêm năm nữa hẵng đi.” 
       Theo ngồi xuống chiếu bàn bạc với tôi các kiểu gian lận khi khám sức khỏe. Thật ra, tôi đã trốn đi khám nghĩa vụ một lần, năm học lớp 10, nhưng vì thiếu chiều cao, bị loại. Nhưng cũng nhờ chuyến đi khám ấy, tôi nghe lỏm được khối chuyện ăn gian lúc khám. Tôi huy động trí nhớ, kể cho Theo nghe các bài trốn lính. Theo cũng hào hứng kể ra hàng loạt mưu mẹo. Mưu để tăng cân, tăng chiều cao cho đắt lính thì nhiều, nhưng mưu làm giảm cân, làm lùn người thì quá khó. Nghĩ mãi, nghĩ mãi, cuối cùng hai chúng tôi thấy chỉ có cách ăn gian bằng con đường tim mạch, huyết áp. Nghe nói, cà phê, thuốc lá là hai thứ dễ làm loạn nhịp tim. Nếu uống cà phê, đặc biệt là uống cà phê hòa với tàn thuốc lá thì tim đập rất mạnh, giống như người bị bệnh. Hai chúng tôi thấy phương án đó rất hay, kín đáo mà sạch sẽ. Hiềm một nỗi, cả hai chúng tôi đều không biết uống cà phê, cũng chẳng biết hút thuốc để lấy tàn. Đặt điếu thuốc vào môi là tôi ho liền. Mà ho thì dễ lộ, có người phát giác báo chuyện ấy cho ông Bùi Đắc Ngôn – lớp trưởng, thì có khi bị đuổi học, thậm chí đi tù chưa biết chừng. 
       Tôi và Theo vò đầu, bứt tai, cuối cùng vẫn đi đến một quyết tâm lớn: Không biết hút, sợ ho thì cứ bật diêm đốt thuốc cho cháy ra mà lấy tàn. Cà phê có đắng đến mấy, đắng như thuốc độc, cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà uống. Vì sự nghiệp học hành, không có con đường nào khác (!) Vậy thì hai đứa chúng ta phải đi khám thật sớm. Đến cách bệnh viện khám khoảng 200 mét, ta sẽ tìm một quán cà phê, chui vào, tiến hành pha chế. Để đảm bảo bí mật và có đủ thời gian cho thứ thuốc độc đó ngấm ngáp vào mạch máu, có công hiệu, mọi việc phải được tiến hành lúc 5 giờ sáng, khi chưa rõ mặt người. Theo ngáp một cái rồi nhắc nhở tôi: “ Chuyện đại sự thế này, phải tranh thủ ngủ đi, mai dậy sớm, hành động cho tỉnh táo và giữ được bí mật”. Tôi bảo: “ Tao chả ngủ được đâu. Mày ngủ đi, khoảng bốn giờ tao gọi dậy”. “Mày có đồng hồ ?”. “Không có”. “Vậy thì lúc nào mày thấy chòm sao Tua rua xuống ngang đầu cột thu lôi thì gọi tao dậy. Ngang đầu cột ấy là quãng 4 giờ, giờ Dần, đẹp đấy. Ta sẽ đi bộ, hoặc quá lắm là nhảy chuyến xe điện đầu tiên”.
        Nghe Theo nói thế, tôi phục hắn lắm. Uyên bác, tác phong dứt khoát, lại khỏe mạnh như hắn, cứ vào bộ đội, đánh nhau, có khi lên đến Đại tá, trốn lính ở lại một năm làm gì… 
       Tôi nằm lơ mơ, nhìn bầu trời sao. Bên hông tôi, Theo nằm ngáy vang như sấm. Nghĩ đến hành động gian lận, đen tối ngày mai, tim tôi đập loạn xị như người bị bệnh. Chòm sao Tua rua trên nền trời thăm thẳm kia cứ nhấp nháy, rung rinh. Biết đến bao giờ nó mới ngả đến đầu cột thu lôi, như lời cu Theo này dặn. Tôi thấy mỏi mắt và hơi hơi nhức đầu. Chòm sao mờ dần rồi lặn sâu vào mắt... 
       Tôi giật mình tỉnh giấc vì có người đá vào chân, gọi dậy. Theo cũng chồm dậy. Mặt trời đã lên ngang con sào. Chẳng thấy bóng chòm sao Tua rua đâu cả. “ Các chú định trốn nghĩa vụ hay sao đấy. Cả lớp người ta đi rồi. Khám được quá nửa rồi.” Giọng mấy ông bộ đội biệt phái vang lên trên sân thượng. Tôi nhìn ra xung quanh. Trên sân thượng còn có đến chục thằng con trai khoa Văn, khoa Sử ngủ quá giấc như hai chúng tôi. Tôi và Theo hấp tấp cuốn chiếu chạy xuống cầu thang, vứt chiếu vào phòng rồi chạy ra bến xe điện Thanh Xuân. Dưới ánh sang mặt trời lúc này, tôi và cu Theo nhìn nhau như hai thằng âm mưu ăn cắp, lấm lét sợ tố giác lẫn nhau.
       Khám hết các bộ phận trên cơ thể, vào phòng kết luận, tôi được bà bác sỹ trưởng nhìn ngắm với cặp mắt thương hại. “ Cô hỏi thật cháu nhé – bà hỏi tôi nho nhỏ - Cháu có muốn đi đợt này không ?”. Tôi gắt lên với bà: “ Cô hỏi gì lạ thật. Đủ sức khỏe thì đi chứ !”. Bà bác sỹ thở dài, lắc đầu rồi hạ bút kết luận cho tôi : A1. 
       Tôi chạy ra tìm Theo. Nó đang bô bô phét lác gì đó với đám Nguyễn Chí Thành, Phạm Nguyên Bảng, Phùng Bá Ngoạn… Nhìn mặt nó, tôi thấy nó chẳng nhớ gì đến kế hoạch đen tối thì thầm với nhau đêm qua hết cả. Thậm chí nó còn quay sang chê tôi là không xứng sức khỏe A1, chỉ đáng B2 là cùng. Tôi ức lắm…
       Hơn một tháng sau chúng tôi lên đường, mỗi thằng một mặt trận, nhẹ nhàng như những anh lính binh nhì vô tư, chẳng còn nhớ gì đêm ấy.

       Chiến tranh qua đi. Chúng tôi, thằng lành lặn, thằng bị thương thủng đầu, nhưng nói chung là đều sống sót. Nhưng bốn mươi mấy năm rồi, hôm nay nhìn cu Theo đột nhiên tôi thấy ức. Tôi nghĩ, đêm ấy mà tôi không ngủ gật, gác được sao Tua rua, hắn đừng hòng vào được bộ đội. Tôi đêm đó ngủ quên, là tôi vô tình đổi đời cho cu Theo. Nay về hưu rồi, sách Theo viết in được một đống, nguyên nhẩm đọc tên sách đã mỏi hết mồm; về hưu thì với cái lon Đại tá. Không những thế, Theo còn ghé tai tôi nói nhỏ: "Đại tá nhưng tao hưởng lương Tướng đấy".
BK, 16/7/2010
Mạc Yên

VỀ "LỜI RU CỦA MẸ"

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang cười, ngoài trời

Ảnh: Nguyễn Hùng Vĩ thuở sinh viên

       Về Lệ Thủy Quảng Bình, có người muốn tôi lưu tiếng sáo của anh để nhớ một người, một gặp gỡ. Tôi soi trong trí nhớ những bài thơ có thể ngâm được và chọn "Lời ru của mẹ" - bài thơ Nguyễn Hùng Vĩ viết tháng 3/1976.

       Năm ấy chúng tôi đi thực tế ở xã Uy Nỗ huyện Đông Anh Hà Nội. Đúng dịp 8/3, Hội Phụ nữ xã Uy Nỗ tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ, mời nhóm sinh viên chúng tôi tham gia. Nguyễn Hùng Vĩ "tốc ký thành thơ", đưa cho tôi và tôi "tức tốc thành ngâm" trong buổi lễ ấy. 
       Rồi bản viết tay duy nhất Nguyễn Hùng Vĩ đưa tôi theo bụi thời gian hơn 40 năm tan mất. Tôi ngồi ở nhà o Lý, nghệ nhân Hò khoan Lệ Thủy chép lại bài thơ lưu trong ký ức lên một manh giấy học trò. Vĩ bảo: "Hay thật. Em còn chẳng nhớ nữa". Tôi đưa Vĩ bài thơ chép lại, Vĩ đọc và lẩm bẩm: "Đúng là thơ của mình". 
       Công việc cuốn mọi người đi, tôi không kịp ngâm lại bài thơ này. Trong bữa cơm chiêu đãi của Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy Lê Văn Bảo, tôi kể lại câu chuyện. Chủ tịch huyện bảo tôi đưa anh bài thơ để anh đọc trong Lễ Vu lan tại chùa Hoằng Phúc, ngôi chùa gọi Nguyễn Hùng Vỹ vào Lệ Thủy để rồi anh kết duyên với Hò khoan Lệ Thủy.
       Nghe Vỹ nói, Chủ tịch huyện Lê Văn Bảo đã đọc bài thơ rất xúc động.
       Trong những bài tôi hát ru con trai có bài thơ này. Xin trân trọng giới thiệu để mọi người cùng cảm nhận một tri ân với Mẹ trong mùa Vu lan báo hiếu.

LỜI RU CỦA MẸ

Bập bùng giữa bốn tao nôi
Là con thuyền một cánh trôi vô bờ
Chòng chành hai mạn võng đưa
Con như bay dưới cánh cò mênh mông...

Bàn tay vỗ nhịp bồng bồng
Lời ru đượm nước mắt trong ru hời
Sao mà mặn thế mẹ ơi
Chắt bao nhiêu bát mồ hôi mà thành
Từ trong trầm bổng âm thanh
Bao nhiêu giọt ngọt giọt lành phần con
Nuốt đi bao hột bồ hòn
Đắng trong gốc lưỡi mà giòn tiếng ru
Đường đời biết mấy nông sâu
Có lời của mẹ bắc cầu con qua
Mấy ngàn xưa mấy ngàn xa
Lắng trong lòng mẹ nên à nên ơi

Mẹ ru con thức giữa đời
Ru con biết hát những lời nước non.
        
                                            Nguyễn Hùng Vĩ