Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Khắc Nguyệt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Khắc Nguyệt. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022

NIỀM VUI THÁNG TƯ NÀY




    Tháng Tư, thật vui khi được đón tiếp hai CCB, hai đồng đội cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đến thăm tại tư gia: CCB Hoàng Duy Kiên- nguyên pháo thủ xe tăng thuộc Lữ đoàn XT273/QĐ3 (người có bộ râu dài) và CCB Phạm Công Dũng- nguyên chiến sĩ Sư đoàn PK673/ QĐ2.
    Sau ngày đất nước thống nhất, hai anh đã trở lại mái trường để tiếp tục con đường học vấn. Với thành tích thi ĐH xuất sắc, cả hai đã đỗ vào Học viện Ngoại giao- một ngôi trường danh giá mọi thời đại và trở thành cán bộ của BNG sau khi ra trường. Con đường công tác đã đưa các anh đi đến nhiều quốc gia trên khắp thế giới song trong tâm khảm các anh lúc nào cũng in đậm hình bóng quê hương, đặc biệt là những ký ức về những tháng ngày chiến đấu gian khổ, ác liệt để giành lại độc lập, thống nhất cho đất nước.
     Có lẽ chính vì vậy mà CCB Phạm Công Dũng đã trở thành cầu nối để đưa PV ảnh F. DeMulder cùng những tấm ảnh để đời của bà về với Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ một phần của sự thực lịch sử ngày 30.4.1975.
    Và hôm nay, những câu chuyện không đầu không cuối của ba CCB như ko bao giờ dứt, vèo cái đã hết buổi sáng.

09/4/2022
Nguyễn Khắc Nguyệt

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2020

Nhớ Tây Bắc

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Lại xa Tây Bắc về Hà Nội
Tạm biệt núi rừng về Thủ đô
Lại về với vòng quay thường nhật
Mà lòng thương nhớ đến vô bờ

Nhớ Mộc Châu trời xanh mây trắng
Những đồi chè không biết đến đâu
Du khách ngẩn ngơ bên Dải Yếm
Trên quê mình mà cứ ngỡ trời Âu

Nhớ Sơn La trào tuôn suối khoáng
Có Phương Đông* rực sáng bình minh
Rừng Khộp vẫn đang mùa thay lá**
Cây đào Tô Hiệu bốn mùa xanh

Nhớ Sông Mã đoàn quân Tây Tiến
Cỏ lau đã nhường chỗ nhãn na
Có Thu Hưởng*** chân tình, chu đáo
Về đây cứ như được về nhà

Nhớ Hòa Bình thảo thơm hoa trái
Tách cà phê quên chặng đường xa
Ly rượu nồng đậm đà tình nghĩa
Mát lành giọt nước sạch Sông Đà

Và nhớ nhất- con người Tây Bắc
Những tấm tình hồn hậu, thủy chung
Hẹn dịp khác sẽ lại lên miền ngược
Lính xe tăng lại được trùng phùng.

24.6.2020
Nguyễn Khắc Nguyệt

* Phương Đông- Công ty du lịch của VC LXT Điền- Thủy
** Rừng Khộp mùa thay lá- NXB Trẻ, sách của LXT Nguyễn Điền
***Thu Hưởng: Vợ chồng LXT tại Sông Mã

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019

LỜI NHẮN GỬI CỦA CÁC LIỆT SỸ LÍNH XE TĂNG

Kính tặng hương hồn LS Trần Quang Nhàn và các LS kíp xe 707, 377...


Người ta chết thì về với đất
Còn Lính xe tăng chúng tôi-
Thành khói bốc lên giời!
Chỉ để lại muôn vàn thương nhớ
Và những bài ca bi tráng đến muôn đời!
Xin gửi lại muôn ngàn mơ ước
Về những giảng đường áo trắng tinh khôi
Về nhà máy, công trường, đồng lúa
Và đàn em như những đóa hoa tươi
Xin gửi lại những điều tốt đẹp
Cho cuộc đời, cho những người thân
Cho quê hương đã chịu nhiều đau khổ
Hết chiến tranh sẽ tươi đẹp nghìn lần
Còn chúng tôi sẽ ngao du bốn biển
Khắp đất trời, biển rộng sông sâu
Để ngắm nhìn non sông gấm vóc
Và một Việt Nam mãi mãi mạnh giàu!

Nguyễn Khắc Nguyệt

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

Phác họa chân dung các thành viên TÂCĐ



Thời gian thấm thoắt thoi đưa
Tri Ân thành lập cũng vừa bảy năm
Trải bao sóng gió, thăng trầm
Vẫn luôn xứng đáng Tri ân cuộc đời
Gặp nhau đây thật là vui
Xin góp đôi lời phác họa chân dung

Đầu tầu Song Thu Đỗ Tuân
Song kiếm hợp bích ùn ùn thơ ra
Nguyễn Thịnh, Cẩm Tú tuy xa
Vẫn đều đặn mỗi tháng ba bốn bài
Minh Tư hán tự miệt mài
Từ không nay đã được hai phần bồ
Trác Trường thì quá yêu cô
Quanh năm suốt tháng làm thơ tặng nàng
Thày Mạnh mải trồng khoai lang
Cả năm cũng chỉ trình làng vài câu
Thanh Dạ nhà mới vươn cao
Thi ca có vẻ đi vào chiều sâu
Tạ Anh Ngôi vẫn viết đều
Tuy rằng thất thập thơ yêu dạt dào
Đức Hưng bút lực dồi dào
Mỗi ngày vài bận ào ào thơ ra
Đề Kháng tuy ơ rất xa
Nhưng chịu khó viết diễn ca rất dài
Văn Nhã chẳng chịu kém ai
Chăm chỉ mỗi ngày đều có thơ ra
Xuân Hiểu dường như đã già
Thơ ra hơi ít triết gia hơi nhiều
Thế Sử vắng bóng hơi lâu
Chắc vì bận bịu đi chiều cháu con
Vợ chồng Xuân Thế, Thị Lan
Bỏ đường viết lách nhập làng hát ca
Văn Dịp chắc bận việc chùa
Tô Quang blog hiện giờ mốc meo
Xuân Thảo quán dê tăng nhiều
Cả năm chả thấy được câu thơ nào
Đỗ Nghị bút lực dồi dào
Không may mắt kém đành chào từ nay
Nguyễn Phong được cái mát tay
Nuôi gà chăn lợn đợi ngày bạn lên
Hồng Huệ với Đỗ Đăng Biên
Làm ký sự ảnh triền miên tháng ngày
Công Phùng thơ viết rất hay
Tiếc rằng chưa được đều tay hỡi người
Kim Thư tự nhận là lười
In thơ, ra ký mấy người kịp theo
Lan Anh khiêm tốn hơi nhiều
Gặp mặt tích cực thơ sao không làml
Đình Quý công việc hơi tham
Chẳng chịu viết lách để trang riêng buồn
Trang Kim ở tận Mun chèn
Lòng riêng riêng vẫn luôn thèm quê hương

Nủi nhất vưỡn tam cô nương
Xuôi Nam, ngược Bắc bốn phương là nhà
Hươu sao trưởng xóm Tô Hà
Đi mây về gió như là Ngộ Không
Kê Già tức thị Minh Hương
Chu toàn mọi thứ cho trang nhà lành
Hài hước hóm hỉnh Vân Anh
Anh Ba vẫn chẳng kém phần sâu cay
Khắc Nguyệt từ mấy năm nay
Chuyển nghề viết báo suốt ngày thơ châm

Hôm nay gặp mặt Tri Ân
Chân dung phác họa mấy vần thơ vui
Chỉ mong góp một nụ cười
Tri ân cuộc đời mãi mãi thắm xanh."

Nguyễn Khắc Nguyệt

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

NGƯỜI LÍNH TĂNG CHÁY ĐÙNG ĐÙNG VẪN DIỆT ĐỊCH

Chuyện lạ: Người lính tăng cháy đùng đùng vẫn diệt địch sáng 30.4

Sáng 30.4, xe tăng K63-85 số hiệu 707 của Lữ đoàn 203 bị trúng đạn và bùng cháy, biến kíp xe thành những ngọn đuốc sống, nhưng họ vẫn bình tĩnh tiếp tục dùng tiểu liên diệt địch.


LTS: Nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt về những người đồng đội trong kíp xe tăng 707 đã hy sinh anh dũng sáng ngày 30.4.1975.
Từ ban thờ thiên và những ngôi mộ gió....
Trung tuần tháng 5/1975, tôi được thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ lái một chiếc xe tăng M-48 "tù binh - chiến lợi phẩm" do Mỹ sản xuất lên Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 lúc đó đang đóng tại cơ sở của Trường Võ bị Thủ Đức để triển lãm.
Mặc dù không có cán bộ chỉ huy đi cùng song vị trí của Trường Võ bị Thủ Đức thì tôi vẫn nhớ như in. Nó nằm ngay bên trái đường, cách xa lộ chừng vài chục mét.
Sáng 30.4 chúng tôi qua đây còn bị địch bắn vào đội hình nhưng được lệnh bỏ qua, cứ nhằm thẳng Sài Gòn mà tiến. Tuy nhiên, ngồi trong buồng lái tôi vẫn liếc thấy dọc theo hàng rào là hai khẩu hiệu rất to.
Ở đầu phía bắc là mấy chữ: “LÁ NGỌC CÀNH VÀNG”, tôi nghĩ bụng chắc trường này chỉ tuyển con em quan chức chính quyền Sài Gòn hoặc quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào học mà thôi.
Còn ở đầu phía nam là mấy chữ “CƯ AN TƯ NGUY”, tôi đoán đó là khẩu hiệu khuyếch trương vị thế của trường đại khái là “ở thì yên lành, có nguy thì đến cứu giúp”.
Đi hết chiều dài hàng rào là đến ngã ba Tăng Nhơn Phú. Tôi đoán cổng chính của nó quanh quanh chỗ cái ngã ba này. Quả nhiên, đến ngã ba Tăng Nhơn Phú tôi rẽ trái vào một đoạn thì thấy cái cổng trường to lừng lững ngay bên tay trái trông rất oai phong.
Tuy nhiên, cái thu hút sự chú ý của tôi nhiều hơn lại là xác một chiếc tăng bơi nước kiểu K63-85 cháy đen thui nằm trước cổng. Vì vậy, sau khi đưa chiếc M-48 vào vị trí, tôi xin phép ra ngay chỗ chiếc xe cháy.
Chắc chắn đây là đồng đội cùng Lữ đoàn 203 của tôi. Trong khi chúng tôi bỏ qua mục tiêu này nhằm thẳng Sài Gòn có lẽ các anh đã đánh vào đây.
Chiếc xe cháy nằm gần như đối diện với cổng chính của trường, cách cổng chừng vài chục mét, đầu xe hướng chênh chếch về phía xa lộ, một bên xích đứt rời cuộn lại thành một đống phía sau.
Ở sườn xe bên phải, ngay đoạn buồng chiến đấu là một lỗ thủng to tướng đút lọt chiếc mũ cối. Các mảnh thép xung quanh lỗ thủng nham nhở, cong queo… Tôi tự nhủ: “Có lẽ là một quả đạn nổ cỡ lớn chứ không phải đạn chống tăng.
Vết đạn chống tăng nó gọn chứ không như thế này. Đây là xe bơi nước, thành xe của nó mỏng chỉ độ hơn 10 ly thép nên đạn nổ cỡ lớn là đủ phá được rồi”.
Tôi quay lại phía cổng trường thì phát hiện ở phía bên trái (từ ngoài nhìn vào) có một khẩu “Vua chiến trường” 175 mm. Nó nằm ở chỗ hơi thấp và nòng cũng hạ thấp, gần như nằm ngang. Tôi băn khoăn tự hỏi:
“Không lẽ chính khẩu pháo kia đã bắn hạ chiếc xe này. Nếu đúng vậy, tất cả những người trong buồng chiến đấu sẽ hy sinh ngay lập tức, may ra chỉ còn lái xe là sống sót”.
Các xe tăng bơi K-63-85 đã tham gia nhiều chiến dịch, góp phần Giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất Đất nước.
Các xe tăng bơi K63-85 đã tham gia nhiều chiến dịch, góp phần Giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước.
Tôi đi vòng sang phía bên kia chiếc xe, mắt vẫn không rời ngôi sao quân hiệu và ba chữ số vẫn còn hiện lên trắng mờ trên cái nền đen kịt. Đó là số 707. Chợt tôi sững lại, ngay cạnh chiếc xe, chỗ ngang với buồng chiến đấu là một cái ban thờ.
Vâng! Đó đúng là một cái ban thờ - kiểu ban thờ thiên mà chúng tôi vẫn gặp từ vùng Quảng Trị trở vào. Một cái chân bằng gỗ tròn to cỡ bắp đùi chôn sâu xuống đất. Trên đỉnh của nó là một mảnh gỗ vuông vắn được be lên 3 phía.
Có lẽ người làm ra nó khá vội vàng vì không thấy sơn màu gì cả mà vẫn để gỗ mộc. Trên đó là một cái bát hương làm bằng lon sữa bò dày đặc chân hương vẫn còn đỏ tươi.
Dưới chân ban thờ là mấy mô đất vun cao trông như mấy nấm mộ cũng lác đác vài cái chân hương. Nhìn tất cả còn khá mới nên tôi nghĩ: “Có lẽ cái này được lập ra là để thờ các chiến sĩ trong xe này đây. Mấy nấm đất kia chắc tượng trưng cho những ngôi mộ thì phải”.
Nhưng rồi tôi lập tức băn khoăn tự hỏi: “Vậy ai là người lập ban thờ và thắp hương cho các đồng đội tôi?”. Rồi cũng lại tôi tự trả lời: “Chắc là dân sở tại ở đây thôi chứ bộ đội ta sẽ không làm thế này”.
... tới gặp gỡ nhân chứng sống
Hỏi thăm dân chúng gần đó, tôi được biết ông già tên Viên là người đã lập cái ban thờ và thường xuyên hương khói ở đấy. Tôi tìm đến nhà ông và câu chuyện của ông già Viên ngày đó đã ám ảnh tôi suốt cuộc đời:
"Từ mấy bữa trước đó thấy các ông sĩ quan, binh sĩ trong Trường Võ bị ra chơi nói chuyện chúng tôi cũng biết tình hình Việt Nam Cộng Hòa nguy đến nơi rồi.
Quân trường hổm rày đã điều hết quân lính ra Long Thành chống cự với các chú rồi nên cũng chẳng còn mấy quân lính nữa. Nhưng không ngờ các chú đánh nhanh quá. Sáng sớm hôm 30.4, nghe ngoài xa lộ xe chạy rần rần.
Tôi chạy ra ngó thấy nhiều xe tăng lắm. Rồi nghe tiếng súng từ trong quân trường bắn ra, súng ngoài xa lộ bắn vào dữ dội. Biết là các chú đánh tới nơi, tôi hối bà xã cùng mấy bà bên cạnh kéo sắp nhỏ chạy tuốt vô trong rẫy nằm để tránh tên rơi đạn lạc.
Còn mình tôi ở lại trông nhà với lại theo dõi tình hình xem sao. Một chặp sau thì thấy các ổng - ông hất cằm về phía chiếc xe cháy - xuất hiện. Các ổng vừa chạy vừa bắn vào phía cổng quân trường một hồi rồi lao tới húc tung cổng xông thẳng vào trỏng.
Tôi đứng đây ngó vào thấy các ổng vừa chạy dọc con đường chính của quân trường vừa bắn sang hai bên. Bắn dữ lắm! Đạn nối thành dây đỏ lừ. Một chặp sau thì các ổng chạy trở ra, lúc này không bắn nữa.
Tôi đoán chắc các ổng đã diệt hết quân lính ở trỏng và bây giờ muốn trở ra xa lộ. Lúc các ổng đang quay ra hướng xa lộ thì một bên sên (xích) xe buột ra. Các ổng vẫn chạy thêm một đoạn nữa rồi mới chịu dừng lại đúng ở chỗ bây giờ đó.
Có lẽ các ổng định dừng lại để sửa chữa cái dải sên đó thì phải vì tôi thấy cái nắp trên nóc đã mở ra. Đúng lúc đó thì một tiếng nổ dữ dội vang lên. Tôi chỉ thấy nhoáng một cái và ù hết cả hai tai. Khi mở mắt ra thì tôi sững cả người, các ổng đang bốc lửa đùng đùng".
Ông già dừng lại, mắt ngó đăm đăm về phía chiếc xe một lúc lâu rồi mới chậm rãi tiếp lời:
"Lửa trên xe cháy mỗi lúc một to. Khói đen mù mịt. Thỉnh thoảng lại bùng lên một cái. Tôi sợ lắm nhưng vẫn tiến lại gần. Biết đâu có ông nào bị thương mà nhảy ra thì mình còn có thể cứu giúp được. Lính bên nào thì cũng là người mình cả thôi, phải không chú?
Tôi nép sát vào hiên nhà rồi chăm chú nhìn vào chiếc xe xem liệu có ai chui ra không. Nhưng không có ai cả, chỉ thấy khói lửa mịt mù. Đúng lúc đó tôi nghe tiếng người cười nói rổn rảng ở phía đằng cổng quân trường.
Tôi quay ra nhìn thì thấy ông trung tá Lâm, sếp phó Trường Võ bị cùng mấy ông lính nữa đang chạy từ phía khẩu pháo to ở đằng kia lại. Họ vừa chạy vừa cười nói có vẻ phởn chí lắm.
Tôi đoán chừng có lẽ chính họ vừa bắn hạ được các ổng nên chạy ra xem hay định bắt tù binh nữa không chừng. Sợ các ổng nhìn thấy mình tui vội vàng nép hẳn vào trong.
Nhưng đúng vào lúc đó, đúng vào lúc ông Lâm và mấy ông lính nghênh ngang nhứt, hào hứng nhứt… thì giữa đám khói lửa mù mịt đó một ông bất ngờ đứng dạy. Người ổng cũng đang cháy bùng bùng. Tôi đoán chừng ổng sẽ nhảy xuống… Nhưng không phải!
Tay ổng cắp khẩu súng lia một loạt dài rồi đổ gục xuống tại chỗ. Tôi sợ run hết cả người, cứ chắp tay xá mãi. Đúng là từ hồi nhỏ đến giờ tôi mới chứng kiến cảnh tượng ấy.
Ổng như là “Thần Lửa” ấy. Đến lúc tôi định thần nhìn ra thì thấy ông trung tá Lâm với mấy người lính cộng hòa đã trúng đạn chết cả… Từ hôm ấy tôi vẫn hay nằm mơ thấy ông Thần Lửa hiện về đấy. Ổng không nói mà chỉ cười thôi.
Chú đã bao giờ chứng kiến cảnh ấy chưa? Chú thấy tôi gọi ổng là Thần Lửa có đúng không?"
Trước câu hỏi đột ngột của ông già tôi không dám trả lời mà chỉ gật đầu vì biết rằng nếu mở miệng ra mình sẽ òa khóc mất. Khuôn mặt quắc thước của ông già giãn ra một chút:
"Mấy hôm sau có các chú ở đơn vị quay lại tìm. Nghe kể trong xe có 5 người và đều còn rất trẻ - Giọng ông già bỗng chùng hẳn xuống - Mỗi người chỉ còn một nhúm tro.
Các ổng đã chết cho tôi được sống, vì nếu không có chiếc xe tăng chặn ở đấy thì cả dãy nhà tôi đã hứng trọn làn đạn.
Chết trẻ vậy thì thiêng lắm nên tôi đã lập cái ban thờ này để hương khói cho các ổng".
Ông già đã ngừng lời, song tôi vẫn ngồi lặng ở đó. Vậy là các anh đã anh dũng hy sinh để bảo vệ cho chúng tôi thẳng tiến vào Sài Gòn.
Xe tăng bơi K63-85 thuộc lực lượng Hải quân đánh bộ (Vùng 4 Hải quân) diễn tập.
Xe tăng bơi K63-85 thuộc lực lượng Hải quân đánh bộ (Vùng 4 Hải quân) diễn tập.
Tháng 7/1975, tôi ra Bắc rồi đi học, tiếp tục cuộc đời binh nghiệp. Cuộc sống cuốn tôi đi theo dòng chảy của nó song câu chuyện của ông già Viên vẫn bám theo tôi như một nỗi ám ảnh và tôi vẫn tự hứa với lòng mình sẽ quay lại thắp hương cho các anh khi nào có dịp.
Vì vậy, 20 năm sau - trong một chuyến công tác, tôi đã trở lại Tăng Nhơn Phú. Nhưng không còn vết tích gì của các anh cả. Nơi chiếc xe 707 nằm lại cùng với cái ban thờ và 5 ngôi mộ gió giờ đã trở thành lòng một con đường lớn.
Dãy nhà lụp xụp cạnh đó bây giờ là dãy phố khang trang. Hỏi thăm ông già Viên thì không ai biết. Hỏi về chiếc xe tăng cháy họ cho biết ngày trước, nó nằm ở quãng ấy, quãng nọ nhưng chính xác chỗ nào thì “lâu ngày quên rồi”.
Hỏi về “Thần Lửa” họ lắc đầu, cười ngượng nghịu: “thì cũng chỉ nghe loáng thoáng truyền miệng vậy thôi”... Tôi ra về mà lòng nặng trĩu nỗi buồn. Chả lẽ mọi việc đã rơi vào quên lãng?
Lục tìm trong các cuốn Lịch sử Binh chủng Tăng Thiết giáp, Lịch sử Lữ đoàn xe tăng 203, Trung đoàn xe tăng 574… phần ghi về sự kiện này hết sức ngắn gọn và vắn tắt. Đại khái là:
“Khoảng 7h30 ngày 30.4.1975, khi đội hình binh đoàn thọc sâu đến Thủ Đức thì bị địch ở Trường Võ Bị bắn ra ngăn chặn gây thương vong cho một số chiến sĩ. Xe tăng 707 do Trần Quang Nhàn chỉ huy được lệnh cơ động vào trường đánh địch để bảo vệ bên sườn cho đội hình…”.
Cuốn sử của Trung đoàn 574 mới xuất bản năm 2000 thì nói rõ hơn một chút song cũng chỉ cho biết là cả xe đã hy sinh anh dũng và xe đã được truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba.
Nói chung là thông tin về kíp xe 707 trên các tài liệu chính thống chỉ vắn tắt như thế và vô cùng ít ỏi. Sau một thời gian tìm hiểu từ nhiều nguồn tôi đã tìm ra danh tính cũng như quê quán của 5 chiến sĩ trên xe 707 ngày 30.4.1975 là:
- Trưởng xe: Trần Quang Nhàn. Sinh năm 1954. Quê quán: Lực Điền, Yên Bình, Vĩnh Tường, Vĩnh Phú.
- Pháo thủ: Nguyễn Văn Hữu. Sinh năm 1954. Quê quán: Hoà Xá, Đồng Phú, Chương Mỹ, Hà Tây.
- Lái xe: Phạm Duy Hòa. Sinh năm 1950. Quê quán: Triều Khê, Đội Bình, Ứng Hòa, Hà Tây.
- Pháo hai: Ngô Văn Nghị. Sinh năm 1953. Quê: Tông Thượng, Quang Trung, Kinh Môn, Hải Dương.
- Y tá đi cùng: Trần Trọng Đông. Sinh năm 1954. Quê quán: Xóm: Đông, Đông Sơn, Chương Mỹ, Hà Tây.
Người mà ông già Viên nhìn thấy vùng dậy diệt địch khi lửa cháy bùng bùng trên thân mình có lẽ là lái xe Phạm Duy Hòa - người duy nhất có thể sống sót trước sức công phá của viên đạn 175 ly trúng vào buồng chiến đấu.
Không chỉ lập công trong trận đánh này mà xe 707 đã lập công xuất sắc trong nhiều trận đánh khi còn nằm trong đội hình Trung đoàn xe tăng 574, đặc biệt là trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng.
Kết thúc chiến dịch này, xe đã được đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất. Được biết Lữ đoàn 203 xe tăng đang làm thủ tục đề nghị Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho xe 707.
Song dù các anh có được tuyên dương hay không thì các anh vẫn mãi mãi là những người anh hùng trong lòng chúng tôi - những người lính của Lữ đoàn xe tăng 203; mãi mãi là vị “Thần Lửa” uy dũng trong lòng bà con Tăng Nhơn Phú.
Nguồn: http://soha.vn/quan-su/chuyen-la-nguoi-linh-tang-chay-dung-dung-van-diet-dich-sang-30-4-20150726103355244.htm
Khắc Nguyệt

Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

GIẺ LAU- CHUYỆN NHỎ MÀ KHÔNG NHỎ!

Vũ khí, phương tiện cơ giới hiện đại: Giẻ lau như của quý!

Hội thi kỹ thuật tăng thiết giáp toàn quân năm 2012. Ảnh: Báo Đồng Nai

Để đảm bảo khai thác, sử dụng các loại trang bị vũ khí một cách hiệu quả thì chúng cần thường xuyên được bảo quản, bảo dưỡng theo đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật.


Chuyện tưởng nhỏ nhưng mà không nhỏ!
Đúng như vậy! Nhất là đối với các lực lượng được trang bị phương tiện cơ giới hiện đại.
Một trong những nội dung bảo quản, bảo dưỡng trang bị vũ khí (TBVK) là phải lau chùi sạch sẽ. Từ nhỏ và đơn giản như khẩu súng bộ binh đến to lớn và hiện đại như quả tên lửa vượt đại châu hay chiếc tàu ngầm hạt nhân cũng đều yêu cầu như vậy.
Để thực hiện được điều đó, ngoài một số công cụ hỗ trợ như bơm nước cao áp, máy hút bụi... thì nhiệm vụ chính đặt lên những tấm giẻ lau. Vì vậy, những mảnh giẻ lau trong quân đội tưởng như nhỏ mà không hề nhỏ.
Thời kháng chiến chống Mỹ cũng như thời kỳ trước đổi mới (thập niên 90 của thế kỷ XX trở về trước), khi cả nước sống trong chế độ bao cấp thì việc cung cấp giẻ lau cho quân đội thường dựa vào các nguồn sau:
- Từ quân trang "thu cũ, phát mới" của quân nhân trong các đơn vị.
- Thu mua, đổi hiện vật, quyên góp... trong nhân dân.
- Cấp phát từ cơ quan chuyên môn cấp trên cho các khí tài đặc biệt.
Tuy nhiên, do điều kiện cơ sở vật chất xã hội lúc đó nhìn chung là nghèo nàn nên cả ba nguồn cung này đều gặp rất nhiều khó khăn.
Đối với nguồn tự bảo đảm từ thu quân trang cũ của bộ đội thì vì chất lượng quân trang thời đó thường rất kém (trừ trường hợp quân trang do nước bạn viện trợ), không đáp ứng đủ yêu cầu nên bộ đội phải tận dụng đến mức tối đa mà nhiều trường hợp vẫn phải mặc quần áo vá các kiểu.
Vì vậy, khi thu lại đồ cũ một cái quần có khi chỉ còn cạp, còn áo có khi chỉ là cái cổ áo. Đối với các đơn vị bộ binh thì còn khả dĩ chứ các đơn vị có phương tiện cơ giới thì nguồn cung này chỉ như muối bỏ bể.
Vũ khí, phương tiện cơ giới hiện đại: Giẻ lau như của quý! - Ảnh 1.
Lau chùi bảo quản xe tăng. Ảnh: Văn nghệ Quân đội.
Còn nguồn thu từ trong dân cũng không phải dễ dàng và phong phú gì. Ở cái thời mà mỗi người dân chỉ được phân phối 3 mét vải mỗi năm thì người ta cũng phải tận dụng đến mức tối đa mới tạm đủ nhu cầu mặc cho gia đình.
Người ta vá víu, "pích-kê", lộn trái, lộn phải, lộn trước ra sau... cho đến khi không làm gì hơn được nữa thì mới thải loại. Vì vậy, trong số giẻ mà một mạng lưới thu gom rất rộng lớn của các cơ quan kỹ thuật thu về rồi cấp phát cho các đơn vị thì là một mớ "tả-pí-lù" các loại giẻ rách hết sức đa dạng cả về chủng loại và chất lượng.
Thôi thì đủ thứ trên đời và do cất giữ trong kho lâu ngày nên thường có mùi rất ... khó tả. Tuy nhiên, cũng nhờ phong trào kết nghĩa (mà mục đích chính là để quyên góp giẻ) giữa các đơn vị xe tăng với các nhà trường mà đã nảy sinh nhiều mối tình đẹp giữa cánh lính tăng với các cô giáo trẻ và rất nhiều đôi đã nên duyên.
Trong khi hai nguồn cung kể trên chủ yếu là giẻ rách thì lại có một loại giẻ nữa rất cao cấp mà những ai "sành điệu" về thời trang thời đó cũng phải thèm khát.
Đó chính là những miếng vải bông, những mét vải phin nõn trắng tinh, thơm tho dành cho khí tài quang học và thiết bị điện tử hoặc vải thô dành cho nòng pháo súng và ống phóng tên lửa v.v...
Tuy nhiên, nguồn này cũng rất hạn chế và được quản lý rất chặt chẽ, có định mức cụ thể cho từng đầu khí tài, trang bị và thường được cơ quan Quân khí cấp phát theo ngành dọc trong những ngày làm công tác kỹ thuật.
Trong khi đó, cường độ khai thác sử dụng TBVK lại rất cao, điều kiện sử dụng thường khắc nghiệt, bụi bặm nhiều, các phương tiện hỗ trợ thiếu hoặc không thể triển khai được... nên chỉ trông vào cách lau bằng giẻ.
Mà với một định mức rất khiêm tốn - chẳng hạn mỗi lần bảo dưỡng cấp 1 xe tăng được cấp 2 kg giẻ/ xe, chất lượng lại mủn xì xì thì giẻ lau luôn luôn là một vấn đề nan giải đối với bộ đội các binh chủng kỹ thuật.
Anh em thường phải giặt đi, giặt lại để dùng được nhiều lần. Thời đó các loại chất tẩy rửa cũng vô cùng hiếm nên giặt giẻ cũng không dễ dàng gì. Nếu đơn vị đóng quân tập trung hàng tháng có thể được cấp một số bồ-tạt (pô-tát ăn da - KOH) để giặt giẻ.
Bồ-tạt được hòa nước, đun sôi lên, giẻ được ngâm vào đó vài phút rồi đem ra giặt lại bằng nước lã. Còn nếu không thì rũ qua bằng diesel sau đó giặt lại nhiều lần bằng nước lã mới dùng tạm được.
Giẻ lau như của quý!
Một cảnh tượng thường thấy trên các bờ rào xung quanh doanh trại lính tăng ngày đó là la liệt những miếng giẻ rách muôn hình, vạn trạng đang được phơi phóng và gìn giữ như của quý.
Vũ khí, phương tiện cơ giới hiện đại: Giẻ lau như của quý! - Ảnh 2.
Bảo quản xe tăng ở Lữ đoàn tăng – thiết giáp 22, Quân đoàn 4. Ảnh: QĐND.
Giẻ quý như vậy nên chiều 30/04/1975, khi từ dinh Độc Lập ra chiếm giữ cảng Sài Gòn mỗi xe của Đại đội xe tăng 4 - đơn vị đã húc đổ cổng dinh - đều khuân 1 súc vải về để... lau xe dần!
Ngày nay, các nguồn cung cấp vẫn như vậy song chất lượng giẻ tốt hơn nhiều. Các đơn vị được cấp tiền để tự ký hợp đồng với các địa phương mua quần áo cũ hoặc các doanh nghiệp dệt may để tận dụng sản phẩm thừa.
Thậm chí có cả các cơ sở chuyên sản xuất, cung ứng các loại giẻ lau. Ngoài ra, hầu hết các đơn vị đã có khu kỹ thuật tương đối chính quy nên có thể triển khai các phương tiện hỗ trợ làm sạch như máy rửa xe với vòi phun cao áp, máy hút bụi v.v... nên nhu cầu về giẻ không còn căng thẳng như trước nữa.
Tuy nhiên, chất vải ngày nay thường pha "ny-lon" nhiều quá nên vừa không thấm nước, vừa khó lau sạch... như các loại vải mộc, vải bông ngày xưa.
Nguồn: http://soha.vn/vu-khi-phuong-tien-co-gioi-hien-dai-gie-lau-nhu-cua-quy-20161109175135807.htm
Khắc Nhuyệt

NHỚ NẮNG MIỀN NAM

Miền Bắc vẫn mưa rơi sùi sụt
Lại nhớ hoài nắng ấm phương Nam
Và hơn thế là tấm tình nồng hậu
Của bạn bè, đồng đội, người thân...

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên
Trong hình ảnh có thể có: 14 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi, bàn và trong nhà
Trong hình ảnh có thể có: 8 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi
Trong hình ảnh có thể có: 6 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi
Trong hình ảnh có thể có: 7 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi và trong nhà
Trong hình ảnh có thể có: 7 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang cười
Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang ngồi
Trong hình ảnh có thể có: 7 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi, mọi người đang đứng và trong nhà
Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi
Trong hình ảnh có thể có: 10 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng, mọi người đang ngồi và trong nhà

12.7.2017
Khắc Nguyệt

Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

THÁNG BẢY


Tháng Bảy vần vũ mưa Ngâu
Chức Nữ- Ngưu Lang đoàn tụ
Mà sao có người đi mãi
Mấy chục năm chưa trở về?

Tháng Bảy- trên bến sông quê
Vẫn thấy bóng ai đứng đợi
Dõi mắt nhìn xa vời vợi
Nước mắt khô rồi còn đâu!

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh

Tháng Bảy xới thêm nỗi đau
Trong lòng những người đồng đội
Lời hứa với nhau ngày ấy
Mà nay, lực bất tòng tâm!

Tháng Bảy lễ lạt rình rang
Những bài diễn văn nhạt hoét...
Nào biết trong kia- xóm vắng
Có ai lặng lẽ khóc thầm?

Trong hình ảnh có thể có: thực vật, hoa và ngoài trời

Khắc Nguyệt

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

NẶNG NỀ NHƯ VẬY XE TĂNG VƯỢT BÃI LẦY NHƯ THẾ NÀO?

Xe tăng vượt qua bãi lầy thế nào?

Xe tăng T-90 của Nga thực hành vượt lầy.

Với trọng lượng lên đến vài chục tấn, các địa hình lầy thụt luôn là một hiểm họa đối với xe tăng.


Mặc dù có trọng lượng lớn song nhờ diện tích tiếp xúc với mặt đất cũng tương đối lớn nên áp suất trung bình lên mặt đất của xe tăng cũng không lớn lắm, thường dao động trong khoảng 0,8 - 0,9 KG/cm2.
Vì vậy, so với các loại xe bánh lốp khả năng vượt qua những địa hình có chất đất mềm, lầy thụt... của xe tăng có phần trội hơn. Tuy nhiên, khi mà chất đất quá yếu, lượng bùn loãng có độ sâu lớn... thì lợi thế trên cũng không giúp cho xe tăng vượt qua được mà sẽ rơi vào tình trạng bị sa lầy.
Đặc trưng chính của sa lầy là xe tăng bị chìm sâu trong bùn lầy, nếu vẫn tiếp tục khởi xe thì hai dải xích sẽ bị quay trượt trong bùn, không đủ khả năng kéo xe tăng chuyển động được nữa.
Nguyên nhân của tình trạng này là do lực kéo bám của hai dải xích vốn được tạo nên từ ma sát giữa dải xích với mặt đường nay gần như bằng 0 nên không truyền được động lực của động cơ xuống mặt đường để đẩy xe đi.
Nhìn chung, sa lầy trong bất kỳ tình huống nào cũng nguy hiểm, nhất là trong chiến đấu hoặc hành quân chiến đấu.
Xe tăng vượt qua bãi lầy thế nào? - Ảnh 1.
Xe tăng T-90 của Nga thực hành vượt lầy.
Trong trận đánh Tà Mây đêm 24.01.1968 của Đại đội XT 3, khi vượt ngầm số 5 trên đường xuất kích cả đại đội đã bị lầy. Sau gần 1 đêm cứu kéo, đến sáng mới có 2 xe 558 và 555 vượt qua được để tham gia chiến đấu. Tuy trận đánh thắng lợi song hiệu suất bị giảm đi rất nhiều.
Để khắc phục tình trạng này, trong quá trình trinh sát và chuẩn bị đường cơ động cho xe tăng cần hết sức cẩn trọng, chính xác. Phải căn cứ vào tình hình chất đất cụ thể để có các giải pháp khắc phục như tìm đường vòng tránh, tăng cường đất đá, cành cây v.v... nhằm tăng cường lực bám cho xích xe.
Còn trong trường hợp đã bị sa lầy phải căn cứ tình hình cụ thể để có phương án cứu kéo thích hợp để nhanh chóng đưa xe tăng ra khỏi khu vực lầy thụt tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Có thể áp dụng một trong những giải pháp sau:
Cứu kéo bằng các phương tiện chuyên dùng:
Đó là các loại xe dắt, xe chở tăng... Những loại xe này có bộ tời với dây cáp dài đến hàng trăm mét và có lực kéo khoảng 50 tấn. Khi cần cứu kéo xe sa lầy thì xe kéo phải được cố định chắc chắn bằng lưỡi ben hoặc các khối chèn.
Sau đó móc cáp vào xe bị lầy và dần dần tời lên. Đây là phương pháp an toàn và nhanh nhất song không dễ áp dụng vì không phải lúc nào cũng có sẵn các phương tiện này trong đội hình.
Dùng xe tăng kéo nhau
Theo biên chế, trên bất kỳ xe tăng nào cũng có 2 sợi cáp kéo xe và các vòng nối cáp. Khi có xe sa lầy không tự lên được phải đưa xe kéo đến vị trí thích hợp rồi móc cáp nối hai xe lại với nhau (nếu cần thì phải nối cáp).
Xe tăng vượt qua bãi lầy thế nào? - Ảnh 2.
Xe tăng T-90 của Nga thực hành cứu kéo nhau khi bị xa lầy.
Tiếp đó người chỉ huy cho xe kéo từ từ tiến lên để "căng cáp" nhằm tránh tình trạng giật đột ngột sẽ gây đứt cáp. Trong lúc đó cho xe bị sa lầy khởi động, vào số.
Khi cả hai xe đã sẵn sàng thì chỉ huy cho cả hai xe đồng thời khởi xe, tăng ga để thoát ra khỏi bãi lầy. Trường hợp 1 xe không kéo được có thể "đấu" 2, 3 xe cùng kéo.
Đây là tình huống thường gặp nhất trong hành quân cũng như chiến đấu. Điều cần lưu ý là công tác tổ chức chỉ huy và bảo đảm an toàn. Đã từng có nhiều trường hợp kéo nhau bị đứt cáp, sợi cáp đứt quật vào người lái xe gây thương vong.
Kíp xe tự cứu
Khi không có các phương tiện chuyên dùng hoặc xe bạn đến cứu kéo thì kíp xe buộc phải "tự cứu" nếu không muốn nằm tại chỗ.
Tự cứu bằng "gỗ tự cứu":
Khi có mang theo "gỗ tự cứu" kíp xe có thể sử dụng để tự cứu mình. "Gỗ tự cứu" là những cây gỗ thẳng, dài bằng chiều rộng thân xe và có đường kính khoảng 20- 25 cm, thường được cố định phía đuôi các xe tăng.
Kèm theo đó, trong bộ dụng cụ theo xe của hầu hết các loại xe tăng đều có 2 sợi "cáp tự cứu". Đó là hai khoanh cáp đường kính khoảng 50 cm, ở chỗ nối cáp có vấu để cố định vào hốc lõm của "vú xích".
Khi cần sử dụng, 2 vòng cáp tự cứu này được lắp vào dải xích nhờ vấu cố định trên, sau đó luồn "gỗ tự cứu’ qua 2 khoanh cáp và khởi xe như bình thường. Nhờ có "gỗ tự cứu" làm tăng lực kéo bám của dải xích và đẩy được xe ra khỏi vũng lầy.
Đối với loại xe không có "cáp tự cứu" thì có thể dùng dây cáp kéo xe kết nối "gỗ tự cứu" với 2 dải xích cũng có thể tự cứu được.
Tự cứu nhờ các vật cố định bên ngoài:
Trường hợp không có gỗ tự cứu, kíp xe có thể tự cứu nhờ các vật cố định bên ngoài như gốc cây, trụ bê tông, tảng đá lớn... Để làm được việc này cần chọn một vật cố định chắc chắn phía trước xe rồi vòng sợi cáp kéo xe qua đó.
Đầu kia của sợi cáp (có thể nối vài sợi) được cố định vào một mép dải xích nhờ vòng nối cáp. Tiếp đó cho nổ máy và từ từ khởi xe. Vật cố định sẽ thay thế lực kéo bám không cho dải xích quay trượt nữa và đẩy xe tăng về phía trước.
Vì tình huống sa lầy cũng xảy ra khá thường xuyên trong quá trình khai thác, sử dụng xe tăng nên trong các trường dạy lái xe tăng bao giờ cũng có khoa mục "Cứu kéo xe" nhằm rèn luyện cho học viên làm quen và biết cách xử trí tình huống này trong thực tế.
Nguồn:http://soha.vn/xe-tang-vuot-qua-bai-lay-the-nao-2016091107322391.htm
Khắc Nguyệt