Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Trọng Luân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Trọng Luân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2024

VIẾT Ở THÀNH PHỐ SÔNG KỲ CÙNG




Tôi ngẩn ngơ tìm nàng Tô thị
Bế con đi đâu từ ấy đến giờ
Con đường bụi cứ mờ lau cỏ
Ai chở mía về gió bấc tím biên khu

Ta dừng lại cầu Khánh Khê chiều vắng
Thương Mế già bán quýt ngó về xa
Có một thủa quân qua sông trăng sáng
Tiếng súng rền sườn núi buốt sương sa

Hoa lau trắng sao mà hoa hiền thế
Sông yêu ơi sao tên gọi Kỳ Cùng
Những chợ phiên tìm đâu Si và Lượn.
Đêm buông sương Phai Vệ lúng liếng khèn.

Chưa kịp cùng nhau lên pháo đài cũ
Đã thấy lòng thổn thức gió trùng xưa
Mấy ngàn năm gan góc hồn biên ải
Lạng Sơn ơi chàm sẫm áo đến giờ

Thành phố lẫn những hoa và đá
Những chợ đêm giọng cũ giọng Kì Lừa
Ai hát Lượn mía Tam lung ngọt thế
Một khoảng rừng hoa sở trắng ngày xưa

Ta gặp bạn mấy chục năm xa cách
Tiếng Lạng Sơn cười vang cả rừng già
Người của núi ngực vồng như lửa bếp
Soi nhìn về phía những ngày xa

Đêm xứ Lạng cứ như là cổ tích
Dấu cha ông đuổi giặc ống đồng
Con đường kẻ thù khiêng nhau về biên giới
Lau bạc đầu bụi vẫn trắng chiều đông.

Ơi thành phố dựa lưng vào vách núi
Dang tay ngăn cho tiên tổ yên bình
Sông vẫn chảy ngàn năm quanh bờ cõi
Cánh áo chàm hiền như thể bình minh

Anh bỗng thấy mình thành con trẻ
Khi cùng em về thành phố có Kỳ Cùng
Giờ mới hiểu tổ tiên mình là thế
Yêu đến cùng ngọn núi dòng sông.

Một chiều lạnh 7 độ ở TP có sông Kỳ Cùng

16/12/14
Nguyễn Trọng Luân

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2023

GỌI THU

(gửi miền ấm nắng)




Thu đã ở cuối trời em nhỉ
Thu mắt anh trôi phía em rồi
Vạt nắng nơi em hanh bùn lên hoa súng
Ở nơi này thu xót lại sương rơi
Như chiều muộn em vừa ra khỏi ngõ
Gọi dấu yêu thảng thốt má cười
Đông chạng vạng đâu đây mùi thu cũ
Mùa thu ơi mùa thu xa xôi
Cúc họa mi nhỏ như nàng chân đất
Chạy lên đê chạy ở phía heo may
Hớn hở như màu tinh khiết trắng
Chạy vào đông ngủ đợ cõi yêu này
Gọi thu gọi em Ô môi leo lét lửa
Lũ không về mặn chéo vạt bà ba
Có một chiều ở vòng cung châu thổ
Em thấy đàn chim tránh rét ngang qua


27/11/2016
Trọng Luân

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2023

Những mùa thu độc lập đã đi qua

Thật ra học tới cấp hai tôi mới biết chữ Quốc Khánh. Cũng nhờ đó mà biết 2/9 là ngày Quốc Khánh của nước mình chứ trước đó chỉ mong đến 2/9 để được ăn cơm đoàn kết ở giữa làng. Vui lắm. Mà bữa ăn ấy rất nhiều thịt lợn.
Hồi ấy những năm đầu 60. Hòa Bình lập lại vài năm, lại mới vào HTX nên làng xóm thanh bình đến lạ. Ngày 2/9 là xã nhà có thi đấu thể thao. Nhảy cao nhảy xa, cướp cờ, kéo co, bịt mắt bắt dê. Nhưng lạ mắt và thích thú nhất là chỗ đánh tổ tôm điếm và chọi gà. Ở làng tôi chỉ có vài nhà có gà chọi. Họ đều là người dưới xuôi lên tản cư hồi chống Pháp. Đã gần 60 năm mà tôi vẫn nhớ gà nhà ai cựa dài, gà nhà ai cứ đi chọi là xoa rượu vào cổ vào ức vào mỏ khiến con gà đỏ lên ngầu lên hung dữ. Tôi chen vào tận vòng trong ngồi xuống bên cạnh cái vòng tròn bằng vôi vừa xem vừa dụi mắt bụi đất bay mù mịt. Xem chán rồi ra chỗ tổ tôm điếm nhìn ông già gõ cái trống con kêu tom tom và những bóng người đi lại. Chiều, cả làng ăn liên hoan. Chỗ liên hoan là sân trường cấp 1 trên đỉnh đồi và dưới chân nó là đường tàu Hà nội - Lao Cai. Tôi nhớ tôi được ăn cơm canh chuối và thịt lợn luộc để vào lá chuối tươi giữa nong. Ăn rồi được quả chuối đứng nhìn tàu hỏa ngược qua làng còi kêu bô bô.
Có một năm. Gần đến 2/9 tôi bán mấy giỏ cua được 8 hào để dành ngày Quốc Khánh đi tàu hỏa lên Thị Xã Yên Bái ăn kem. Tàu hỏa ngày 2/9 đông lắm. Nông dân các vùng chỉ đợi ngày này ra thị xã xem các cuộc vui ngày quốc khánh. Lên đến thị xã đã gần trưa. Giữa thu nắng cháy vỏ bưởi. Xuống ga Yên Bái mấy thằng ron ron chân đất đi trên đường nhựa ngược lên thấy có chỗ đông người lắm. Họ bảo đấy là "sân căng.". Nơi này họ thi đấu bóng chuyền. Xem chán rồi đi quay về ga. Bố tôi dặn đừng đi rẽ ngang cứ đi đường thẳng rồi quay về khỏi lạc. Chả thấy hang kem chỗ nào. Đói quá khát quá. Dọc đường thấy người ta xúm đông xúm đỏ quanh cái vòi nước. Có mấy người dân tộc mặc áo quần thêu chỉ xanh đỏ cúi uống nước máy, cười nhe răng vàng. Tôi cũng chen vào nghiêng đầu cho nước vòi toe toe vào mồm ướt cả cổ. Thích thế.
Chuyến tàu xuôi 2 giờ chiều đầy những khuôn mặt nhà quê mệt mỏi hả hê trở về. Năm sau tôi dứt khoát không đi thị xã nữa. Ngày 2 tháng 9 cứ ở nhà mà xem mít tinh rồi xem các trò chơi của quê mình cũng vui chán. Thi thoảng có người làng được về tận Hà Nội xem lễ duyệt binh kể chuyện mấy ngày không hết. Nhưng họ cũng lại giống tôi là cũng đói và cũng ra vòi nước công cộng uống sùi bọt mép rồi lên tàu về quê. Điều thú vị nhất trong ngày tết độc lập ở Hà Nội là lễ duyệt binh. Từ năm 1965 trở đi chiến tranh với không quân Hoa Kỳ trên toàn miền Bắc. Từ ấy lễ duyệt binh mồng 2/9 trở thành quá khứ nhớ nhung khao khát của mỗi người Hà Nội. Mãi cho tới năm 1975 mới lại có lễ duyệt binh trở lại. Ngày 2/9 ở Hà Nội năm nào người ta cũng đón chờ xem duyệt binh, náo nức hào hùng tự hào và hi vọng.
Có một 2/9 ấy là năm 1969 liên hoan để đi học đại học. Mẹ đong cân rưỡi đậu tương cho tôi mang ra chợ đổi đậu phụ. Nhà làm đậu đổi 1 kí đậu tương ăn kí rưỡi đậu phụ. Mẹ mổ con ngan cả nhà xì xụp trong ngày Quốc khánh. Mấy đứa em mặc quần đùi không có áo hỏi, anh đi đại học tận Bắc Thái có xa hơn Hà Nội không? Ừ xa lắm. Chúng nó được bữa cơm no có thịt là sướng rồi. Ngày hôm sau lên đường đi tập trung thì nghe tin Bác Hồ mất. May là ngày Quốc Khánh đã qua rồi. Ai cũng buồn suốt cả những ngày mùa thu năm ấy.
Lại một ngày 2/9 tôi lên đường tòng quân đánh giặc. Lúc ấy tôi đã học năm thứ 3 đại học. Mùa thu nào cũng là dịp trai tráng lên đường. Những chuyến tàu hỏa chạy vào Nam buông trắng những lá thư không tem hoặc có tem xuống đường Nam Bộ. Năm ấy mồng 2/ 9 Hà Nôi nắng vàng như mật. Chúng tôi hành quân từ phía cầu phao Chương Dương qua nhà Bát cổ rồi ra ga Hà Nội. Chúng tôi đi dưới tán phượng tán cây sữa đường Tràng Thi. Giữa thu, lá phượng rơi dào dạt như cốm vàng trên mũ trên ba lô của lính. Qua hồ gươm tôi nhớ rõ trên đỉnh tháp rùa có ngôi sao và những bóng nữ công nhân đầu đội mũ sao vuông đeo súng trường đạp xe hối hả trên đường. Nhớ một mồng 2/9 năm học trước chúng tôi kéo nhau về Hà Nội ra hồ Tây ăn bánh tôm để thưởng thức không khí ngày quốc khánh. Mùa thu Hà nội đẹp hơn tất cả các nơi khác trên đất nước mình. Cái mùi nắng mùi gió và mùi lá vàng trong lúc rơi rơi thật là thơm. Cái hương thơm mùa thu Hà nội thật là nhẹ mà cứ vướng vất mãi trong gió. Tôi không thể hình dung ra lúc cha anh chúng tôi lắng nghe Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập gió ở quảng trường Ba Đình thế nào. Nhưng tôi cam đoan gió hôm 2/9 năm ấy và gió hồ Tây hôm nay giống hệt nhau. Hôm ấy lũ sinh viên chúng tôi hít thở thật sâu cái mùi thơm như cốm của gió mùa thu Hà Nội vào lồng ngực và rồi đúng ngày 2/9 năm sau tôi đeo ba lô đi trên đường Hà Nội ra ga Hàng Cỏ vào chiến trường.
Quốc gia nào mà chả ngày Quốc khánh. Ngày ấy là ngày tự hào, ngày vui của cả một dân tộc. Ngày ấy dứt khoát là sự đánh đổi không hề nhỏ của một quốc gia. Ngày ấy với bất kì nước lớn nước nhỏ cũng đều thiêng liêng như nhau. Nhưng Quốc khánh của dân tộc ta lại vào mùa đẹp nhất trong một năm và nó diễn ra ở một vùng đất đẹp nhất trên tổ quốc mình.
Từ bấy đã mấy chục ngày Quốc Khánh. Có những cái Quốc khánh chứng kiến đồng đội chết chưa kịp bữa liên hoan có tiêu chuẩn mùng 2 tháng 9 mỗi chiến sĩ nửa hộp thịt. Dịp Quốc khánh nào cũng là những trận đánh quyết lập công dâng lên ngày độc lập của non sông mình. Đã 50 năm các bạn tôi hi sinh trong chiến dịch bảo vệ Thị Xã và thành cổ Quảng Trị hay ở Tây Nguyên. Họ vĩnh viễn đón những mùa thu lại là mùa mưa miền Nam, còn chúng tôi trở về nay tóc bạc chân run đi trong ngày Quốc Khánh ngạt ngào mùi trái bưởi trái na trái thị … mùi của mùa thu tinh khiết vàng. Mùng 2/9 năm nào cũng lại sắp vào rằm Trung thu và tôi thấy năm nào nước sông Thao quê tôi dịp này cũng đầy nước. Năm nào trời Hà nội cũng thơm như mật. Mà kì lạ vô cùng cứ sau ngày 2/9 là Hà Nội đổ mưa, cơn mưa xanh và sạch, cơn mưa dịu êm của mùa thu nay lung linh những con đường phố xá cao ốc đẹp xinh. Chẳng giống chúng tôi ngày xưa, con cháu bây giờ mặc thật đẹp và đi xe cũng rất đẹp lên công viên, ra đồng hoa sông Hồng, đi du thuyền đi cắm trại và những cuộc liên hoan tưng bừng trên phố trong các nhà hàng đèn nến sáng chưng. Tôi lên hồ Tây, rồi lại ra hồ Gươm ngồi lặng một mình dưới gốc cây lộc vừng nhìn lên tháp rùa có ngôi sao nhớ những ngày tết độc lập mà tôi đã đi qua.

Nguyễn Trọng Luân

Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2023

MƯA BIỂN 1



Có một trận mưa ở quê em
Đêm ấy biển đầm đìa ướt.
Chỉ những bông sao trên trời là không ướt
Cứ long lanh muốn rơi vào nhau.

Biển dâng ào ạt thủy triều đêm
bình minh nắng lên tím mướt
Hoa muống biển loang mưa vào cát
Nối ngày cho đêm thật sâu.

Mồ hôi biển mặn tới ngực nhau
Rồi mưa hòa biển vào nước ngọt.
Cơn mưa duỗi chân về phía thủy triều ướt át
Dụi tay tìm cặp mắt đêm mưa.

Có cơn mưa trôi quá xa
Để hoa muống biển loang nhạt nắng
Gió cát bãi ngang chiều về lại.
Đêm nay biển có mưa không?


Mùa Hạ 2018
Trọng Luân

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2023

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ THÁNG 4/1975

 

     Gần nửa thế kỉ nay, nhiều người viết về lứa trẻ sinh ra dịp b mươi tháng tư, lứa cán bộ trưởng thành từ ba mươi tháng tư, những người lính ba mươi tháng tư… nay ở đâu? Nhưng những người con gái ba mươi tháng tư thì tôi để ý, chả thấy người ta viết, hay họ viết mà tôi không biết.
     Những người đàn bà dưới đây tôi gặp họ vào những ngày tháng 4 năm 75 rồi từ ấy đến nay không bao giờ gặp lại. Tôi gọi họ là “những người đàn bà tháng tư 75 “.
    1 Cô biệt động Mỹ Hạnh.
     Hạnh quê ỏ Tân Phú Trung, Củ Chi. Cho tận tới tối 28/4 trước giờ hành quân tôi mới gặp Hạnh. Chiều ấy nắng đã tàn mà trời vẫn hồng rực lên. Lúc ấy chúng tôi ở An Nhơn Tây, dàn đội hình hành quân mà vẫn thấy lửa sáng phía tay phải đội hình. Có một cô gaí người lẳn như cú khoai sọ đeo AK báng gấp bảo, chỗ sáng đó là Đồng Dù. Ai cũng nhìn sang cô gái có cái bồng bằng vải ni lông sáng màu cổ vịt. A phó Ngô Thịnh hỏi, này cô đi đâu đấy? Cô gái trả lời. Tôi gặp anh Nguyễn Trọng Luân và cùng đi dẫn đường cho tiểu đòan 8 đánh Ấp Chợ - Cầu Bông. Tiểu đội trinh sát mắt sáng lên. Lần đầu tiên có gái đi cùng trong một trận đánh lớn ai chả thích. Tôi gọi, này em ơi anh biết tên em rồi. Cô gái cũng nói luôn, em cũng biết tên anh rồi nha. Biết từ lúc nhìn thấy anh da đen quá trời. Cấp trên của anh bảo, em về đó gặp thằng Luân đen rồi cùng nhận nhiệm vụ đêm nay. Cả tiểu đội cười ồ. A phó Ngô Thịnh nói trong lúc có tiếng pháo vút qua, này Hạnh ơi thằng Luân đen nó có người yêu ngoài Hà Nội rồi, em đi mũi luồn sâu đêm nay cùng anh thôi. Cô gái tên Hạnh cười ri rí. A trưởng phân công đâu em nằm đấy. Cả A trinh sát rúm vào nhau cười rinh rich. Tiểu đoàn nhằm hướng nam hành quân. Những cánh đồng ruộng trằm lúp xúp và những con kinh nhỏ rồi lại con kinh lớn. Pháo địch bắn từ thành Quan năm lên, từ Đồng Dù ra hu hú qua đầu. Có vài quả rớt cả vào đuôi đội hình khiến lính ta chạy nháo nhào lên phía trước. Vùa lúc gặp đoạn kinh lớn nước quá đầu người. Bộ đội phía sau hỏi lên có cởi quần không? Hạnh giật mình kêu chu cha! Thằng Ngô Thịnh nói khẽ với tôi, truyền lệnh cho cởi quần đi! Hạnh giãy nảy lên. Em xin. Em xin anh. A phó Ngô Thịnh cười hé hé. Cả đoàn quân cứ thế lặng lẽ xuống nước. Rồi có tiếng, chết đuối rồi! chết thằng Dìn rồi. Mỹ Hạnh quay ngoắt lại trong mập mờ đêm, nhoáng cái lôi chàng Dìn vào bờ. Chúng nó hỏi: Mày không biết bơi à? Em không biết. Hinh hích hinh hích, lính ta cười. Mỹ Hạnh càu nhàu, đồng đội chết ỉm đến cổ còn húm vào cười. Lính ta chả ai nói gì .
     Vượt qua lộ 8 đoạn Phước Vĩnh An. Cái đồn địch bắn đạn 12,8 đỏ lừ lừ cành! Cành! Cành! Chó sủa râm ran. Mặc, chúng tôi cứ nhắm phía Cầu Bông mà lội tới. Mùi bùn, mùi lúa con gái ngai ngái trong đêm. Lính hỏa lực ì ọp ngã lên ngã xuống. Bờ ruộng thì nhỏ bùn lại trơn, tôi bảo Mỹ Hạnh, tôi chiếu bản đồ Hạnh dẫn bộ đội lội trên lúa. Hạnh cự, nát lúa uổng lắm. Tôi gắt, không thể để chậm giờ vào chiếm lĩnh. Tôi truyền lại, tất cả lội ruộng theo trinh sát. Thế là hàng mấy trăm người bì bõm dưới ruộng, rồi leo lên ruộng cạn rồi lại xuống nước. Cứ thế chúng tôi vòng qua cánh đồng rìa làng Tân Thông Hội, xuống Tân Phú Trung.
     Một giờ sáng, trăng bất thần nhú ra. Cả đội hình đến cánh đồng trồng dưa của dân Tân Phú Trung. Trong đêm mà vẫn nhận rõ những chùm dưa lúc lỉu, nần nẫn. Truyền xuống, hạ ba lô im lặng. Trinh sát bàn nhau, xin đồng bào mấy quả dưa “khợp” đi. Lập tức bị Mỹ Hạnh phản ứng. Hạnh nói, các anh đi làm cách mạng mà lại ăn trộm của dân à?
     Tôi đưa cho Hạnh gói lương khô. Mỹ Hạnh mừng húm hít hà rồi ăn ngay, vừa ăn vừa nói lương khô chủ lực ngon quá trời. Tôi bảo mỗi trận đánh tụi anh chỉ được một gói thôi. Hạnh ăn rồi anh phải ăn dưa thôi. Cô biệt động kêu trời, rằng bộ đội lừa nhân dân. Chúng tôi cười khoái trá và bổ dưa ăn.
     Trưa hôm ấy 29/4/75 đánh dứt điểm đồn Tân Phú Trung và Cầu Bông. Đồng bào Tân Phú Trung ào ra đường ôm lấy Mỹ Hạnh. Người ta à lên, út ơi mày đi đâu mà lâu về thế? Bỗng có mấy người mặc đồ xi - vin lẫn trong bà con lục tục tránh đạn ngoài bưng đi về nhìn thấy Hạnh liền vùng bỏ chạy. Hạnh nổ súng ngay tắp lự. Mấy đàn ông sững lại. Thì ra đó là hai thằng ấp trưởng ấp phó và lũ dân vệ ác ôn đã từng săn tìm Mỹ Hạnh bấy nay. Cuộc đời thật trớ trêu. Họ gặp Hạnh và Hạnh cũng mong được gặp họ.
     Tôi xa Mỹ Hạnh từ lúc ấy. Hạnh ở lại Tân Phú Trung còn tôi cùng đơn vị tiến vào đô thành. Tiểu đội tôi ai cũng nhớ cô biệt động Mỹ Hạnh mà chả anh nào có may mắn gặp lại cô gái ấy. Vài chục năm sau tôi trở lại Củ Chi, bà con kể cho tôi nghe sau giải phóng Hạnh được đi học làm y tá rồi lấy chồng về trên Lâm Đồng sinh sống. Chỉ có điều tiếc là cô ấy mất đã vài năm nay.
     2 Cô giao bưu ở Bến Đình Củ Chi.
     20 / 4/ 1975:
     Nơi chúng tôi ém quân ở Bến Đình có một đơn vị giao bưu. Chỗ đó nhiều cây ổi lắm. Ổi xùm xòa xuống sông. Những cành ổi gác che mái nhà cho cái trạm giao bưu này nhiều mùa mưa nắng. Trưa nóng, tôi mắc võng sát mặt nước. Nằm nhìn lục bình trôi xuôi dòng và những con cối xay lan lan chạy trên mặt nước tôi chợt nhớ nhà, nhớ ngày bé con của mình.
     Cách chừng 10 mét có một cái võng, một cô gái giao bưu cỡ tuổi tôi ngồi thõng chân nhìn bất động ra sông. Mấy ngày nay bộ đội chủ lực về đây đông nghìn nghịt kín cả triền cỏ dọc sông Sài Gòn. Bộ đội đông đến nỗi con chim sâu cũng vui. Nó nhảy nhót trên vòm lá mâm xôi ven bờ sông thủy triều lên xuống kêu như tiếng hát của lũ trẻ tí hon trong cổ tích.
     Cô gái giao bưu nhớ gì mà cô im lặng đến hàng giờ. Gương mặt thật đẹp. Cô chỉ nhìn vào đám lục bình trôi ngoài sông Sài gòn. Mặt sông lốm đốm những đám lục bình trôi. Những chùm hoa tím chĩa lên trời. Sóng sông lom tom như cá quẫy. Trưa nắng, có cả tiếng bìm bịp kêu. Sông Sài Gòn lên hơi như khói.
     Không biết người con gái ấy nhớ ai? không biết có điều chi uẩn khúc. Mặt trái soan, mái tóc kẹp cặp ba lá, ngực căng bà bà đen. Chỉ có con mắt là buồn tê tái. Tê tái ngay cả lúc trưa nắng và đầy con trai bên bờ sông im tiếng súng. Chưa bao giờ tôi thấy cô nói, chỉ nhìn đoàn quân ồ ạt trẻ trung như kẻ mộng du rồi laị nhìn ra sông. Cứ thế cô như một hòn vọng phu búi tóc.
     Buổi trưa 26/4 sau lúc được trung đoàn phổ biến chiến dịch được mang tên CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH ai cũng mừng húm. Tôi vội moi cóc ba lô nhưng tìm không thấy cây bút để viết nhật kí. Ngó sang thấy cô giao bưu vẫn ngồi trên võng nhìn ra sông, liền đánh bạo sang hỏi mượn cây bút. Cô gái móc trong cái bồng treo trên cành ổi ra cây Bic đưa cho tôi và khẽ nói, anh cầm lấy mà dùng. Không hiểu sao trang nhật kí hôm ấy tôi toàn viết về con gái Củ Chi. Tôi viết về họ, những người chiến đấu kiên cường trong vòng đai lửa thép mà ai cũng xinh cũng đẹp. Có điều ai cũng buồn buồn.
     Đêm hành quân chiếm lĩnh Cầu Bông Tân Phú Trung tôi đã nghe cô biệt động Mỹ Hạnh kể về cô giao bưu ấy.
     Năm 1974 trong một trận càn của sư đoàn 25 VNCH vào khu vực Bến Đình. Chồng cô gái là trạm trưởng giao bưu đã chiến đấu hết đạn và bị địch bắt. Họ có một đứa con trai mới hai tuổi hôm ấy cũng ở lại trạm với bố còn mẹ đi công tác chưa về. Địch bắt được hai bố con và chúng đưa ra sông buộc đá vào bố và con rồi thả xuống sông Sài Gòn. Nơi kẻ thù buộc đá thủy chôn chồng con cô gái chính là trước rặng ổi nơi chúng tôi về trú quân vừa qua. Bây giờ thì tôi biết vì sao cô gái xinh đẹp ấy đã bao nhiêu ngày ngồi thõng chân nhìn ra sông Sài gòn bất động như một hòn vọng phu.
     Một thời gian sau 30 tháng 4 năm 1975 tôi lại gặp người con gái giao bưu Bến Đình ở Bưu Điện huyện Củ Chi khi đi gửi thư về nhà. Cô ngồi trong quầy gửi thư và điện tín. Tưởng cô nhận ra mình nhưng cô nhìn tôi rồi trượt cái nhìn qua đầu ra ngoài sân đầy nắng mùa hè. Vẫn buồn, vẫn im lặng, vẫn đẹp. Ngoài kia, chiến tranh mười ngàn ngày vừa đi qua đất nước tôi và cuộc đời chúng tôi. Năm 1988 khi tôi vào công tác Sài Gòn nghe tin cô ấy vừa mới đi lấy chồng.
      3 Chị bẩy Thơm
     Lâu rồi, kể từ 1993 tôi và một người bạn dưới đài THTP thăm chị nay đã 9 năm. Hai hàm răng chị lúc ấy đã rụng mấy cái, chị cười mà không biết là chị cười. Khổ thế. Cái răng cái tóc cả hai cái đều báo hại chị. Một thời cái tên Bảy Thơm ở xã Tân Phú này ai mà không biết. Gặp chị loe hoe tóc bạc xơ, răng rụng khiến hai má lóp lại. Nhìn không ra, phải nói là: em đây chị, em là Luân 320 này. Chị à à ờ ờ rồi khóc. Khóc chán rồi chị cười. Mà em vô lâu mau? ở lại không? Bỗng nhiên chị lại khóc. Mà em ơi chị không nuôi được em bữa cơm như ngày nào đâu... Nghe buồn thế, tôi và Thành nín thinh . Ngoài vườn mấy cây lê ki ma, cây trứng gà lá rụng nâu xỉn mặt sân. 2 Cái lô cốt chắn cái cổng vào nhà chị biến mất tự bao giờ. Bây giờ chính quyền họ sắp chia lô bán đất. Nhà chị vẫn nép sau sự ồn ã của xã hội đổi mới.
      Trung đoàn 64 đánh ấp Chợ (Tân Phú Trung). Khó khăn nhất là 2 cái lô cốt bên nam đường chỗ đầu dốc ấp Chợ. Cả căn cứ này có một tiểu đoàn địch hỗ trợ cho cầu Bông cách đó chừng 800 mét. Cô biệt động Mỹ Hạnh ghé tai tôi lúc còn ở trên An Nhơn Tây. Anh yên tâm đi, điều nghiên cụm lô cốt Tân Phú Trung em đã nhắn nhe chị Bảy Thơm. Tôi hỏi lại, bảy Thơm là ai? Mỹ Hạnh trả lời, chỉ là cán bộ phụ nữ nhà sát ngay phía sau đồn địch. Hàng rào dây thép gai lô cốt Tân Phú Trung vào mép vườn nhà chỉ. Lát nữa khi đến Bàu Trâm sẽ gặp bảy Thơm để chỉ đưa sơ đồ cụm lô cốt đó anh hai. Chỉ cũng sẽ là người dẫn đường đại đội đánh bộc phá đó anh
     Đêm ấy tôi gặp chị lúc trăng mờ mờ ngoài đồng dưa leo. Chả rõ mặt nhưng thân hình eo ót và lanh lẹ lẩn vào đêm. Trận đánh hôm 29/4 cũng may mắn là nhà chị không bị trúng đạn hay bị cháy. Chị khoe cái hầm giữa nhà xây cất từ năm Mậu Thân kiên cố lắm. Bên trên là một cái phản rộng bằng bê tông đúc dày đến 15 phân ba hàng mễ vâm vu làm thành mái chắn mảnh pháo. Chiến tranh bom đạn nên gặp rồi xa chẳng ai nghĩ có thể gặp lại chị.
     Một tuần sau ngày 30/4 Sư đoàn 320 trở ra Củ Chi đóng quân. Tiểu đoàn tôi lại đóng đúng ngay ấp Chợ. Chúng tôi ra thăm cánh đồng chôn hơn ba mươi tử sĩ của tiểu đoàn hôm 29/4, đi lại những bờ mương, những dặng bằng lăng còn nhuốm màu khói súng. Cuộc sống của dân làng đang còn ngơ ngác thăm dò. Chúng tôi vào ngôi nhà gần cái lô cốt oái oăm kia xin nước và tắm nhờ. Ông già quắc thước chừng ngoài 60 mặc quần cụt ngồi khoanh chân trên phản. Ông nói nghe sang sảng, con bảy lấy cho mấy chú muợn cái thau. Ông phẩy phẩy cái quạt, tắm rồi vô chơi. Chúng tôi múc nước giếng tắm ào ào. Rồi vô sân kiếm cái ghế ngồi. Ông già kể, sáng 30/4 tao một mình một xe dắt con dựa bám theo bộ đội vô thành phố, suốt cả ngày không thấy thằng hai thằng tư tao mới về. Mới giải phóng mà có ông già gọi quân giải phóng là mày xưng tao cũng thấy chờn chợn. Ngồi nghe vậy thôi mấy thằng chưa dám hỏi gì. Ông bảo, mai vô đây tao kêu con bẩy nướng bánh tráng nhậu vài li đế chơi. Tò mò quá. Nhậu bánh đa nướng với rượu đế? Chưa bao giờ tôi từng biết. Tối sau chúng tôi lại vào. Chị bẩy nướng mấy cái bánh đa và thái mấy qủa soài xanh. Bánh đa Củ Chi có tiếng chả kém gì Trảng Bàng đâu hà. Ông nói rồi đưa li cho chúng tôi. Ông đưa li nào thì tôi uống li ấy. Hồi đó tôi chưa từng uống rượu nhưng cứ uống và thấy cũng hay hay. Rồi nghe ông kể. Trong lúc ông kể thì chị bẩy lụi hụi gọt thêm soài, nướng thêm bánh. Ôi thì ra là du kích Bảy Thơm tôi đã gặp ngoài đồng cái đêm vào đánh ấp Chợ. Từ lúc ấy tai nghe câu chuyện ông già kể còn mắt thì nhìn chị Bảy. Tấm áo bà ba căng căng. Mặt cúi xuống hiền khô chả thấy ngẩng lên.
...Thằng hai đi tập kết theo mấy anh mới mười mấy tuổi. Lớn lên thằng ba thằng tư kém nhau mỗi đứa 2 tuổi, cũng đi giải phóng lúc mỗi đứa vừa mười tám. Thằng năm mãi tới 71 cũng đi huyện đội. Cái năm 70 thằng Ba bị bắn chết trên Tân Thông, tụi nó đưa xác về để ngoài chợ phơi hai nắng. Đêm tao mò ra lấy xác nó đem chôn. Một mình một cây dựa tao vác nó ra tận ấp bàu trâm. Rồi ông khà. Ông ngó ra ngoài vườn. Chị bẩy cũng thở dài nhìn vào đêm. ….ông nói tiếp …30 /4 tao mừng quính quáng tao dắt cây dựa nhằm đường qua thành Quan Năm theo bộ đội đi tìm thằng hai thằng tư thằng năm. Tao hỏi chả ai biết thằng Hai thằng Tư với thằng Năm là thằng nào. Bộ đội chỉ cười bảo tao chắc các anh ấy ở cánh quân khác. Biết bao nhiêu là cánh quân tao tìm sao nổi. Năm ngoái tao nghe có người trên huyện mới ở ngoải về nói thằng Hai được đi Nga xô học làm cũng lớn lắm ở ngoài Y tế. Thế nào mà nó chả theo về giải phóng. Thằng Tư đi bộ đội xuống tận Bến Tre. Thằng Năm dông lên Tây Ninh. Hôm nay vẫn chưa đứa nào về. Tao ở cái vườn này từ ngày thằng Mĩ chưa xây cái lô cốt kia. Nó làm lô cốt rồi, nhà mình rặt bộ đội với tập kết ai cũng kêu bỏ đó đi. Tao thây kệ tao cứ ở đây nó mới ngán. Tao chả đi đâu hết ngày tao ra đồng tối tao về ngủ. Con bẩy đi phụ nữ tau kêu liệu mà giữ lấy thân.
     Chị bẩy mặn mòi, chị làm phụ nữ xã nhưng hoạt động hợp pháp. Hai mươi lăm tuổi chưa có chồng. Nghe đâu có thương anh nào đó trên bộ đội Củ Chi mà ảnh hi sinh rồi. Mươi ngày sau chúng tôi về đóng trên Đồng Dù. Vài tuần được ra khỏi doanh trại một lần, lại chạy nhờ xe honda xuống Tân Phú Trung ghé vào nhà chị. Ông kêu chị bảy nấu cơm ăn, ngồi với ông học uống rượu đế. Một bữa thấy nhà đông hơn, có người đàn bà và hai thằng nhỏ 6, 7 tuổi. Chị bảo vợ và hai con anh Tư ở Bến tre về. Anh Tư hi sinh từ năm 1970 cùng năm anh Ba. Tháng 8/75 tôi đến chị mừng quýnh khoe mày lâu không xuống nên không gặp anh hai. Ảnh về rồi, học ở Nga Xô về mang cả vợ người bắc nữa. Ảnh làm cục phó cục gì gì về dược đó, ở nhà vài bữa rồi đi ở dưới thành phố. Chị ba về lại Bến Tre, hai đứa con để đây ở với nội, tao nuôi luôn. Rồi sau đó là làng quê giải phóng thay da đổi thịt hừng hừng vô tổ hợp, tập đoàn. Cái cầu Bông cách ấp Chợ non cây số cũng xây lại, mang cái tên cầu An Hạ. Cánh đồng phía tây ấp Chợ có một con mương đào lấy nước mang cái tên Phạm Văn Hai, rồi nông trường này nọ mọc lên. Những dặng bằng lăng ngoài bờ ruộng chỗ còn chỗ chặt đi. Đôi chỗ bằng lăng còn xót lại hoa vẫn tím ngan ngát mỗi độ tháng năm về. Năm 2003. Tôi đi công tác, lên thăm Tân Phú Trung. Con đường xuyên Á rõ to và phẳng đẹp. Dừng lại ở cầu Bông nhìn xuống dòng nước rợp những thân dừa nước và lau sậy khi xưa bây giờ chỉ thấy là quán sá. Cái chợ xưa vẫn còn đó. Cái dốc lên chợ nay ít dốc hơn. Chỉ có một đặc điểm là những bờ mương, bờ ruộng vẫn đầy kịt lục bình như xưa. Củ Chi vời vợi xa mà gần sau tiếng búa máy và xe cộ xoe xóe ngoài đường.
Nhà chị bẩy vắng quá. Cái cổng cũ biến đâu. Tôi và bạn mình đi vòng lối sau vào nhà. Cái vườn chia năm xẻ bẩy bằng rào ô rô khô tái. Chị bẩy móm mém. …”Nội mất rồi, hai thằng cháu đi làm phụ hồ rồi đánh bạc cá cước bóng banh chi đó. Người ta xiết nợ. Chị có tiền góp hui rồi bể hụi. Vườn bán dần giờ chỉ còn cái xác nhà... “
     Tôi hỏi chị trả nợ xong chưa? chị bảo hai đứa cháu con anh Tư lấy tiền bán đất trả nợ rồi đi biệt. Trả hụi chưa hết chị tính bán nốt cái nhà rồi lên Tây Ninh tá túc nhà anh Năm. Chị ba về Bến tre lấy chồng khác con cái lúc lỉu đỡ sao được nữa. Anh Hai cũng mất vài năm nay. Chị Hai bán nhà đưa con về bắc. Chị Bẩy bảo chả lo gì, chỉ nghĩ nếu về Tây Ninh ai hương khói cho cha và anh ba trên An Nhơn Tây.
     Trước mắt tôi chị bẩy Thơm phụ nữ 30 tháng tư vẽ sơ đồ đồn Tân Phú ngày nào giờ là một bà già móm mém trong ngôi nhà vắng. Ngoài kia tiếng máy ủi máy búa đang rầm rập thi công khu công nghiệp Tân Phú Trung. Cái vườn có những cây lê ki ma vẫn xanh mướt nhưng đã là của người khác. Bờ ao hoa lục bình thì vẫn tím.
     4. Người yêu của lính phía bên kia.
.....Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên 1975
     Đánh vào thị trấn Buôn Hồ ngày 12/3/75 chúng tôi lính E64F320 ào lên thị trấn vào lúc gần trưa. Một trận địa pháo 4 khẩu 155 li không còn một tên lính nào. Vừa lúc trước nó còn nã đạn vào chúng tôi ở phía bên kia cánh rừng Cà phê Buôn Hồ. Thế mà giờ đây chỉ sau một giờ 30 phút bộ đội ta nổ súng và xung phong họ đã biến mất. Họ bỏ pháo bỏ trận địa chạy về hướng đông. Chúng tôi vượt qua anh em cối 120 của sư đoàn còn đang khiêng vác ì ạch để tiến vào khu chỉ huy trận địa pháo binh. Trước khi rút chạy lính đối phương đã kịp gài lựu đạn. Căn nhà chỉ huy có dây mìn giăng ngay các cánh cửa sổ. May mà bọn tôi phát hiện ra, rồi gỡ mìn. Từ lúc ấy lính ta dò dẫm chứ không ào ào xông xáo nữa. Tôi thận trọng lò dò bước qua cửa, nhìn căn phòng của tên trung uý đại đội trưởn Tiền đồn này cũng đơn xơ, nhưng chỗ ở của tên này ngay ngắn và rất nhiều sách (!) . Tôi nhấc mấy cuốn sách của Hemingway trên cái kệ đầu giường hắn ra, có một phong bì lớn ( loại phong bì công vụ của QLVNCH ) . Tôi rút ra một tập thư. Ngay lá thư đầu tiên tôi biết là thư của con gái. Quay trở ra mấy thằng hỏi mày kiếm được gì không? tôi bảo nhiều lắm, biến thôi . Tập thư tôi nhét ngay vào bụng áo .
     Ngay sau đó lệnh trên cho chúng tôi tiến vào Buôn Hồ 2 , tức là vùng thị trấn mới phát triển cách đó chừng 3 cây số. Một cánh rừng cà phê ngút ngàn gần một cái hồ nước thật xanh và sâu thẳm. Dừng chân triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu khi có quân đổ bộ đường không. Tôi lặng lẽ giở thư ra đọc. Tất cả 25 lá thư của một người con gái Sài gòn H. T. H. Nhung gửi cho thiếu uý và nay là trung uý Thái Anh T .
     Tôi đọc say xưa và trong tôi hiện ra một đêm người sĩ quan trẻ từ Cao Nguyên về Sài gòn thụ phép, gặp cô sinh viên luật khoa năm nhất ở một nhà người bạn …. Rồi những ngày cô ấy nhớ chàng thiếu uý và đã từng bay lên cao nguyên, đã từng lặn lội tới nhà người anh trai mình đang là chỉ huy một phòng trong bộ Tổng tham mưu để nhờ chuyển cho bạn trai mình bộ sách “ chuông nguyện hồn ai ’’ và “Giã từ vũ khí ”. Những kì nghỉ chớp nhoáng của trung uý T về sài gòn, những cuộc gặp nhau đẫm nước mắt và nụ cười lãng mạn đẹp đẽ. Càng đọc về sau càng hiểu họ yêu nhau, yêu mê đắm. Giọng văn của thiếu nữ miền nam thật mới mẻ với chúng tôi. Nồng nàn chân thật trong yêu đương, vừa nũng nịu vừa thiết tha căn dặn.
     Đọc thư của họ mà mình cũng thấy cuộc đời đáng yêu đến thế. Việc lấy thư từ của đối phương mà đọc hẳn là một khuyết điểm lớn. Nhưng chả cứ gì một mình tôi, nhiều người khác cũng làm liều như thế vì lính bên này hay bên kia cũng đều yêu thương cha mẹ vợ con mình giống như nhau. Dù vậy tôi cố gắng không để cho đồng đội xung quanh biết. Nhưng có lá thư hay quá không thể nín nhịn một mình được bèn gọi mấy thằng xúm vào cùng nghe. Cứ tưởng chúng nó chê mình hữu khuynh, tư tưởng lệch lạc đọc thư của đối phương. Ấy thế mà nghe tôi đọc chúng nó cứ im thin thít. Có thằng thở dài ... có thằng khịt mũi liên hồi. Tôi cũng thở dài rồi cả tiểu đội im lặng. Chính trị viên không biết, đại trưởng cũng không biết, chỉ có chúng tôi biết với nhau.
     Chiều hôm ấy hành quân đi đánh Cư Pao. Một cứ điểm nằm trên đường 14 cách Ban Mê Thuột về phía bắc chừng 20 cây số, chúng tôi lại có thêm những lá thư của lính. Rồi tiếp tục là những ngày truy kích trên đường 7 chân tơ tướp máu, những trận đánh cứ liên miên suốt tháng ba. Dọc đường chiến trận tôi lại thu được nhiều những ba lô mà lính địch bỏ lại, nhưng chỉ nhặt những lá thư hay các tấm ảnh của họ để xem. Trong tôi đã từng nhớ những tấm ảnh của nhiều cô gái là vợ là người yêu của lính đối phương. Những người đàn bà mà tôi cũng thấy yêu quí. Tôi cứ phân vân, hình như mình đã hữu khuynh sai lầm chi đó. Thế nhưng hình ảnh những người phụ nữ ấy cứ hiện lên cùng với hình ảnh mẹ tôi và các bạn gái của tôi ở trường cũ.
     Một hôm hành quân mệt quá rồi, dừng lại là nằm lăn quay ra rừng. Có thằng gọi to: Luân ơi đọc thư tình đi. Tôi lấm lét rút ra một lá thư đọc cho cả trung đội nghe. Thằng nào cũng nuốt nước bọt nơi cổ họng chả để ý gì xung quanh. Đúng lúc ấy anh đại đội trưởng đi lại, anh ấy ngồi xuống lặng lẽ. Đọc một lá thư con gái thôi mà cái mệt tan đi nhanh quá. Thằng nào cũng tưởng rằng đó chính là tiếng nhắn nhủ của người yêu mình. Rằng sự yêu thương của người con gái nó lớn lao quan trọng thế nào với người người lính chiến biền biệt ở trận tiền. Rằng, tình yêu không có biên giới, tình yêu không thù hằn, không có phía bên này hay bên khác. Tình yêu ở mọi phía giống nhau. Tình yêu không có ta và kẻ địch, nó chỉ là khát vọng sống, khát vọng được yêu thương. Tình yêu chỉ làm cho cái thù hằn trong con người bớt đi. Nó chỉ làm cho trái tim thêm dòng máu tươi đỏ. Tình yêu là tiếng nói chung vì đó là trái tim con người, ước muốn của chung con người.
     Rồi những ngày sau, chiến dịch cuốn như lũ, chúng tôi đánh ra tận bờ biển Tuy Hòa rồi lại lên đường đi đến chiến dịch cuối cùng. Chúng tôi tiến vào Sài Gòn khi chưa kịp chuẩn bị nghĩ là mình sẽ gặp Sài Gòn.
     Sáng ngày 1/5/1975 Tôi được chọn thay mặt chiến sĩ trung đoàn 64 sư đoàn 320 giao lưu gặp gỡ với các Thày giáo và học sinh sinh viên tại trường trung học Lê Quí Đôn. Đây là ngôi trường ở gần sát với Dinh Độc Lập). Buổi trưa hôm ấy, chợt nhớ ra địa chỉ từ những lá thư của cô SV Luật khoa HTHN với chàng trung uý pháo binh Thái Anh T…trên Buôn Hồ. Giữa thành phố Sài Gòn đầy nắng tôi thấy hiện lên cặp đôi trai gái Sài gòn mà tôi như đã thân quen. Tôi đi dọc đường Trần Hưng Đạo tìm đến nhà ….x15. Đường phố to quá, dài quá, đi mỏi cả chân. Cái số ….X15 cũng nhiều nhà sau một cái cổng sắt to. Tôi bần thần đứng ngoài cổng nhìn vào. Những bậc tam cấp những vòm hoa lơ đãng dửng dưng. Cô gái có tên HTH Nhung ở đây ư? Hỏi ai bây giờ nhỉ? và nói mình là ai? Chả nhẽ nói tôi đuổi người yêu của cô chạy tóe khói rồi lấy thư tình của cô để mang ra đọc. Đọc mãi rồi nay lai tìm gặp cô ư? Những người con gái 30 tháng 4 mang những số phận chả giống nhau. Họ là những mảnh ghép yêu thương của đất nước tôi từng mấy mươi năm lửa khói
     Tôi quay trở về.
    Sài Gòn nắng tháng năm vàng như mật. Thành phố ngày đầu tiên giải phóng lâng lâng bàng hoàng. Tôi khoác khẩu AK báng gấp đội mũ tai bèo chìm vào trong dòng người và xe cộ với không gian còn đang ngơ ngác. Trong tôi bần thần hiện lên câu hỏi, trung uý Thái Anh T bây giờ ở đâu nhỉ? Anh ta còn sống hay đã tử thương? Còn cô gái mang cái tên thật đẹp HTH Nhung ấy bây giờ còn ở lại thành phố này hay đang lênh đênh trên biển? bỏ lại đằng sau là thành phố Sài Gòn xinh đẹp và tình yêu nồng nàn một thời với một người trai lính chiến .
Hơn bốn chục năm rồi, nhớ lại chuyện đọc thư tình của lính mà lòng tôi vẫn bâng khuâng
***
    Bốn mươi sáu năm sau. Ngày 30 tháng 4 lại đến. Trong ngất ngây những kí ức về ngày thống nhất tôi vẫn bâng khuâng nhớ về những người phụ nữ tôi từng gặp họ từng thấy và nhớ về họ vào lúc đất nước thu về một mối qua đau thương hệt như con tằm lột kén, họ thật đáng trân trọng và yêu quí biết nhường nào.

Tháng 4 năm 2021 - NTL

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2023

BÀI THƠ THÁNG TƯ

Tháng tư nắng
Tháng tư đỏ
Phượng châm đèn lên lửa
Tháng tư trắng
loa kèn long dong thành phố
Tháng tư bụi
Những dự án lầm lên những con đường
Tháng tư hoa mộc miên rơi tàn biên cương
Tháng tư lúa xanh trời mây trắng
Tháng tư người đi theo hướng cũ đi vào
Tháng tư xôn xao
Phố Hà nội gốc cây cổ thụ đang ứa nhựa
Tháng tư cháu con phờ phạc cuối học kì
Tháng tư nào chúng tôi cũng đi
Những cuộc đi này chỉ còn đôi mươi năm nữa
Rồi tháng tư lại về bình dị
Bốn mùa xuân hạ thu đông
Tháng tư trời trong
Tơ tướp bàn chân chiến dịch
Tháng tư bầm bầm lửa và đạn nổ
Hầm hập những nụ cười mồ hôi lẫn máu gọi nhau
Tuổi hai mươi tháng tư nằm đâu
Mẹ cha chữ nghĩa xác xơ
Vần vũ danh hiệu nhân dân
Tìm tên con mình trên tờ báo hành quân
Gọi tên con xanh đồng xanh lúa
Thế hệ chúng tôi có một tháng tư để nhớ
Cuối con đường chúng tôi đi mang tên là
Thống nhất
Chúng tôi không thể đếm bao nhiêu cây cầu dọc hướng Bắc- Nam
Bạn chúng tôi cùng đội ngũ hành quân
Tập kết từ ngày còn bé
Mắt tràn ánh cười ứa lệ
Quê tao sắp đến rồi.
Ơi rừng dừa ơi biển mặn miền Nam ơi.
Tháng tư không kịp thấy nắng trên đầu
Nắng bay vụt qua tóc xanh hối hả
Không kịp gửi lá thư cho em yêu
Khi thấy dừa Tam quan uốn còng lưng xuống bể
Không kịp giận đối phương ùa ra tàu di tản
Tháng tư sáng vào mắt đồng bào
Tháng tư gọi nhau bằng nước mắt
Những nén hương cắm vào lòng đất hỏi tháng tư đâu?
Suốt chặng đường tiến về Thành phố
Nhiều người không nhớ nữa
NGười lính chúng tôi nhớ từng mộ chí ven đường
Chúng tôi nhặt sách giáo khoa trên mù mịt con đường
Đọc lá thư kẻ còn người mất
Chữ nghĩa nhập nhòe tiếng khóc
Mồ hôi anh mồ hôi em
Thơm thơm trên giấy
Tháng tư vùng ven tháng tư thành phố
Bồn chồn mưa chớm hạ trời Nam.
***
Tháng tư này tạm biệt vợ con
Mang nắng mới đi về miền của nắng
Hoa sáng nay hương hè phố cổ
Những chuyến xe bạc tóc đường vào
Những kí ức xôn xao
Yêu như hồi xưa cũ
Cứ nôn nao
Gặp lại cái tôi tuổi trẻ
Cười ứa lệ
Tháng tư ơi
Đừng buồn vì phố cũ đốn hạ cây
Ta đang đi về miền cây xanh lên mật ngọt
Nơi có rất nhiều hài cốt bạn của ta
Những cánh rừng ta từng qua
Đốt cháy Trường sơn ngày ấy
Chồi lại lên
Tháng tư lại qua Bến Hải quê em
Qua Thạch Hãn ngóng đò xuôi Cửa Việt
Qua Tây Nguyên rồi về Xuân Lộc
Sông Sài Gòn nườm nượp lục bình trôi
Em gái Củ Chi ơi
Hoa Giấy chói chang đường Xuyên Á
Tiếng Dế kêu tháng tư trong trang sách cũ mèm
Lò bánh tráng lên hơi
Dọc tháng tư về thăm nhà của má
Người trẻ vô tư còn ta thì nhớ
Tháng tư như mực đổ trên bàn
Ta đứa học trò bâng khuâng
Giấy thấm bốn mươi năm chưa một lần khô nước mắt


22/4/2015
Nguyễn Trọng Luân

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2023

RAU TẬP TÀNG

     LÂU rồi tôi lại nghe nhiều đến cái từ rau tập tàng. Ở các nhà hàng Hà Nội có nhiều chỗ có món canh tập tàng. Ai cũng khen ngon, ai cũng thấy nửa lạ nửa quen. Người ăn chả ai nói ra nhưng trong đầu người nào cũng nghĩ về một thủa nào đó họ đã ăn ở quê cùng với bố mẹ và các em mình.
     Rau tập tàng nhiều nhất là tháng ba. Mưa phùn rồi tời nửa nắng nửa râm khiến cỏ ngoài đồng tốt vù vù. Rau tập tàng chính là thứ cỏ ấy chứ chả ai mang về vườn nhà mà trồng. Trồng ở trong vườn nhà thì gọi là rau nhưng những thứ cây dại mà ăn được cũng gọi là rau. Đo là thứ rau dại. Họ gọi là rau tập tàng. Rau là một thứ danh từ mở mà có lẽ tôi đồ rằng càng ngày càng nhiều lên vì sự khoa học lai tạo chứ còn rau thật sẽ ngày càng ít đi. Nhưng không thể mất rau tập tàng vì mặt đất sẽ không bao giờ mất cỏ. Cỏ là nông dân mà lị.
     Vài tuổi tôi đã biết đi hái rau má, rau rệu, rau cải thông, rau tầm phóp. Nhớn tí nữa đi học cấp 3 ở trọ một làng quê Yên Bái tôi ra bãi soi bờ ngòi hái rau sếu, rau sam, rau chôn chén, rau muối. Mùa đông tôi hái rau đùi ếch, rau tróc ở những dộc ruộng lầy. Trên đường đi học về tôi hái rau dớn, rau dền gai ven suối. Có những thứ rau mọi người quen biết như rau sam, rau tòm phóp vì gần đây những quán lẩu Hà Nội đã có rau tòm phóp. Thứ rau vị thanh mà hơi ngăm ngăm đắng dễ đưa rượu làm sao. Rau Sam thì ai cũng biết. Ấy là một thứ thân đỏ hoa vàng thật đẹp, nó cứ lan lan trên đất và khiêm nhường không bao giờ ngỏng lên cao. Ấy thế là với tôi tôi từng ngắm hoa rau sam hàng giờ và cứ nghĩ thân đỏ hoa vàng chắc Sam là thứ nhất. Bạn đã ăn rau sam chưa ? Ngọt lắm, nhất là trưa nắng bát nước luộc rau sam rau dền chung vào nhau thì có nhẽ chả có nước sinh tố nào hơn nó. Ở quê, ngày xưa sau trận ốm đau dân quê tôi chỉ đi hái rau búp vông, rau sam, rau má nấu canh mà tẩm bổ. Khá hơn thì kho con cá với đầy nồi lá đinh lăng. Mụn nhọt thì giã lá rau sam, rau diếp cá đắp vào. Cảm nắng thì đun nước rau má thổi nguội đi mà uống. Có một thứ rau khúc. Chắc cũng chỉ dân quê mới biết. Ở những cánh đồng ngô quê tôi nhiều rau khúc lắm. Rau khúc luộc ăn cũng được nhưng chả mấy ai ăn chỉ để giã ra làm bánh khúc. Bánh khúc thì nhiều người biết nhưng lá rau khúc thì ít người biết. Họ bảo, cần gì biết cứ ăn ngon là được. Lâu rồi đêm khuya trên đường phố Hà Nội có tiếng rao …ai khúc đê.. khúc đê chính là thứ bánh họ giã cái lá khúc một trong các thứ rau tập tàng mà thành đặc sản.
     Mẹ tôi sinh tám anh em, tôi là con cả nên tôi biết khi mẹ đẻ em bé mẹ rất thích ăn rau đắng cẩy. Thứ rau tháng ba này mọc xanh mưởt và rất nhiều kiến đen. Mẹ bảo tôi đi hái rau vông. Rau vông tức là búp cây vông non mọc tháng ba mơn mởn. Cả rau vông và rau đắng cẩy mẹ hấp vào nồi cơm rồi chấm với muối nướng. Mẹ bảo ăn thế này cho lành và tránh hậu sản. Lớn lên rồi, mẹ mất rồi càng nghĩ càng thương mẹ. Sinh tám người con số rau tập tàng mẹ ăn có nhẽ hàng tạ. Thời ấy nhà nghèo chỉ có thế thôi mà cũng chả lấy gì tẩm bổ cho mẹ. Ấy nhưng nghĩ lại những thứ tập tàng ấy bây giờ trên quảng cáo họ ca ngợi rình rang đến khiếp. Họ ca ngợi cây thông đất cây rau sam cây rau má cả cây gai đùm đũm (quả mâm xôi) …quê tôi mà chúng tôi đi chăn trâu bẻ ăn hàng ngày…vân vân mây mây. Nghĩ lại rau tập tàng quê tôi sao mà quí thế. Ít nhất một thời tôi đã ăn rất nhiều thứ rau quý ấy mà không biết.
     Cũng nhờ nghèo khó mà biết nhiều rau dại rau rừng nên đi bộ đội tôi cũng biết đi kiếm rau về ăn thời rừng đói. Ở Tây Nguyên tôi vặt những chùm lá cây vón vén thái nhỏ để trộn với thân cây chuối rừng cho tí mì chính vào thành món nộm tuyệt vời. Hành quân Trường sơn tôi vặt chùm lá bứa non dắt vào ba lô để chiều trú quân nấu nồi canh chua thả nhúm ruốc là ngon mê hồn. Lúc còn đánh nhau ở chiến trường chúng tôi thái rau tàu bay muối chua trong các túi ni lông vỏ bao gạo Trung quốc. Rau tàu bay muối chua vàng đẹp hơn dưa cải. Tết nào cũng có món dưa Tàu Bay ăn tết. Bao nhiêu rau rừng Tây Nguyên đã nuối sống chúng tôi những ngày đánh giặc. Có nhiều thứ rau không biết tên mà lính Tây Nguyên cứ ăn rồi đặt tên nó thành tên của người lính hái mang về. Rau thằng Hoan, rau thằng Sỹ, rau thằng Luân…. Có những thứ rau mang tên thằng đã hi sinh chúng tôi bữa nào ăn cũng khóc. Ôi thế mà nỡ gọi nó là tập tàng.
     Tháng ba. Quê nhà lúa cấy mới nhú nhưng măng đắng đội đến đâu rau tập tàng mọc đến đó. Người quê đi xa có người hàng chục năm nay chả biết đến thứ rau nuối sống mình khi xưa nghe nhắc cái tên lại cũng thấy rưng rưng.

10/3/2023 (theo ngày đăng trên FB của tg)
Trọng Luân

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

THÁNG BA



Chòng chành tháng ba tới
Hoa nhãn bung cốm rồi
Có đàn ong hay chuyện
Dập dìu hoa rơi rơi

Nắng thì loe lên áo
Cười thì níu lên môi
Có nàng mong rét lại
Để hôn cho ấm người

Trọng Luân

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2023

THÁNG HAI




Tháng 2 chật hẹp thế
Nóng lạnh cứ chen nhau
Đêm và ngày nghiêng ngả
Lẫn cả tỉnh vào say

Tháng 2 trời vắn thế
Nhóang đã thấy cạn ngày
Bao nhiêu là li rượu
Cũng cạn theo đào phai

Mùa xuân mà chật chội
Nỗi niềm va vào nhau
Va vào bao điều ước
Va vào xưa vào nay

Người va vào hò hẹn
Vấp nỗi buồn rất xưa
Thế gian người càng đẹp
Ngoảnh nhìn về ngày mơ

Bao nhiêu là hối hả
Để tháng 2 thiếu ngày
Ta giăng sợi tóc trắng
Đếm những là tháng hai


 Nguyễn Trọng Luân.

Ảnh : Đầm Đồng Phai ở làng tôi sau tết.

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

RA GIÊNG



Ra giêng trời cũng nhảng cao hơn
Búp lá trong vườn cựa mình từ trước tết
Mưa đọng tím ở trên vòm khói bếp
Họ nhìn nhau môi cứ thể muốn cười.

Trống tòng quân thì thùm gõ bên đồi
Xóm nào cũng chia tay nhau rối rít
Có những cánh đồng vẫn chưa cấy hết
Thanh nữ nhà quê lau nước mắt buổi lên đường.

Ra giêng mẹ vơ cỏ ngoài đồng
Lúa gạo chỉ tháng nữa là vét hết
Lũ học trò rước những lá cờ rất đỏ
Tiếng trống trường hồi ấy quá là vui

Tháng giêng soi cá ngủ đồng ngoài
Bài tập làm văn cứ nửa quên nửa nhớ
Tháng giêng dọc đường làng búp xoan lên nhanh thế
Tết trồng cây như thể đã hết rồi .

Người tòng quân tháng giêng đi đã hóa xa xôi
Làng cũng chả mấy người nhớ nữa
Cũng chả có mấy người nói những lời rất cũ
Mới tết mà đã cạn tháng giêng


27/1/23
Trọng Luân

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2023

TẾT TUỔI BẢY MƯƠI




Chiều ba mươi những con đường bỗng vắng
Ta chợt như tiếng từ thuở xa về
Chẳng có mùi bánh chưng và khói bếp
Những phố dài phờ phạc kiếp đào, lê.

Vợ thơ thẩn ở một khuông chợ vắng
Kiếm đủ cho lọ hoa tết heo gầy
Có thược dược vắng đồng tiền lạ thế
Cạn chiều rồi lay - ơn ở đâu đây

Không có đủ vài bông vi ô lét
Tím làm sao ngày rét mướt cuối năm
Không có khói nồi bánh chưng lép nhép
Trong mưa phùn tết cứ hóa xa xăm.

Ấy là ta đã già nên nghĩ thế
Chứ này Lan Ly với Hồng Đào .
Giò với bánh chọc mạng là lên hết
Tết ngày xưa đã xa thế rồi sao ?

Chiều mồng một ngồi bên li rượu trắng
Miếng bánh tầy * ít đỗ đĩa tròn xoay
Sao tôi bỗng thấy một thời xa vắng
Bố mẹ về nén hương cuộn chiều nay

Chiều tối mồng một tết Quý Mão.
(22/01/2023)
Trọng Luân

* Bánh tầy - thứ bánh chưng gói tròn dài của quê Phú Thọ.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

Viết ở Thành phố sông Kỳ Cùng



Tôi ngẩn ngơ tìm nàng Tô thị
Bế con đi đâu từ ấy đến giờ
Con đường bụi cứ mờ lau cỏ
Ai chở mía về gió bấc tím biên khu

Ta dừng lại cầu Khánh Khê chiều vắng
Thương Mế già bán quýt ngó về xa
Có một thủa quân qua sông trăng sáng
Tiếng súng rền sườn núi buốt sương sa

Hoa lau trắng sao mà hoa hiền thế
Sông yêu ơi sao tên gọi Kỳ Cùng
Những chợ phiên tìm đâu Si và Lượn
Đêm buông sương Phai vệ lúng liếng cười

Chưa kịp cùng nhau lên pháo đài cũ
Đã thấy lòng thổn thức gió trùng xưa
Mấy ngàn năm gan góc hồn biên ải
Lạng Sơn ơi chàm sẫm áo đến giờ

Thành phố lẫn những hoa và đá
Những chợ đêm giọng cũ giọng Kì Lừa
Ai hát Lượn mía Tam lung ngọt thế
Một khoảng rừng hoa sở trắng ngày xưa

Ta gặp bạn mấy chục năm xa cách
Tiếng Lạng Sơn cười vang cả rừng già
Người của núi ngực vồng như lửa bếp
Soi nhìn về phía những ngày xa

Đêm xứ Lạng cứ như là cổ tích
Dấu cha ông đuổi giặc ống đồng
Con đường kẻ thù khiêng nhau về biên giới
Lau trắng buồn bụi vẫn trắng chiều hôm

Ơi thành phố dựa lưng vào vách núi
Dang tay ngăn cho tiên tổ yên bình
Sông vẫn chảy ngàn năm quanh bờ cõi
Cánh áo chàm hiền như thể bình minh

Anh bỗng thấy mình thành con trẻ
Khi cùng em về thành phố có Kỳ Cùng
Giờ mới hiểu tổ tiên mình là thế
Yêu đến cùng ngọn núi dòng sông

Một chiều rất lạnh ở TP có sông Kỳ Cùng

16/12/14
Trọng Luân
 

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2022

CỰU CHIẾN BINH ĐI BỘ



Cứ một tiếng thì được nghỉ giải lao
Tiểu đoàn trưởng xem đồng hồ rồi hạ lệnh.
Hạ ba lô nghỉ tại chỗ.
Những tiếng phì phò bỗng thành ha ha!

Cái điếu cày bé xíu rít ngân nga
Xoay vòng đến chỉ huy là xuất phát.
Khẩu lệnh ban ra lúc vui lúc mệt
Thủ trưởng bảo đấy là khúc nhạc Trường Sơn.

Cái nốt trầm là lệnh hành quân
Nốt cao nhất là lệnh dừng chân trên đỉnh núi.
Trường Sơn ơi mưa dầm nắng xối
Cứ một giờ lại một đận nghỉ chân

Bao nhiêu chuyện làng chuyện trước lúc tòng quân
Chuyện bạn gái giải lao kể từng tí một.
Có bao nhiêu mối tình tiểu đội mình kể suốt
Để Trường Sơn như tết mỗi cung đường.

Bạn hi sinh chuyện vẫn ở lưng chừng
Bao nấm đất có bướm rừng bên người chết trẻ.
Bao câu chuyện cuộc đời giữa rừng loang mộ chí.
Thầm thì tiếng người hoang vu

Nay về già đi quanh quẩn chung cư
Lại cố đến một gốc cây để nghỉ.
Có cựu chiến binh sáng nay ngồi thở
Một cánh phượng hồng rơi nốt lặng vào vai.

29/5/2022
Trọng Luân

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2022

TRĂNG THÁNG CHẠP




Sương lạnh tan vào trăng
Ta uống men nhớ nhung …tháng chạp
Mái tóc nửa đen nửa bạc
Ai người ngắm trăng đêm nay?

Những đêm trăng cuối năm thêm nhớ
Buồn vui pha tan như sương
Tháng chạp trăng nghiêng ngoảnh lại
Cột thời gian thêm một quãng đường

Ta pha trăng sương vào chén rượu cuối năm
Soi thấy bao gương mặt bè bạn
Thấy ngày xa về mơ mộng nhẹ như mây
Cả những kẻ thù đã bị ta bắn hạ
Cuốn đi cùng trăng dưới chén rượu cuối năm này


HN 2008
 NguyễnTrọng

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2022

CHIỀU NAY*



Chiều nay con về với mẹ.
Nén hương cũng tím vào chiều.
Có chuyến tàu hàng lên ngược.
Tiếng còi tàu cũng gian lao.

Mẹ cha nằm trên đồng gió.
Tiếng con tàu tiếng hư không.
Mải miết đi vào chạng vạng.
Bốn mùa hết thu sang đông.

Trọng Luân
28.11.2022**

* Tựa đề này do Minh Hương mạn phép đặt. Vì vào trang fb của anh Trọng Luân đọc bài thơ mà  không thấy Tựa đề. 
** Bài thơ chắc đăng đêm qua vì trên trang fb tại thời điểm Minh Hương đọc bài thơ này ghi cách 14h. Vậy nên cũng mạn phép  nghi ngày sinh tháng để cho bài thơ là 28/11/2022

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

LÊN SA PA



.....
Ngày mai anh lại lên Sa pa
Ngày mai không có em cùng về nhặt hơi sương lạnh
Tuyết chưa đến mùa, Đỗ quyên tít trên núi thẳm
Sa pa quẩn quanh nỗi heo hắt khôn cùng
Ai cũng chỉ neo lại vừa một thẻ ai phôn
Cũng chỉ ruộng bậc thang rồi sân mây thác bạc
Với em anh có một Sa Pa khác
Tiếng Từ qui nức nở phía hút đèo
con suối nằm nghiêng hoa tím ngắt cả chiều
Những tiếng mõ trâu cứ rơi từng giọt nắng
Mắt gái mèo thủng thỉnh lưng gài dao quắm
Mái nhà xa thơm mê mẩn Sán lùng
Mai anh lại lên tìm em
Chiều ấy tựa lưng vào đá cổ
Khi vạt nắng khuất vào miền đá ngủ
Em bảo mình hóa đá từ đây
Ơi con sông duỗi chân về xuôi
Hoa tím nghiêng vào dòng sông màu lửa
Đêm ấy mang Sa pa về thành phố
Rồi em đi biệt đến bây giờ

30/9/2014
Nguyễn Trọng Luân

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

ĐIỆN BIÊN PHỦ CỦA CHA TÔI.

(Nhớ cha tôi là đội viên dân công tỉnh Phú Thọ).




Cha đi xa rồi Cha chẳng được xem
Mùng 7 tháng 5 diễu binh ở Điện Biên cha ạ
Lớp lớp cháu con súng tiểu liên sáng lóa
Sáng nay nắng ấm Mường Thanh
Những quân kì và quân phục mới toanh
Bao binh chủng đã lẫy lừng từ Điện Biên gùi thồ khoét núi
Bao binh chủng từ Điện Biên lớp cháu con đứng dậy
Chưa một lần Cha được nghe tên
Những người lính làng mình và cha nữa 
                                                     nằm dưới đất đen
Có nghe một sáng hè quân ta đi hùng dũng
Như sáu mươi năm xưa một chiều mặt trời đỏ lựng
Tiếng reo hò cha khóc ở Mường Phăng
Cha trở về con lẫm chẫm níu chân
Có khúc dây dù cho con làm dải rút
Tài sản mang về cho mẹ con là những câu hò
                                                     đêm Pha Đin rét ngọt
Những …” tình bằng ai ới ..” để thương nhau
Cha kể con nghe những núi thẳm suối sâu
Cò Nòi, Lũng Lô, ngã ba Tuần Giáo
Bom nổ chậm và những chùm bom bươm bướm
Máu người loang rừng vẫn trắng hoa Ban
Điện Biên trong con là áo trấn thủ đã sờn
Cha bảo đấy là áo người đã chết
Cha cũng mất rồi áo xưa bao mùa rét
Mẹ bồng em con cho ấm những năm nghèo
Ngoài biển kia nhung nhúc những là tàu
Hàng xóm nhằm lúc nhà mình có đình có đám
CÓ một Điện Biên từ trong tâm khảm
Thời của Cha truyền lại cháu con
Điện Biên Phủ trên không, Điện Biên Phủ núi non
Nay Điện Biên vẫn ở trong máu mình người Việt
Cha ơi, nếu cần một Điện Biên trên xanh ngời nước biển
Khúc hùng ca con cháu hát giữa đại dương



Khuya 7/5/14
Trọng Luân
(Bài thơ viết tối 7/5/2014 ngày KỈ NIỆM 60 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN.)


Ảnh: ảnh bố

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022

Hoa loa kèn đỏ





Sao lại là loa kèn đỏ.
Tháng 4 hoa cũng giao mùa
Bạn tôi toàn thằng chưa vợ
Củ Chi nằm nghe tiếng thơ.
Đêm ấy ở trên bến Dược
Quân về mệt quá bờ sông
Em thì đưa cho lon nước
Má đưa dầu gió cho anh.
Ở đây hoa giấy rung rinh
Bến Đình loa kèn nở đỏ
Quân đi như là triều mở
Đô thành phía ửng bình minh.
Thế mà người không trở lại.
Má treo khăn ở ngoài thềm
Em ra bến sông dòm mãi
Lục bình trôi chiều sang đêm
Má thương mấy thằng trai Bắc
Biệt vô xa mẹ trong ni
Tháng tư loa kèn nở đỏ
Ngoài kia hoa nở màu gì?
Anh ơi em ngoài sáu chục
Còn anh vở vẩn đôi mươi
Má theo ông bà về cõi
Nghĩa trang hoa nghẹn ngang trời.
tháng tư Loa kèn nở trắng
Mồ anh hoa đỏ tinh khôi
Củ Chi thương anh lắm lắm
Loa kèn đỏ của anh tôi

Sáng 8/4/21 
Nguyễn Trọng Luân

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

TRẬN ĐÁNH THÁNG TƯ TRÊN ĐỒNG LÚA VÙNG VEN SÀI GÒN

     Đêm 28/4/75 Tôi, Nguyễn Minh và Ngô Thịnh dẫn tiểu đoàn vào Ấp Chợ. Nhiệm vụ không chỉ có thế, mà còn được trung đoàn quán triệt thêm như sau: Trận này d8 đánh ngay liền cầu Bông với 198 nên d9 (có 2 C đi làm dự bị cho d8) có thể sẽ là thê đội dự bị cho mũi đánh cầu Bông, vì thế trinh sát d8 phải bám địch và tìm vị trí đặt hỏa lực vùa đánh vào Ấp Chợ vừa chi viện đánh hai lô cốt đầu cầu Bông.
     Hai giờ sáng ngày 29/4 khi cả đội hình đến ngoài cánh đồng cách ấp Chợ Tân Phú Trung 3 km thì chúng tôi cho bộ binh dừng lại. Bộ đội nằm trên một khu đồng dưa và rau cao hơn ruộng lúa. Trinh sát chúng tôi vào kiểm tra lần cuối trước khi đưa bộ binh vào chiếm lĩnh. Cách đấy hai tuần chúng tôi bổ sung tân binh cho a trinh sát hai lính Lào Cai tên là Long và Huynh. Hôm nay Long mới đi trận đầu tiên.
     Bò vào cách đường số 1 chừng 300 mét . Tôi bảo Long, em nằm lại đây trông mấy cái bồng cho bọn anh. Lát nữa bọn anh sẽ ra dẫn bộ đội vào. Có một cái vườn cây ăn quả rất xum xuê , ánh trăng soi lổ đổ chỗ đen chỗ sáng. Tôi dò dẫm sờ tay lên thấy là quả chanh. Ghé tai thằng Ngô Thịnh, lát nữa quay ra làm vài quả nhé. Nguyễn Minh đi sang mũi c6 c5 , tôi và Thịnh đi hướng dẫn mũi c7 và đặt hỏa lực c8 với c15 phối thuộc. Lúc 3 giờ sáng chúng tôi quay ra vườn cây. Tôi đi trước , Ngô Thịnh sát ngay sau tôi. Suỵt , có địch . Trong vườn cây tối nhìn ra thì thấy một bóng đen lom khom tay sung tiến thẳng về tôi và Thịnh. Bóng đen cứ lại gần. Tôi và Thịnh tay để vòng cò mà không dám nổ sung. Nổ súng là lộ. Bộ đội chưa vào vị trí. Trận đánh sẽ bại lộ. Trống ngực đập dồn rập. Bóng đen lại gần đến chúng tôi chỉ 3 mét mà nó vẫn không bắn. Bỗng bóng đen thều thào. Em sợ quá , không dám nằm một mình đâu. Cho em đi với các anh. ỐI giời ôi thì ra nó là thằng Long. Thằng Ngô Thịnh nhao lên đè Long xuống. Ghé sát vào mặt Long mà chửi khẽ. Đ mẹ mày . Mày định giết các bố mày, giết tất cả tiểu đoàn à. Tôi gỡ hai thằng ra. Chửi tiếng gió. Đ mẹ chúng mày muốn lộ hết à mà vật nhau ở đây. Thằng Long thút thít. Em biết rồi biết rồi ạ.
     Chúng tôi quay ra đồng. Gặp anh Thân e trưởng đi cùng với d phó Nguyễn Thừa Kế (Người Đồng Lương- Cẩm Khê). Anh Thân bắt Minh đưa vào sát lô cốt ấp Chợ lần nữa . Tôi Và Ngô Thịnh ra dẫn bộ đội vào chiếm lĩnh. Chiếm lĩnh ở đây không như trên rừng nên nhanh chóng hơn. Mùi bùn ruộng mùi rau mùi, mùi rau ngò gai trong đêm thân thuộc. Tôi nhớ ở đồng Tân Phú Trung có rất nhiều những cái giếng lấy nước tưới rau có hai tầng bắc những thân cây tre trên miệng tầng dưới. Bộ đội ngồi cúi đầu xuống giếng mà bật lửa hút thuốc. Sở chỉ huy chỉ là con mương có dặng bằng lăng tháng tư hoa đang trổ tím ngắt. 5 giờ sáng mọi chuyện xong xuôi chúng tôi ngồi xế sau trận địa đặt DKZ và cối 82. Trời hừng đông. Pháo Đồng Dù bắt đầu nổ cũng là lúc trận địa d8, d9 và đặc công 198 đánh cầu cùng nổ. Cả cánh đồng chớp lóe lên đinh tai nhức óc. Lúc bộ đội d8 xung phong tôi thấy cô biệt động Mỹ Hạnh vụt chạy từ sở chỉ huy d8 lao vào ấp. Có tiếng thét. Dừng lại đi Mỹ Hạnh! Nhưng bóng cô gái đã biến mất sau vườn cây ra ngoài đường số 1. Tối qua lúc Mỹ Hạnh cùng trinh sát d8 dẫn quân từ Bến Đình xuống tôi nghe cô kể nhà cô ở ấp Chợ này. Tôi biết cô gái ấy chạy về tìm ba má và các em mình dưới làn đạn của cả hai bên. Gần trưa ngày 29/4 khi ta đã chiếm cầu Bông thì Ấp Chợ vẫn chưa dứt điểm. Trận đánh gay go đến tận 12 giờ. Một đoàn xe tăng thiết giáp của địch vài chục chiếc lao qua trận địa của tiểu đoàn tôi . Quân ta bắn rộ rạt chả ăn thua gì chỉ diệt vài chục thằng địch và cũng thương vong vài chục người ngay trên đường số 1 mà vẫn chưa tiêu diệt được hai lô cốt mẹ bên phía tây đường. Chỉ đến lúc xe tăng 273 đuổi tới nơi thì d8 mới dứt điểm trận đánh ở trong ấp. Hàng chục xe tăng thiết giáp địch chạy ra cánh đồng không vượt được qua cầu Bông đành lao xuống đồng lúa và trở thành một biển lửa trưa 29/4 trên đồng Tân Phú Trung. Trưa ấy A trinh sát mò ngay ở chỗ mấy xe thiết giáp trên ruộng lúa. Thấy cả một bu gà và ngan. Lúc hành quân còn kịp mang theo một con ngan, Chiều tối hôm ấy dừng ở Hóc Môn cử ngay chú Phương (nick Văn Phương) và Long Lào Cai mổ ăn. 10 giờ đêm chúng tôi hành quân . Đêm ấy chúng tôi ngủ lại ở Tân Thới Nhì.
     Tháng tư ở cửa ngõ Sài Gòn rừng rực lửa và hoa bằng lăng bay tả tơi trong bão đạn. Trận đánh cuối cùng trên cánh đồng có mùi tóc con gái, có mùi đòng đòng lúa và mùi ngò gai, mùi húng chanh Củ Chi, mùi đêm chiếm lĩnh trên đồng lúa vùng ven.
Tháng tư Củ Chi là hình ảnh các cô gái biệt động ngực căng dây súng và mồ hôi ướt dính bà ba eo thon. Là những tấm khăn rằn hiền hậu của má của các em lần đầu tôi thấy.
     Tôi và Ngô Thịnh trở về trường đại học ngay trong năm 1975 rợp màu cờ đỏ ấy. Còn bạn tôi Nguyễn Minh, Long Lào Cai , Phương Thanh Thủy, Tiến US và cả A trinh sát của tôi lại đi chiến trận Tây Nam. Long là chiến sĩ trinh sát cự phách của d8e64 ở mặt trận tây nam và hi sinh ở đó vào năm 1978. Minh bị thương vỡ hàm trở về đi lái xe thuê, chiến sĩ Huynh Lào Cai bị thương ở Tây Nam điếc nặng lăn lộn thương trường nơi thành phố vùng biên ải. Đến bây giờ tôi cũng không biết một số đồng đội sống nơi nào. Chiến tranh đã lùi xa còn tháng tư mỗi năm một lần hiện về màu hoa đỏ.
     Năm 1993 trong một lần đi công tác Sài Gòn tôi trở lại Củ Chi. Tôi đến Ấp Chợ và người ta cho tôi biết, sau năm 1975 cô biệt động Mỹ Hanh được đi học y sĩ và lấy chồng mãi trên Đà Lạt. Những người lính d8 hôm đó đánh vào ấp Chợ hẳn không quên tên ác ôn trưởng ấp quì gối giữa đường trước mặt MỸ Hạnh. Bởi hơn ai hết Mỹ Hạnh là người biết rõ tội ác của thằng ác ôn này. Hôm ấy nếu không có Mỹ Hạnh xuất hiện thì bộ đội ta đã bỏ lọt tên ác ôn đã từng giết hàng chục cán bộ hoạt động bí mật của ta.
     Tháng tư này đã là 45 cái tháng tư trôi qua. Chúng tôi đã vào tuổi xưa nay hiếm, bạn tôi người còn người mất, người già yếu neo đơn khốn khó ở vùng rừng núi trung du hay vùng cao phía bắc. Ai cũng nhớ Sài Gòn và nhớ con đường tiến vào nội đô qua Hóc Môn có rất nhiều hoa Phượng đỏ. Nhớ cánh đồng lúa xanh ngát Tân Phú Trung và con mương có hoa bằng lăng tím.
     Để đi đến được đây, bao nhiêu đồng đội tôi nằm lại ngang đường và biết bao nhiêu người mang thương tật về cho cha mẹ vợ con cùng chịu đựng khổ đau mãi về sau.
    Tháng tư của chúng tôi là thế. Màu xanh của lúa, màu đỏ của hoa và màu của nước mắt. Nước mắt đùng đục mặn chát.

24/4/2019
Trọng Luân

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022

BÀI THƠ THÁNG TƯ

Tháng tư nắng
Tháng tư hoa đỏ bùng lên lửa
Tháng tư hoa trắng
loa kèn long dong thành phố
Tháng tư bụi
lầm lũi lên mọi con đường
Tháng tư loe nắng
mộc miên tàn biên cương
Tháng tư non
lúa con gái lùa xanh vào mây trắng
Tháng tư người đi
theo hướng cũ đi vào
Tháng tư xôn xao
cả phố phường gốc cây còn ứa nhựa
Tháng tư cháu con phờ phạc cuối học kì.
Tháng tư nào chúng tôi cũng đi
Những cuộc đi này chỉ còn đôi mươi năm nữa
Rồi tháng tư lại về bình dị
Bốn mùa xuân hạ thu đông
Tháng tư trời trong
Tơ tướp bàn chân chiến dịch
Tháng tư bầm bầm lửa và bụi đỏ
Hầm hập những nụ cười mồ hôi lẫn máu gọi nhau
Đâu chỉ có tuổi đôi mươi với người đang sống
Mẹ cha chữ nghĩa nghèo vần vũ danh hiệu nhân dân
Tìm tên con mình trên tờ báo hành quân
Gọi tên con xanh đồng xanh lúa
****
Chúng tôi có một tháng tư của riêng mình
Cuối con đường chúng tôi đi mang tên
Thống nhất
Mấy chục năm một cây cầu đau đáu Bắc Nam
Bạn chúng tôi cùng đội ngũ hành quân
Tập kết từ ngày còn bé
Mắt tràn ánh lên cười ứa lệ
Quê tao sắp đến nơi rồi.
Ơi rừng dừa ơi biển mặn miền Nam ơi.
Tháng tư không kịp thấy nắng trên đầu
Không kịp gửi lá thư cho em yêu khi thấy dừa Tam quan còng lưng xuống biển
Không kịp ngăn người ùa ra tàu di tản
Tháng tư trời veo veo sáng vào mắt đồng bào
Những nén hương cong tháng tư đâu?
Suốt chặng đường tiến về thành phố
Nhiều người không nhớ nữa
Chúng tôi nhớ từng mộ chí ven đường
Chúng tôi nhặt sách giáo khoa trên con đường rớt máu
Đọc lá thư kẻ mất người còn
Tháng tư mồ hôi anh mồ hôi em
Thơm thơm trên giấy
Tháng tư vùng ven tháng tư biên giới
Bồn chồn mưa chớm hạ trời nam.
*****
Tháng tư này tạm biệt vợ con
Mang nắng mới đi về miền của nắng
Hoa sáng nay dậy hương hè phố cổ
Bạc tóc những chuyến đường vào
Cứ xôn xao
Yêu như hồi xưa cũ
Cứ nôn nao
Gặp lại cái tôi tuổi trẻ
Tháng tư đừng buồn vì phố cũ đốn hạ cây
Ta đang đi về miền cây xanh lên mật ngọt
Rồi những gốc cây còn ủ nhựa
Chồi lại lên
Tháng tư lại qua Bến Hải quê em
Qua Thạch Hãn ngóng đò xuôi Cửa Việt
Qua Tây Nguyên rồi về Xuân Lộc
Sông Sài gòn nườm nượp lục bình trôi
Em gái Củ Chi ơi
Hoa Giấy chói chang đường Xuyên Á
Tiếng Dế kêu tháng tư trong trang sách cũ mèm
Lò bánh tráng lên hơi
Ta đi dọc tháng tư về thăm nhà của má
Người trẻ vô tư còn ta thì nhớ
Tháng tư như mực đổ trên bàn
Ta đứa học trò bâng khuâng
Giấy thấm bốn mươi năm chưa một lần khô vết mực


Viết tháng tư 2014 trong những ngày đi Tây Nguyên
Nguyễn Trọng Luân