Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUYỆN-KÝ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUYỆN-KÝ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2025

LỰC BẤT TÒNG TÂM

     Vậy mà đã nửa năm rồi! Việc thao tác vào Blog của Minh Hương có vấn đề. Nhớ nhớ, quên quên, bập bà bập bõm. mấy hôm nay đang cố tập ra vào Blog cho quen lại. Thực ra do bây giờ máy cứ có những cập nhật mới, mà chút kiến thức thao tác từ thời Chương trình 1044 cũng đã mai một đi nhiều, thành ra Minh Hương thực sự không theo kịp. Mắt thì đã mờ dần không được ngồi trước màn hình vi tính lâu, lại cứ bận bịu việc nọ việc kia... thành ra không lên bài được. có hôm ngồi gần một tiếng mà không đăng được một bài, lại đành xóa hết và đóng máy. Cứ theo FB mãi rồi cũng thấy nhàm, muốn vào Blog thì thấy vắng tanh...

    Thôi thì tùy duyên, theo được đến đâu hay đó vậy. 

MH - 25/7/2025 

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

MỘT MÙA XUÂN NỮA LẠI ĐẾN


  Chào xuân Ất Tỵ 2025! Sau thời gian máy vi tính bị trục trặc kỹ thuật, hôm nay mùng 5 tết, 2/02/2025, Minh Hương lại vào BLog TRI ÂN CUỘC ĐỜI tiếp tục chọn đăng bài duy trì hoạt động của BLog từ các trang cá nhân của các thành viên. Biết là trang Blog này rất ít thành viên còn hoạt động, nhưng Minh Hương cứ theo được đến đâu vui đến đấy vậy. Hy vọng nguồn mạch tri ân sẽ còn chảy mãi không ngừng.


MH - 30/01/2025

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2024

MAN MÁC

      Có một nỗi buồn cứ âm thầm xiết nhẹ, rất nhẹ mà sao chặt đến ngạt thở, thắt đến tận ruột gan. Biết là vô thường thì khó ai biết trước nhưng mà vẫn phải đối mặt. 

       Cho đến sau sự ra đi mãi mãi của anh Ngôi - Nhà Thơ TẠ ANH NGÔI (vào đầu tháng 5/2024) thì mình thật sự ngạt, cái ngột ngạt đến quay quắt... Đã hơn 3 tuần rồi mình không đủ nhẫn nại đề vào lên bài cho TRI ÂN CUỘC ĐỜI. Chỉ nói gọn trong nhóm TRI ÂN CUỘC ĐỜI thôi thì những thành viên hoặc người thân của thành viên nhóm cũng vắng bóng nhiều. Đầu tiên là em NGUYỄN HỮU TRUNG, thầy BÙI TRÁC TRƯỜNG, rồi Phu nhân của anh NGUYỄN ĐỨC BÌNH, phu nhân của anh ĐỨC HƯNG, Phu quân của chị NGUYỄN THỊ TÔ HÀ; tiếp đến từ năm 2023 đến nay là vợ chồng cô THU BA và thầy TRỌNG TÂN ra đi cách nhau chưa đầy 3 tháng; sau đó không lâu là thầy NGUYẾN MINH TƯ, thầy NGUYỄN VĂN THỊNH, anh TẠ ANH NGÔI. Tất cả những người này không một ai chết vì covid, đều là do bệnh già đến số mà phải đi thôi. Đó là chưa kể đến tứ thân phụ mẫu và người thân của các thành viên... 

      Thực ra , liệt kê như vậy cũng là một cách để nhắc lòng nhớ đến người đi xa cũng như thay một nén tâm nhang khi mà mình không được trực tiếp đưa tiễn họ một đoạn trên con đường xa mãi mãi. Xin được một lòng niệm A DI ĐÀ PHẬT cầu cho tất cả được về miền cực lạc... 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT 


Nha trang 16/5/2024.                                                                                                 Minh Hương

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2023

SỐNG ẢO






      Kể cả ngoài cuộc đời và trên không gian mạng, nhiều người thường phàn nàn: Lớp trẻ bây giờ sống ảo quá. Thị muốn nói thêm rằng, ngày nay lớp già còn sống ảo hơn. Có lẽ mọi vấn đề đều có hai mặt: tích cực và tiêu cực. Sống ảo cũng thế. Tuy nhiên ở bài viết này Thị không muốn bàn sâu về những điều đó mà chỉ muốn kể lại cụ thể về cách sống ảo của cánh già các Thị thôi
       Nhớ lại dịp kỉ niệm 30 năm ngày “sống chung với lũ”, vợ chồng Thị đi chụp hình. Thú thực là thuở mới sống chung làm gì có ảnh cưới nên Thị hậm hực lắm. Lại thấy nhiều người kỉ niệm ngày cưới thường chụp hình, Thị năn nỉ mãi Chàng mới bằng lòng đi . Thế rồi khi vào tiệm ảnh để chụp mới thấy quả là phức tạp thật. Nào thử váy áo, rồi làm đầu giả và trang điểm mất bao nhiêu là thời gian, mệt hết cả người. Đã thế, khi soi gương, thấy mình lòe xòe loẹt xoẹt trong chiếc váy cô dâu trắng toát, dài bết bát mà cẳng tay Thị thì cứ khô khang khảng, đen xì xì nên ngượng lắm. Nhưng trót “đâm lao” rồi, đành phải “theo lao” thôi! Ngó sang phía Chàng, Thị thấy Chàng súng sính trong bộ comle đen oách ra phết, dù đầu bạc và má hóp. Thị chợt nghĩ : kiểu này thì mình cứ lấy ảnh về là giấu biến đi thôi chứ chẳng dám bày ra. Mặc cho chú thợ ảnh đoan chắc rằng, bác yên tâm, ảnh sẽ rất đẹp đấy ạ, Thị cũng chẳng dám tin. Mấy hôm sau ra nhận ảnh, Thị cứ mắt tròn mắt dẹt, bụng hỏi dạ; vợ chồng mình đây ư? Ối, không thể tin nổi! Sau phút giây ngỡ ngàng ấy, Thị thấy lòng lâng lâng một niềm vui khó tả. Mang ảnh về nhà, Thị nảy ngay ra mấy câu thơ con cóc:

Qua tay thợ ảnh thật là kinh
Ngắm mãi mà chưa nhận rõ mình
Đen nhẻm bỗng thành da trắng trẻo
Lùn tè lại hóa dáng thanh thanh
Răng long má hóp nên bầu bĩnh
Tóc bạc thân còm vẫn xỉnh xinh
Dẫu biết rằng mình không đẹp thế
Nhưng trong lòng Thị cứ rung rinh

      Đó là câu chuyện cách đây hơn chục năm về trước rồi. Bây giờ chuyện đó đã “xưa như trái đất”! Ngày nay, Cần chi thợ ảnh, chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh thôi, lên hình ai cũng lung linh hết. Nhất là điện thoại thông minh đời mới thì càng thôi rồi. Dù U bảy, tám mươi, lên hình da ai cũng trắng hồng, mịn màng hơn cả da em bé; chân ngắn tũn cũng thành dài miên man; hàm răng lôm nhôm cũng thành trắng tinh mới khiếp chứ. Chính vì thế mà cánh già thuộc phái đẹp hồi này chăm chụp ảnh ghê gớm.Vào bất cứ trang facebook nào cũng thấy bao la là ảnh. Thị và các bạn Thị cũng không ngoại lệ. Nhất là các bạn Thị trong K23 (1973-1977) Khoa Ngữ Văn Đại học sư phạm Hà Nội I thì càng hăng hái ghi hình hơn. Bọn Thị thường tự nhận mình là những kẻ “ngáo ảnh”. Có dịp gặp nhau, dù ở bất cứ đâu, thấy cảnh đẹp, hoa đẹp, thậm chí nhà đẹp hoặc cái gì là lạ chút, bọn Thị cũng ghé vào làm vài kiểu mới yên. Ảnh nhiều và váy áo thì xúng xính, rực rỡ đủ sắc màu. Lúc trắng tinh thanh khiết, khi đỏ rực một khoảng trời, lúc lại trăm hồng nghìn tía đua tươi cứ gọi là hoa hết cả mắt lên ấy chứ. Nhớ lại lần các bạn đến thăm gia đình Thị, vừa xuống ô tô, thấy dàn hoa bên đường liền quẳng hết túi xuống thi nhau chụp ảnh rồi mới đi tiếp vào nhà Thị. Gần đây, bạn Xuân Hiên, một doanh nhân có tài và có tâm trong khóa thường mời cả khóa du lịch những danh lam thắng cảnh thì phong trào chụp ảnh của bọn Thị càng sôi động hơn. Mỗi chuyến đi dù lên rừng, xuống biển, thậm chí là chỉ ở nhà hàng hay khách sạn thì các điện thoại đời mới cứ chớp hình lia lịa đến nóng máy, hết pin chứ chẳng đùa. Khóa Thị lại còn có nàng Quỳnh Liên, một nhiếp ảnh gia tầm cỡ quốc tế luôn khoác theo máy ảnh telephol loại xịn, do Xuân Hiên tặng. Nàng này hết lòng vì nghệ thuật nên ở đâu cũng lia máy chụp trời, mây, sông nước, núi non và mọi hoạt động của khóa trong các cuộc vi vu. Tuy nhiên Nàng kĩ tính lắm cứ phải sắp xếp đội hình cân đối rồi ngắm nghía khá lâu cho ảnh thật chỉnh mới nháy máy. Cố nhiên là những tấm hình chụp tập thể, mới dám nhờ Nàng. Còn chụp cá nhân hay tốp nhỏ thì cứ tự phát mà nháy điện thoại thôi. Vài trăm ảnh được ra lò là chuyện thường trong mỗi chuyến vi vu.
      Có người đưa lên facebook vài chục ảnh, có người chỉ chọn vài ảnh xuất sắc đưa lên. Còn lưu lại trong trang riêng để ngắm dần mà rung rinh sung sướng mà yêu quý, gần gũi bạn bè hơn và thêm trân trọng những chuyến đi, những kỉ niệm của cuộc đời. Để rồi có dịp, lại í ới hẹn nhau vi vu. Lại ảnh, lại ngắm, lại khen nhau xinh đẹp và thêm vui khỏe khi tuổi đời đã cuối thu, đầu đông rồi. Nếu chỉ sống ảo như thế thì cũng vui thú và hữu ích ra trò chớ bộ.

Sao Đỏ: 27-12-2023
Song Th

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

MÙA HẠ TRONG TÔI





Ghi chú: ảnh lớp chụp tại Trường Sư Phạm và ảnh
 toàn khóa tại Thanh Hóa nhân kỉ niệm 50 năm tựu trường


(Từ trước đến nay, Thị cứ tự nhận mình chậm như Rùa. Giờ mới thấy điều này sai bét nha. Chứ không à? Dù chậm thế nào thì Rùa vẫn luôn sinh nở đúng mùa. Còn Thị, thì từ mùa hạ đến giữa mùa thu mới sinh xong đứa con tinh thần về mùa hạ đó nha. Vì thế phải nói là Thị chậm hơn Rùa nhiều mới đúng. Qua trung thu rồi, Thị xin trình làng đứa con tinh thần MÙA HẠ TRONG TÔI của Thị đây. Kính mời mọi người ngó xem con Thị ra răng ha)


     Có lẽ trên dải đất hình chữ S này, miền Bắc thể hiện rõ nét nhất  bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa đều có một vẻ đẹp riêng. Dẫu các văn nhân, thi sĩ hay viết nhiều về mùa xuân và mùa thu. Tôi lại đặc biệt có ấn tượng với mùa hạ .
    Nhớ ngày còn bé, có lần, mẹ tôi nhìn hàng cây trong vườn nhà và nói: “Đúng là xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàn. Nhìn vườn cây mùa hạ mát mắt thật”. Vốn hay hóng hớt và vặn vẹo, tôi hỏi thế là thế nào hả mẹ? Mẹ tôi giải thích đại thể là mùa xuân cây bắt đầu đâm chồi nảy lộc, mùa hạ các lộc đó đã lớn lên, đã trưởng thành, cành lá vươn dài, sum suê xanh tốt, mùa thu thì cây chững lại cứng cáp hơn nhưng lá dần dần chuyển sang màu vàng, đến mùa đông lá vàng rụng xuống, cứ thế cây cối tuần hoàn trong bốn mùa mà lớn lên con ạ. Ngày ấy, như một tiềm thức, tôi đã thốt lên: Con thích cây mùa hạ vì nó sum suê và rợp mát. Mẹ tôi chỉ cười. Dù trước kia hay bây giờ, lúc nào tôi cũng thấy về mùa hạ cây cối thật căng trào nhựa sống, vạm vỡ và cường tráng như một chàng lực sĩ. Những lúc đi trong nắng hè gặp con đường rợp bóng cây, thoảng nhẹ vài con gió thổi, cành lá rì rào như những khúc tâm tình dịu ngọt; lúc đó dưới ánh nhìn của tôi, hàng cây giống như người thiếu nữ đẹp dịu dàng mà tinh tế làm mát hồn người giữa oi nóng ngày hè, hoặc giống như người mẹ hiền dang cánh tay dài quạt mát cho cả một đàn con. Thế rồi, từ niềm yêu thích cây xanh trong mùa hạ, tôi thích mùa hạ tự lúc nào không hay. Tôi thích mùa hạ vì khi đó, chúng tôi được nghỉ hè. Tha hồ mà đánh chuyền đánh chắt. Tha hồ mà tắm suối, tắm sông , ngụp lặn cho thỏa thích. Bấy giờ, cảnh trí còn hoang sơ. Cứ mỗi trận mưa mùa hạ là lũ suối ào về. Con suối vốn ngày thường nhỏ bé, hiền lành và trong veo. Thế mà chỉ cần một trận mưa rào thôi, là nước từ tận đẩu tận đâu hồng hộc đổ về khiến dòng suối rộng ra mênh mông giống như sông. Nước suối ngầu ngầu đục và cuốn theo đủ thứ lá cây, ngọn cỏ, thậm chí cả những khúc gỗ nữa vào trong dòng chảy của nó. Tôi chẳng sợ mà vẫn mê mải ngắm nhìn trong yêu thích đến mê ly. Nhiều lần chúng tôi còn lợi dụng lúc bố mẹ vắng nhà rủ nhau bơi qua suối lũ đầy hứng thú ấy chứ. Chúng tôi ngược lên trên đoạn muốn sang một chút rồi thả người theo dòng nước từ từ xuôi xuống và bơi sang đúng bến . May phúc là lần nào cũng trót lọt. Giờ nghĩ lại mà thấy rợn người, nhỡ ra một khúc gỗ trôi theo lũ mà va vào đầu thì coi như xong đời đấy! Sau khi lũ suối rút đi, hai bên bờ suối coi như được bồi đắp phù sa. Chúng tôi lại rủ nhau đi đào măng. Những bụi tre mọc bên suối mới hôm nào còn khô khang khảng, xác xơ giờ như được phù phép, lá tre xanh mềm mại và bên gốc những mầm măng đội đất sa nhú lên đầy sức sống. Chúng tôi gạt lá mục, bới đất đào xuống lấy tận củ. Những cây măng to bự, vỏ nâu, ruột trắng nõn trông ngon vô cùng. Lần nào, hai chị chị em tôi cũng khoác về một bị nặng. Mẹ thái miếng ra, luộc lên rồi phơi khô đến tết nấu với móng giò hoặc xương lợn thì cứ gọi là ngon quắt lưỡi. Trên gác bếp nhà tôi, treo từng bọc lớn bọc nhỏ măng khô để ăn dần và mang về quê cũ dưới xuôi biếu họ hàng nữa chứ. Đúng mùa măng thì tha hồ ăn măng tươi luộc , muối chua hay xào tỏi còn măng ninh xương thì chỉ hôm nào có giỗ hoặc có khách mới được ăn.
     Nhiều người cứ than rằng, mùa hạ nắng lửa, mưa dầu mệt lắm. Nhưng tôi lại yêu luôn cả cái nắng và cái mưa trong mùa hạ mới kì nha. Tôi thích đất trời mùa hạ khi lập cơn mưa vì nó kì vĩ tráng lệ và vần vũ hùng dũng như một trận chiến oanh liệt đầy hào khí. Cái này có lẽ tôi có cái nhìn giống thơ Trần Đăng Khoa hồi bé “ Ông trời mặc áo giáp đen/ Ra trận/ Muôn nghìn cây mía múa gươm/ Kiến hành quân đầy đường/ Lá khô/ Gió cuốn/ Bụi bay cuồn cuộn…Sấm ghé xuống sân khanh khách cười…”Thế rồi đến lúc đổ mưa, cái mưa mùa hạ cũng thật diệu kì. Nó ào ào, dào dạt. mạnh mẽ xối nước xuống trần gian cho đồng ruộng no nước, cây cối thỏa thuê, người người mát mẻ rồi lại nhanh chóng tạnh luôn chứ không lây rây như mưa xuân, không dầm dề não nuột giống mưa thu. Khi tạnh mưa, đất trời quang quẻ, thanh sạch và trong lành đến ngây thơ. Không yêu sao được những trận mưa mùa hạ như vầy?! Còn cái nắng mùa hạ, tuy có gắt gao và nhiều lúc oi nồng khiến người lao động đầm đìa mồ hôi và mệt mỏi rã rời thật đấy. Nhưng thuở trẻ nít, bọn tôi có hãi gì cái nắng ấy. Chúng tôi len lén trốn bố mẹ ra khỏi nhà tìm nhựa mít dính chuồn chuồn. Những chú chuồn chuồn ông to kệu hoa văn vàng đen đẹp mê ly. Rồi những chú chuồn chuồn ớt đỏ chót cũng khó lòng thoát khỏi tay bọn trẻ chúng tôi. Chúng tôi mang về thi nhau xem ai được nhiều hơn rồi nâng niu ngắm nghía, chán chê lại thả ra cho chúng về nơi của chúng chứ không làm hại bất kì chú chuồn chuồn nào. Lớn hơn chút nữa thì những ngày nắng to, nước ruộng nóng rẫy lên làm “Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ” chúng tôi lại rủ nhau đi bắt cua bò cá ngáp. Rìa bờ cỏ hoặc trên những ngọn lúa, chúng tôi tha hồ tóm những chú cua trốn nắng, còn trong các hang cua thì những chú cá cờ, cá riếc chui vào, bị chúng tôi vốc ra từng nắm . Khi đã đầy giỏ, chúng tôi hí hửng mang về. Có khi tham lam còn bắt thêm để dắt cua vào cạp quần đến xệ ra ấy chứ. Tối đến lại tha hồ ăn canh cua, cá kho, ngon phải biết!
    Không chỉ có mưa nắng nồng nàn, cây xanh rợp bóng, mùa hạ còn hút hồn tôi bởi những loài hoa. Đầu mùa hạ là hoa gạo thắp lửa bên đường , tiếp theo là hoa phượng đỏ rực sân trường, là bằng lăng hồng tươi nơi góc phố và hoa sen vừa thanh tao vừa ngan ngát trong đầm. Còn những trái ngọt trĩu cành của mùa hè thì khỏi phải bàn, vừa đa dạng phong phú vừa thơm ngon đến đê mê. Nhớ thuở chăn trâu cắt cỏ, mùa hạ, chúng tôi hay ăn quả me rừng, dẫu chua chua chan chát lúc ban đầu nhưng sau đó thì ngọt mát rất sâu nơi cuống họng giúp giải khát trong cái nắng hè thật tuyệt vời. Rồi chúng tôi còn chui tít vào rừng tìm quả tầu tấu vàng ươm, long lanh như những quả duối dưới xuôi nhưng ngọt lịm rất thú vị; lại còn những quả lạc tiên vàng đậm được bọc trong chiếc lồng lưới đẹp như xiêm áo cô tiên mới thơm ngon làm sao! Trong vườn nhà ngày đó thì bạt ngàn dứa, mít, quéo, ổi, nhãn… mỗi loài một vị riêng nhưng ấn tượng chung là vừa rất ngọt ngon vừa thơm ngạt ngào.
    Tất cả hương vị, sắc màu, và kỉ niệm đẹp về mùa hạ của một thời cứ nồng nàn mãi trong tôi để giờ đây, đã vào tuổi xưa nay hiếm, tôi vẫn yêu mùa hạ đến vô cùng!

Sao Đỏ 2-10-2023
Song Thu

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2023

KHÓA 23 KHOA NGỮ VĂN TRƯỜNG Đ H S P CỦA CHÚNG TÔI


      Các bạn khóa khác thường nói với chúng tôi:” Thầy cô nào cũng ca ngợi khóa 23 của các anh các chị. Có thầy còn bảo đó là Khóa vàng của trường ta”. Rồi các bạn lại nói thêm: “ Chắc hồi đó các anh chị học giỏi và đa tài lắm nhỉ”? Biết trả lời sao đây? Chỉ biết rằng, chúng tôi, những sinh viên K23 ( 1973-1977), Khoa Ngữ Văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội rất tự hào về khóa mình và thường bảo nhau “ Khóa chúng mình là một khóa đặc biệt trên nhiều lĩnh vực”.
     Nếu các khóa trước, khi mới vào có nhiều bạn nam nhưng dần dần họ nhập ngũ gần hết để nhớ để thương cho bao nữ sinh với mối tình đầu đẹp như mơ. Thì đến khóa chúng tôi, khi mới vào chỉ có mấy anh nam là cán bộ đi học và vài ba bạn nam hoặc là thấp bé nhẹ cân hoặc là gia đình đã có nhiều anh chị tham gia chiến trường rồi. Chủ đạo trong các lớp là những nữ nhi chân yếu tay mềm.Tuy vậy, chúng tôi vẫn học tập, lao động, văn nghệ rất xuất sắc. Thế rồi sau giải phóng miền Nam, một số lượng khá lớn các chiến binh từ khóa trước, chiến thắng giặc Mỹ trở về bổ sung vào các lớp. Sự kiện ấy đã thổi vào khóa chúng tôi một luồng sinh khí mới, rạo rực tươi vui đến thiết tha. Lúc ấy, bọn nữ nhắng chúng tôi truyền nhau câu hát: “ Không cho chúng nó thoát, chúng bay vào sẽ không có đường ra” rồi nháy mắt cười tinh nghịch. Và một chiến dịch yêu lính chiến về trường nổ ra mới rầm rộ làm sao. Nhiều cặp nên duyên chồng vợ từ đó.
     Điều đặc biệt nữa (có lẽ) là chỉ duy nhất khóa chúng tôi lúc thi đầu vào có bạn (Trần Hòa Bình) được các thầy cô chấm cho 10,5 điểm Văn. Cũng có thể chỉ riêng khóa chúng tôi khi tốt nghiệp có đến 8 thủ khoa:Phạm Trung Trực, Lê Thị Bình, Hoàng Văn Cần, Hà Bình Trị, Nguyễn Văn Hóa, Phùng Ngọc Kiếm, Bạch Văn Hợp, Trần Thị Trâm, Nguyễn Thu Minh.
     Khóa chúng tôi có một số lượng không nhỏ các bạn, khi ra trường đã vào Nam nhận nhiệm vụ. Theo số liệu chưa đầy đủ, không dưới 100 giáo sinh khoá chúng tôi, được phân công công tác vào miền Nam. Bạn Đinh Thiên Hương viết ở trang K23 Khoa Ngữ Văn Đại học sư phạm: “ Đây là cuộc “hành binh…Nam tiến” vô tiền khoáng hậu, “ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình”, tất cả vì sự nghiệp giáo dục thống nhất non sông. Chúng ta đi bằng một chuyến tầu ánh sáng văn hoá - ánh sáng Văn khoa ĐHSP1. Những người đi năm ấy, chủ yếu vào nhận công tác đào tạo đội ngũ giáo viên ngữ văn ở các trường : Trung cấp sư phạm, Sư phạm cấp 2-Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm ; dạy ở các Trường Bồi dưỡng giáo viên ; dạy ở các trường Bổ túc công nông (là hình thức tạo nguồn cán bộ, lựa chọn từ đội ngũ cán bộ sau kháng chiến để ươm hạt giống đỏ cho Đảng và Nhà nước - đúng như chỉ dẫn và mong ước mà Bác Hồ đã viết trong Di chúc). Tức là chúng ta đã cống hiến tri thức, tâm huyết trong những “cỗ máy cái” và các trung tâm đào tạo cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Buổi đầu làm công việc này, dù cơ sở vật chất tốt hay ở những nơi khó khăn “nước lã mà vã nên hồ”, thì anh chi em chúng ta cũng phải gồng mình, nỗ lực….Rất nhiều người trong chúng ta nhờ thế mà trưởng thành vượt bậc suốt từ ngày ấy đến bây giờ. Ai cũng có nhiều cống hiến và sáng tạo.”*
     Một số người trong Khóa chúng tôi được giữ lại trường làm công tác giảng dạy, nghiên cứu cũng đều làm tốt nhất công việc của mình, các anh chị đều trở thành PGS, TS, thành Trưởng các bộ môn mà mình đảm nhiêm như anh Phùng Ngọc Kiếm, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Thị Lương…
     Khóa chúng tôi, có nhiều người làm cán bộ quản lý các cấp rất xuất sắc như: Nguyễn Chí Bền, Hà Bình Trị, Bùi Mạnh Nhị, Đào Thị Khương,Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Thu,Nguyễn Đức Khảm, Vũ Xuân Quang, Bùi Thị Ngọc Dung…Lại có những người dù đã vào tuổi 70 rồi vẫn làm cán bộ quản lý các trường THPT tư thục bằng năng lượng tích cực dồi dào và tinh thần nhiệt huyết cao như chị Nguyễn Thị Dung, Trần Thị Tâm
     Khóa chúng tôi có 5 Nhà giáo ưu tú:
1.GS-TS Nguyễn Chí Bền, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam ; nguyên Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương , nguyên Ủy viên Hội đồng di sản văn hóa quốc gia nhiệm kỳ 1,2,3
2. PGS - TSKH Bùi Mạnh Nhị -nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP HCM, nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguyên Chánh Văn phòng Hội đồng Giáo sư Nhà nước
3. PGS-TS Lê Lưu Oanh - Giảng viên Lý luận văn học, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lý luận văn học, Khoa Ngữ văn ĐHSPHN
4. Nguyễn Đức Khảm - nguyên Hiệu trưởng Trường CĐSP Quảng Ninh
5. Vũ Xuân Quang- nguyên Hiệu trưởng THPT Chuyên Biên Hòa - Hà Nam
     Đặc biêt khóa 23 có khá nhiều Nhà văn, Nhà thơ, Nhà phê bình nghiên cứu văn học nổi danh, lưu lại những tác phẩm để đời như: PGS - TSKH Bùi Mạnh Nhị, PGS - TSTrần Thị Trâm, Nguyễn Thị Mai, Vũ Bình Lục, Trần Hòa Bình, Nguyễn Thị Bắc…. PGS, TS KH Bùi Mạnh Nhị - một nhà khoa học nghiêm cẩn với nhiều đóng góp cho ngành giáo dục và ngành Folklore học đã cho ra đời một khối lượng công trình nghiên cứu khá lớn. Trong đó có những công trình đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu của nền văn học dân gian nước nhà như: “Sen tháp Mười – ca dao miền Nam về Chủ tịch Hồ Chí Minh” (Bùi Mạnh Nhị, NXB TPHCM, 1980), “Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường” (Bùi Mạnh Nhị Sở giáo dục tỉnh An Giang xuất bản, 1988), “Ca dao dân ca Nam Bộ” ( Bùi Mạnh Nhị, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh , NXB. TPHCM, 1984) , “Truyện cười dân gian Nam Bộ” (Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Tấn Phát, Trần Vĩnh, NXB TPHCM. 1988), “Văn học dân gian những công trình nghiên cứu”, Bùi Mạnh Nhị chủ biên (NXB GD, 1999), “Văn học dân gian những tác phẩm chọn lọc”- Bùi Mạnh Nhị chủ biên (NXB GD, 1999). Ngoài ra, anh còn tham gia biên soạn bộ sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6, lớp 10 và một số bài viết của anh được đưa vào SGK Tiếng Việt lớp 3, Ngữ Văn lớp 6 tập 1, tập 2. Nói như PGSTS Trần Thị Trâm thì Bùi Mạnh Nhị luôn “vượt lên trên chính mình, để trở thành một nhà quản lý giỏi giang, tâm huyết, nhân hậu, một trí thức tinh hoa - một gương mặt tiêu biểu cho thế hệ trí thức Việt Nam sau 1975”*,Mới đây, Bùi Mạnh Nhị lại cho ra đời một tác phẩm đóng dấu vào thời gian : TRANG SÁCH TRANG ĐỜI. Cuốn sách được GS, TS Nguyễn Chí Bền và PGS, TS Trần Thị Trâm tâm đắc giới thiệu cùng bạn đọc gần xa. Rất tiếc là Bùi Mạnh Nhị vừa rời cõi tạm để về miền mây trắng. Nhưng chúng ta tin rằng các tác phẩm của anh sẽ còn sống mãi với thời gian và hình ảnh anh, một người thầy tâm huyết, một Nhà khoa học nghiêm cẩn sẽ còn mãi trong lòng bầu bạn, trong lòng nhiều thế hệ học trò và những người biết anh. Tôi nhớ tới một câu thơ của anh đã được phổ nhạc: “ Một vầng trăng không úa giữa Ngân Hà đang trôi”
     PGS TS Trần Thị Trâm, một tài nữ của K23 chúng tôi. Chị vừa có giọng hát trong trẻo, truyền cảm, vừa khá am hiểu về âm nhạc. Những bài giới thiệu của chị về các nhạc sĩ : Hoàng Vân, Trần Tiến, Phó Đức Phương khiến ta đọc mãi vẫn thích. Chị còn là một trong những người tổ chức và kết nối sự hội tụ của khóa. Chị không chỉ là một Nhà giáo được nhiều thế hệ sinh viên của Học viện Báo chí tuyên truyền ngưỡng mộ mà còn là một nữ văn sĩ có sức đọc và sức viết thật đáng nể. Chị đã xuất bản đến 10 đầu sách mà cuốn nào cũng rất giá trị như: Văn học và báo chí từ một góc nhìn (Tiểu luận Phê bình, NXB Thanh niên Hà Nội, 2003); Hoàng Ngọc Phách, Người đổi mới tiểu thuyết, ( Chuyên khảo, NXB Thanh niên Hà Nội 2003);Từ nguồn cội văn chương( Tiểu luận Phê bình, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006); Phát huy ưu thế văn học trong sáng tạo tác phẩm báo chí ( Chủ biên, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2008); Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008, lần 1, 2010 lần 2); Văn học dân gian trong xã hội hiện đại( Chuyên luận, sưu tầm, tuyển chọn, NXB Văn học, Hà Nội, 2012); Tiểu luận, Phê bình, (NXB, Hà Nội,2014);Giáo trình Văn học Việt Nam ( Chủ biên, NXB Giáo dục Hà Nội,2017); Tài hoa Việt từ một điểm nhìn( Tiểu luận Phê bình, NXBVăn học Hà Nội, 2021); Văn học dân gian Việt Nam sau 1986 ( Chuyên luận, sưu tầm, tuyển chọn, NXB Văn học Hà Nội, 2022). Trong đó, nhiều cuốn sách rất công phu và độc đáo sẽ trường tồn mãi mãi với thời gian và trong lòng người đọc . Trần Thị Trâm có cách viết rất chi tiết, cụ thể mà lại rất bao quát, khái quát; vừa minh triết chặt chẽ lại vừa tung tẩy phóng khoáng ;rất tinh tế và cũng rất sâu sắc nên thật sự có sức lôi cuốn người đọc . Tôi thường nói với chị, mình tìm thấy bốn Nhà trong mỗi bài viết của Trâm: Nhà văn, Nhà giáo, Nhà báo, Nhà nghiên cứu.
     Nhà thơ Nguyễn Thị Mai, người phụ nữ xinh đẹp tài hoa đã cho ra đời hàng chục tập thơ thật giá trị. Chị đoạt giải nhất về thơ ngay từ những năm 90 của thế kỉ trước. Nhiều bài thơ của chị được những cây bút chuyên nghiệp và không chuyên viết lời bình thật hay và nhiều bạn đã thuộc nằm lòng từ khi nó mới ra mắt độc giả như: Nhà không có bố, Nhà quê, Bàn tay em, qua hàng trầu nhớ mẹ, lục bát anh và em…Tôi biết nhiều bạn còn cắt những bài thơ của chị đăng báo từ năm 1992 và giữ đến tận bây giờ. Có những bạn còn viết trên facebook rằng: “Tập nào, thơ chị cũng dịu dàng dung dị và đằm thắm đóng dấu thương hiệu Nguyễn Thị Mai” Bản thân tôi cũng rất mê thơ của Mai, nhiều câu thơ tôi chỉ đọc một lần là nhớ mãi: ““Em thì tất tưởi mưu sinh/ Nuôi con bến thực nuôi mình bến mơ” “ Nhà quê còn chút mẹ già/ Đêm đêm thao thức, canh gà ho khan”…;
     Một Nhà thơ nam của Khóa chúng tôi cũng rất đặc biệt. Anh không chỉ nổi danh trong toàn Khóa với điểm thi văn đầu vào, 10,5/ 10 mà còn nổi tiếng trong toàn quốc với nhiều thi phẩm độc đáo, đặc biệt nhất là bài thơ :” Thêm một”. Đó chính là chàng trai xứ Đoài, Trần Hòa Bình, với nụ cười thân thiện, tấm lòng rộng mở, phong cách sống phóng khoáng, lãng tử mà vẫn rất thân thiện gần gũi nên được nhiều người quý mến. Rất tiếc là anh ra đi quá sớm nên chưa có điều kiện để xuất bản những tác phẩm của mình. Phải đến giỗ đầu của anh, người thân và bạn bè mới chung tay xuất bản cho anh hai tập sách: Tập thơ RU HOA SEN, NXB HỘI NHÀ VĂN 2009 TUYỂN TẬP TÁC PHẨM, NXB HNV, 2009( KHỔ 16x26, day 878 trang)
     Nguyễn Thị Bắc quê gốc ở Việt Yên , Bắc Giang lại đặc biệt có duyên với vùng Văn hóa Kinh Bắc. Những tác phẩm của chị như : Thơ Hoàng Cầm với Văn Hóa Kinh Bắc, NXB Hội Nhà văn 2008; 36 búp nụ không hoa, NXB Hội Nhà văn 2010;Văn hóa Kinh Bắc qua hình ảnh cổng làng, NXB Hội Nhà Văn, 2017; Khoảnh khắc đam mê, NXB Hội Nhà Văn 2020. Đặc biệt hai cuốn sách LỄ HỘI VĂN HÓA LÀNG THỔ HÀ, NXB Hội Nhà Văn 2022 và tác phẩm: NHỚ NGƯỜI CẦM LÁ DIÊU BÔNG NXB Văn học, 2023 vừa ra mắt đã có nhiều người đặt mua. Có nơi mua tới 600 cuốn. Trong tình hình văn hóa đọc như hiện nay thì đó quả là một hiện tượng đấy nha. Chị được cố thi sĩ Hoàng Cầm gọi là “ người gái ngoan của Kinh Bắc”. Những người dân làng Thổ Hà của Kinh Bắc cũng rất quý yêu Nguyễn Thị Bắc, coi chị như người con ruột thịt của quê hương. Cho đến bây giờ mỗi lần chị về nơi đó nhiều người vẫn vồn vã : cô Bắc ơi… về với dân làng Thổ Hà đi thôi…Tôi có cảm giác người dân Kinh Bắc ngày nay quý mến Nguyễn Thị Bắc như lính Trường Sơn những năm xưa yêu quý Nhà thơ Phạm Tiến Duật vậy. Nguyễn Thị Bắc còn rất có duyên với các giải thưởng. Chị đạt nhiều giải thưởng : “Tác phẩm tiêu biểu hoặc xuất sắc trong các cuộc thi của Tạp chí Sông Thương, ; giải thưởng của Bộ VH TT & DL; giải thưởng của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Nói như PGS, TS Trần Thị Trâm thì Nhà văn Nguyễn Thị Bắc là “ người sát giải”
     Vũ Bình Lục, “vốn là một sỹ quan đặc công, chiến đấu ở chiến trường khu V gian khổ và ác liệt nhất, là thương binh thời chống Mỹ, di chứng còn nguyên nơi hộp sọ nhức nhối đau, khi trái gió trở trời, lại xuất thân từ thầy giáo Ngữ Văn cấp 3, từng vào Nam ra Bắc, từng làm cán bộ quản lý giáo dục… nhưng anh vẫn có nghị lực và cường độ làm việc phi thường, để có được một kho tàng trước tác đồ sộ của một nhà thơ, nhà văn-nhà nghiên cứu phê bình, khiến thiên hạ phải nể phục cả về lượng và chất !” Anh đã cho ra đời nhiều nghìn trang sách dịch thơ, nghiên cứu, chú giải rất chi tiết và có giá trị về thơ văn chữ Hán Việt Nam thời trung đại. Mới đây, anh lại cho ra đời hai quyển : Giải mã kho báu văn chương ( Thơ chữ Hán Việt Nam thế kỷ XV – nửa đầu thế kỉ XIX, dày tới 1600 trang do NXB Hội Nhà Văn ấn hành) và tác phẩm : Giải mã thơ chữ Hán Lê Quý Đôn (NXB Hội Nhà Văn ). Những tác phẩm kiểu này thường kén độc giả. Tuy nhiên với cách lý giải cụ thể, lối viết dung dị, Vũ Bình Lục đã khiến nhiều độc giả say mê và tâm đắc. Một số người viết lời giới thiệu và bình phẩm đều đánh giá rất cao. Anh Đinh Thiên Hương, khi giới thiệu về cuốn :” Giải mã kho báu văn chương… của Vũ Bình Lục đã khẳng định: “Ở công trình nào, tác giả cũng thể hiện sự uyên bác, cẩn trọng và tài hoa, vừa tiếp thu công lao, tinh hoa của người đi trước, vừa vươn tầm mở lối, để lại những dấu ấn riêng cho muôn mai, mà bụi thời gian không thể phai mờ.” Không chỉ khảo cứu và dịch thơ cổ, Vũ Bình Lục còn sáng tác rất nhiều bài thơ có chất lượng. Anh quả là người toàn tâm toàn ý và tận lực với văn chương mới có thể xuất bản được nhiều cuốn sách đồ sộ đến như vậy!
     Anh Phạm Việt Long trong khóa chúng tôi lại là một người đặc biệt kiểu khác. Anh không phải Hội viên Hội Nhà văn, Nhà thơ chi hết. Anh cũng chẳng viết nhiều và càng không ra sách chi cả. Chỉ một số bài bình văn và mấy bài điếu thôi nhưng anh lại rất nổi tiếng. Có thể nói tất cả những ai đã đọc những áng văn ấy của anh đều nghĩ anh là một Nhà văn gạo cội. Những tác phẩm như: Điếu Hà Tây tỉnh, Điếu Võ Đại tướng quân, Điếu Các anh hùng chiến sĩ Việt Nam, Điếu các Anh hùng, liệt sĩ Khoa văn ĐHSP ,Điếu cụ rùa hồ Gươm, Chúc văn tế Tổ Hùng Vương của anh đều rất xuất sắc. Nó không chỉ chạm khắc vào lòng người mà sẽ sống mãi với thời gian bất tận. Nhiều bạn đọc đã trầm trồ thán phục. Đây là comens của anh Nguyễn Quang Dũng: “Chúc văn nhân ngày giỗ tổ. Điếu văn nhân ngày giỗ Tỉnh, những áng thiên cổ hùng văn này khiến người trong thiên hạ biết nhiều đến Thầy. Thật muôn phần kính phục!” Nguyễn Minh Tranh lại viết về Chúc văn tế Tổ Hùng Vương như sau: “ Lời văn thống thiết lại hùng oanh, thật là áng thiên cổ hùng văn! Con xin bái phục Thầy!” Bạn VanAnh Uong đã trực tiếp so sánh những tác phẩm của anh với Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi và khẳng định chắc nịch rằng: “Muội đã đọc bài Điếu Hà tây tỉnh, và bây giờ là bản Chúc văn tế Tổ Hùng vương. Xuất sắc ! Toàn những áng thiên cổ hùng văn, ngang tầm với ngọn bút tài hoa của cụ Nguyễn Trãi. Xin chúc mừng huynh ạ.” Bản thân người viết bài này cũng thích mê ly những bài văn tế của anh. Tôi thấy chất truyền thống và chất hiện đại kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, tự nhiên trong từng áng văn đó, khiến cho mỗi tác phẩm anh viết vừa cổ kính vừa gần gũi; rất hào sảng mà cũng rất bi ai; rất giàu kiến thức về lịch sử, văn học và cũng dạt dào nhiều cung bậc tình cảm. Cứ thế từng áng văn cuốn hút ta đi theo những cảm xúc của tác giả. Với tôi, anh là cây bút viết văn tế độc đáo và xuất sắc nhất thời nay.
     Nhiều người trong Khóa 23 của chúng tôi, dù không là hội viên Hội Nhà văn vẫn sáng tác rất sung sức và có nhiều tác phẩm giá trị được đông đảo bạn đọc yêu thích, ngưỡng mộ như: Đinh Thiên Hương, Vũ Quốc Long, Hồ Thị Bình…Đinh Thiên Hương là người vô cùng tâm huyết với nghề dạy học. Anh luôn tìm ra cách giảng dạy thật sự lôi cuốn với học sinh. Không chỉ giảng dạy kiến thức chuyên môn, anh còn kết hợp giáo dục học sinh bằng những câu nói giản dị mà sâu sắc. Vì thế cho đến ngày nay, khi anh đã nghỉ hưu lâu rồi thì các em vẫn đưa lên facebook “ Ngàn lẻ một câu nói của thầy Hương mà chúng con còn nhớ mãi”. Đinh Thiên Hương còn có hàng trăm bài giảng văn, bình thơ, phê bình nghiên cứu đăng trên các báo và tạp chí uy tín trong toàn quốc.
     Khóa chúng tôi lại có những người chuyển hẳn sang công việc khác nhưng vẫn rất thành công như: Nguyễn Thị Tiến, Nguyễn Xuân Hiên… Nguyễn Thị Tiến, một phụ nữ chân yếu tay mềm, xinh đẹp như diễn viên Trà Giang, một cô giáo đang dạy văn ở trường Cao Đẳng sư Phạm Đà Lạt đã chuyển sang làm người lính rồi lăn lộn bao năm ở đất Lào, cùng đồng đội tìm hài cốt liệt sĩ, tìm tòi các kỉ vật của Liệt sĩ để từ đó tìm ra địa chỉ, tên tuổi cho các anh, đưa các anh trở về với gia đình quê hương thỏa lòng mong ước của những người mẹ già, người vợ hiền son sắt thủy chung. Chị đã ba lần được lên chương trình NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI, khiến bao người xem chương trình rơi lệ vì cảm phục tinh thần, ý chí, nghị lực và nhất là tấm lòng của chị với vong linh các liệt sĩ cũng như thân nhân của các anh. Chị đã xuất bản một tập sách ( Chuyện kể của người đi tìm hài cốt liệt sĩ do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, )khiến ai đọc cũng không cầm được nước mắt. Kể cả giờ đây, khi chị đưa lên trang K23 Khoa Ngữ Văn một chi tiết về gia tài của chị: “Gia tài nghỉ hưu của tôi lưu giữ 5.000 bức thư đồng bào nhờ tìm liệt sỹ, 5.000 giấy báo tử liệt sỹ hi sinh mất tin tức phần mộ.
Hàng trăm lá thư cuối cùng của liệt sỹ...
Bao nhiêu thư bấy nhiêu tâm trạng đau đáu nỗi niềm.
Trong đó biết bao liệt sỹ Hải quân hi sinh bảo vệ biển đảo...
Ta còn nợ các linh hồn liệt sỹ nhiều lắm” cũng thật sự làm ta thêm xúc động, nể phục và yêu quý chị hơn
     Nguyễn Xuân Hiên, đã chuyển từ giáo viên Cao đẳng Hà Tây sang làm kinh doanh. Anh luôn trăn trở tìm cách làm việc chính đáng để trở thành doanh nhân thành đạt mà vẫn giữ một phong cách sống rất giản dị, gần gũi, sâu nặng tình người và thấm đẫm chất nhân văn. Anh không chỉ tri ân các thầy cô mà còn tự nguyện đóng góp nhiều nhất có thể cho quê hương, xã hội và ưu ái thật nhiều với những người khó khăn, bệnh trọng. Anh là người có công lớn trong việc liên kết và tổ chức các dịp hội Khóa, hội lớp của chúng tôi. Cả Khóa chúng tôi yêu mến và tự hào về anh, một doanh nhân có tài và có tâm.
     Khóa chúng tôi còn có những người rất đa tài như Nguyễn Thị Quỳnh Liên, Lê Đức Cần, Song Bình, Phạm Thị Dừa…Quỳnh Liên vừa hát hay nổi tiếng, (từng đoạt huy chương vàng từ thời sinh viên với những ca khúc: “Em đứng giữa giảng đường hôm nay”, “ Bóng cây kơ nia”) vừa sáng tác nhạc tài hoa. Ngay từ lần đầu tiên phổ nhạc bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử , ca khúc ấy đã được phát trong chương trình những bài ca đi cùng năm tháng. Quỳnh Liên còn là nhiếp ảnh gia có hạng, những tác phẩm chị chụp về phong cảnh Việt Nam được tổ chức triễn lãm ảnh quốc tế đánh giá cao. Còn Lê Đức Cần dù đến nay đã sấp sỉ bảy mươi tuổi rồi mà giọng hát vẫn ngọt ngào du dương đến mê hồn. Phạm Thị Dừa, một cán bộ đoàn năng nổ nhiệt tình ngay từ khi còn là sinh viên, khi ra trường lại dạy trường chuyên, lớp chọn và có nhiều học sinh đoạt giải cao. Song Bình, một người có dáng cao óng ả, rất hợp với những tà áo dài Việt Nam nên nàng chụp ảnh mặc áo dài rất đẹp để tôn vinh vẻ đẹp của trang phục nước nha. Song Bình cũng là một MC rất có duyên. Nàng tham gia dẫn chương trình cho mọi cuộc hội khóa của chúng tôi và nhiều cuộc vui của các Hội khác nữa...
     Một điều đặc biệt nữa là khóa chúng tôi có rất nhiều người đẹp, vẻ đẹp tự nhiên, đằm thắm , dịu dàng duyên dáng từ thuở sinh viên đến giờ đã sấp sỉ 70 tuổi rồi vẫn rất đẹp như: Đinh Lan Phương, Phạm Thị Phương, Lê Thị Vân, Phạm Thị Phượng, Đặng Thị Ngân, Nguyễn Thị Tiến, Hoàng Bạch Liên, Vũ Thị Minh Hoàn, Nguyễn Thị Minh hà, Đoan Lê, Kim Chúc, Nguyễn Thị Mai, Thanh Hà…
Ngoài những người rất đặc biệt kể trên, có lẽ còn nhiều người đặc biệt khác nữa mà tôi chưa nắm bắt được. Nhưng tôi tin chắc rằng, phần đông các thành viên trong Khóa chúng tôi đều là thầy, cô giáo toàn tâm toàn ý với công việc của mình. Rất nhiều người đã trở thành giáo viên giỏi có học sinh đoạt giải cao trong kì thi học sinh giỏi các cấp. Nói như bạn Nguyễn Thị Bắc : “ Chúng tôi ai cũng cố gắng để trở thành phiên bản đẹp nhất của chính mình”. Còn tôi, tôi muốn nói rằng: Khóa chúng tôi, mỗi người một số phận khác nhau, với những công việc cụ thể khác nhau và ai cũng có những ưu nhược điểm của một con người. Nhưng chúng tôi luôn nhớ lời Giáo sư Lê Trí Viễn và Đặng Thanh Lê thường nói: “ Khóa các em ( 1973-1977) là một khóa hiếm hoi nhiều năm mới có được. Mong rằng sau khi ra trường các em hãy phát huy tốt nhất khả năng của mỗi người”.vì thế, mỗi chúng tôi đều cố gắng vươn lên để hoàn thiện chính mình, làm tốt nhất công việc và trách nhiệm của mình và chúng tôi có thể tự hào mà khẳng định:
KHÓA 23 CỦA CHÚNG TÔI
MỖI NGƯỜI LÀ MỘT CON NGƯỜI VIẾT HOA

Sao Đỏ 11-6-2023
Song Thu

Ghi chú: Tài liệu tham khảo để viết bài:
1, “Văn K23 yêu dấu của chúng tôi” của PGS, TS, Trần Thị Trâm, bài đăng trong 65 năm sư phạm Văn khoa
2, “ Chân dung Bùi Mạnh Nhị qua “Trang sách trang đời” của PGS,TS Trần Thị Trâm
3, “ Có mấy người tâm tài tận lực được như anh" của Đinh Thiên Hương

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2023

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ THÁNG 4/1975

 

     Gần nửa thế kỉ nay, nhiều người viết về lứa trẻ sinh ra dịp b mươi tháng tư, lứa cán bộ trưởng thành từ ba mươi tháng tư, những người lính ba mươi tháng tư… nay ở đâu? Nhưng những người con gái ba mươi tháng tư thì tôi để ý, chả thấy người ta viết, hay họ viết mà tôi không biết.
     Những người đàn bà dưới đây tôi gặp họ vào những ngày tháng 4 năm 75 rồi từ ấy đến nay không bao giờ gặp lại. Tôi gọi họ là “những người đàn bà tháng tư 75 “.
    1 Cô biệt động Mỹ Hạnh.
     Hạnh quê ỏ Tân Phú Trung, Củ Chi. Cho tận tới tối 28/4 trước giờ hành quân tôi mới gặp Hạnh. Chiều ấy nắng đã tàn mà trời vẫn hồng rực lên. Lúc ấy chúng tôi ở An Nhơn Tây, dàn đội hình hành quân mà vẫn thấy lửa sáng phía tay phải đội hình. Có một cô gaí người lẳn như cú khoai sọ đeo AK báng gấp bảo, chỗ sáng đó là Đồng Dù. Ai cũng nhìn sang cô gái có cái bồng bằng vải ni lông sáng màu cổ vịt. A phó Ngô Thịnh hỏi, này cô đi đâu đấy? Cô gái trả lời. Tôi gặp anh Nguyễn Trọng Luân và cùng đi dẫn đường cho tiểu đòan 8 đánh Ấp Chợ - Cầu Bông. Tiểu đội trinh sát mắt sáng lên. Lần đầu tiên có gái đi cùng trong một trận đánh lớn ai chả thích. Tôi gọi, này em ơi anh biết tên em rồi. Cô gái cũng nói luôn, em cũng biết tên anh rồi nha. Biết từ lúc nhìn thấy anh da đen quá trời. Cấp trên của anh bảo, em về đó gặp thằng Luân đen rồi cùng nhận nhiệm vụ đêm nay. Cả tiểu đội cười ồ. A phó Ngô Thịnh nói trong lúc có tiếng pháo vút qua, này Hạnh ơi thằng Luân đen nó có người yêu ngoài Hà Nội rồi, em đi mũi luồn sâu đêm nay cùng anh thôi. Cô gái tên Hạnh cười ri rí. A trưởng phân công đâu em nằm đấy. Cả A trinh sát rúm vào nhau cười rinh rich. Tiểu đoàn nhằm hướng nam hành quân. Những cánh đồng ruộng trằm lúp xúp và những con kinh nhỏ rồi lại con kinh lớn. Pháo địch bắn từ thành Quan năm lên, từ Đồng Dù ra hu hú qua đầu. Có vài quả rớt cả vào đuôi đội hình khiến lính ta chạy nháo nhào lên phía trước. Vùa lúc gặp đoạn kinh lớn nước quá đầu người. Bộ đội phía sau hỏi lên có cởi quần không? Hạnh giật mình kêu chu cha! Thằng Ngô Thịnh nói khẽ với tôi, truyền lệnh cho cởi quần đi! Hạnh giãy nảy lên. Em xin. Em xin anh. A phó Ngô Thịnh cười hé hé. Cả đoàn quân cứ thế lặng lẽ xuống nước. Rồi có tiếng, chết đuối rồi! chết thằng Dìn rồi. Mỹ Hạnh quay ngoắt lại trong mập mờ đêm, nhoáng cái lôi chàng Dìn vào bờ. Chúng nó hỏi: Mày không biết bơi à? Em không biết. Hinh hích hinh hích, lính ta cười. Mỹ Hạnh càu nhàu, đồng đội chết ỉm đến cổ còn húm vào cười. Lính ta chả ai nói gì .
     Vượt qua lộ 8 đoạn Phước Vĩnh An. Cái đồn địch bắn đạn 12,8 đỏ lừ lừ cành! Cành! Cành! Chó sủa râm ran. Mặc, chúng tôi cứ nhắm phía Cầu Bông mà lội tới. Mùi bùn, mùi lúa con gái ngai ngái trong đêm. Lính hỏa lực ì ọp ngã lên ngã xuống. Bờ ruộng thì nhỏ bùn lại trơn, tôi bảo Mỹ Hạnh, tôi chiếu bản đồ Hạnh dẫn bộ đội lội trên lúa. Hạnh cự, nát lúa uổng lắm. Tôi gắt, không thể để chậm giờ vào chiếm lĩnh. Tôi truyền lại, tất cả lội ruộng theo trinh sát. Thế là hàng mấy trăm người bì bõm dưới ruộng, rồi leo lên ruộng cạn rồi lại xuống nước. Cứ thế chúng tôi vòng qua cánh đồng rìa làng Tân Thông Hội, xuống Tân Phú Trung.
     Một giờ sáng, trăng bất thần nhú ra. Cả đội hình đến cánh đồng trồng dưa của dân Tân Phú Trung. Trong đêm mà vẫn nhận rõ những chùm dưa lúc lỉu, nần nẫn. Truyền xuống, hạ ba lô im lặng. Trinh sát bàn nhau, xin đồng bào mấy quả dưa “khợp” đi. Lập tức bị Mỹ Hạnh phản ứng. Hạnh nói, các anh đi làm cách mạng mà lại ăn trộm của dân à?
     Tôi đưa cho Hạnh gói lương khô. Mỹ Hạnh mừng húm hít hà rồi ăn ngay, vừa ăn vừa nói lương khô chủ lực ngon quá trời. Tôi bảo mỗi trận đánh tụi anh chỉ được một gói thôi. Hạnh ăn rồi anh phải ăn dưa thôi. Cô biệt động kêu trời, rằng bộ đội lừa nhân dân. Chúng tôi cười khoái trá và bổ dưa ăn.
     Trưa hôm ấy 29/4/75 đánh dứt điểm đồn Tân Phú Trung và Cầu Bông. Đồng bào Tân Phú Trung ào ra đường ôm lấy Mỹ Hạnh. Người ta à lên, út ơi mày đi đâu mà lâu về thế? Bỗng có mấy người mặc đồ xi - vin lẫn trong bà con lục tục tránh đạn ngoài bưng đi về nhìn thấy Hạnh liền vùng bỏ chạy. Hạnh nổ súng ngay tắp lự. Mấy đàn ông sững lại. Thì ra đó là hai thằng ấp trưởng ấp phó và lũ dân vệ ác ôn đã từng săn tìm Mỹ Hạnh bấy nay. Cuộc đời thật trớ trêu. Họ gặp Hạnh và Hạnh cũng mong được gặp họ.
     Tôi xa Mỹ Hạnh từ lúc ấy. Hạnh ở lại Tân Phú Trung còn tôi cùng đơn vị tiến vào đô thành. Tiểu đội tôi ai cũng nhớ cô biệt động Mỹ Hạnh mà chả anh nào có may mắn gặp lại cô gái ấy. Vài chục năm sau tôi trở lại Củ Chi, bà con kể cho tôi nghe sau giải phóng Hạnh được đi học làm y tá rồi lấy chồng về trên Lâm Đồng sinh sống. Chỉ có điều tiếc là cô ấy mất đã vài năm nay.
     2 Cô giao bưu ở Bến Đình Củ Chi.
     20 / 4/ 1975:
     Nơi chúng tôi ém quân ở Bến Đình có một đơn vị giao bưu. Chỗ đó nhiều cây ổi lắm. Ổi xùm xòa xuống sông. Những cành ổi gác che mái nhà cho cái trạm giao bưu này nhiều mùa mưa nắng. Trưa nóng, tôi mắc võng sát mặt nước. Nằm nhìn lục bình trôi xuôi dòng và những con cối xay lan lan chạy trên mặt nước tôi chợt nhớ nhà, nhớ ngày bé con của mình.
     Cách chừng 10 mét có một cái võng, một cô gái giao bưu cỡ tuổi tôi ngồi thõng chân nhìn bất động ra sông. Mấy ngày nay bộ đội chủ lực về đây đông nghìn nghịt kín cả triền cỏ dọc sông Sài Gòn. Bộ đội đông đến nỗi con chim sâu cũng vui. Nó nhảy nhót trên vòm lá mâm xôi ven bờ sông thủy triều lên xuống kêu như tiếng hát của lũ trẻ tí hon trong cổ tích.
     Cô gái giao bưu nhớ gì mà cô im lặng đến hàng giờ. Gương mặt thật đẹp. Cô chỉ nhìn vào đám lục bình trôi ngoài sông Sài gòn. Mặt sông lốm đốm những đám lục bình trôi. Những chùm hoa tím chĩa lên trời. Sóng sông lom tom như cá quẫy. Trưa nắng, có cả tiếng bìm bịp kêu. Sông Sài Gòn lên hơi như khói.
     Không biết người con gái ấy nhớ ai? không biết có điều chi uẩn khúc. Mặt trái soan, mái tóc kẹp cặp ba lá, ngực căng bà bà đen. Chỉ có con mắt là buồn tê tái. Tê tái ngay cả lúc trưa nắng và đầy con trai bên bờ sông im tiếng súng. Chưa bao giờ tôi thấy cô nói, chỉ nhìn đoàn quân ồ ạt trẻ trung như kẻ mộng du rồi laị nhìn ra sông. Cứ thế cô như một hòn vọng phu búi tóc.
     Buổi trưa 26/4 sau lúc được trung đoàn phổ biến chiến dịch được mang tên CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH ai cũng mừng húm. Tôi vội moi cóc ba lô nhưng tìm không thấy cây bút để viết nhật kí. Ngó sang thấy cô giao bưu vẫn ngồi trên võng nhìn ra sông, liền đánh bạo sang hỏi mượn cây bút. Cô gái móc trong cái bồng treo trên cành ổi ra cây Bic đưa cho tôi và khẽ nói, anh cầm lấy mà dùng. Không hiểu sao trang nhật kí hôm ấy tôi toàn viết về con gái Củ Chi. Tôi viết về họ, những người chiến đấu kiên cường trong vòng đai lửa thép mà ai cũng xinh cũng đẹp. Có điều ai cũng buồn buồn.
     Đêm hành quân chiếm lĩnh Cầu Bông Tân Phú Trung tôi đã nghe cô biệt động Mỹ Hạnh kể về cô giao bưu ấy.
     Năm 1974 trong một trận càn của sư đoàn 25 VNCH vào khu vực Bến Đình. Chồng cô gái là trạm trưởng giao bưu đã chiến đấu hết đạn và bị địch bắt. Họ có một đứa con trai mới hai tuổi hôm ấy cũng ở lại trạm với bố còn mẹ đi công tác chưa về. Địch bắt được hai bố con và chúng đưa ra sông buộc đá vào bố và con rồi thả xuống sông Sài Gòn. Nơi kẻ thù buộc đá thủy chôn chồng con cô gái chính là trước rặng ổi nơi chúng tôi về trú quân vừa qua. Bây giờ thì tôi biết vì sao cô gái xinh đẹp ấy đã bao nhiêu ngày ngồi thõng chân nhìn ra sông Sài gòn bất động như một hòn vọng phu.
     Một thời gian sau 30 tháng 4 năm 1975 tôi lại gặp người con gái giao bưu Bến Đình ở Bưu Điện huyện Củ Chi khi đi gửi thư về nhà. Cô ngồi trong quầy gửi thư và điện tín. Tưởng cô nhận ra mình nhưng cô nhìn tôi rồi trượt cái nhìn qua đầu ra ngoài sân đầy nắng mùa hè. Vẫn buồn, vẫn im lặng, vẫn đẹp. Ngoài kia, chiến tranh mười ngàn ngày vừa đi qua đất nước tôi và cuộc đời chúng tôi. Năm 1988 khi tôi vào công tác Sài Gòn nghe tin cô ấy vừa mới đi lấy chồng.
      3 Chị bẩy Thơm
     Lâu rồi, kể từ 1993 tôi và một người bạn dưới đài THTP thăm chị nay đã 9 năm. Hai hàm răng chị lúc ấy đã rụng mấy cái, chị cười mà không biết là chị cười. Khổ thế. Cái răng cái tóc cả hai cái đều báo hại chị. Một thời cái tên Bảy Thơm ở xã Tân Phú này ai mà không biết. Gặp chị loe hoe tóc bạc xơ, răng rụng khiến hai má lóp lại. Nhìn không ra, phải nói là: em đây chị, em là Luân 320 này. Chị à à ờ ờ rồi khóc. Khóc chán rồi chị cười. Mà em vô lâu mau? ở lại không? Bỗng nhiên chị lại khóc. Mà em ơi chị không nuôi được em bữa cơm như ngày nào đâu... Nghe buồn thế, tôi và Thành nín thinh . Ngoài vườn mấy cây lê ki ma, cây trứng gà lá rụng nâu xỉn mặt sân. 2 Cái lô cốt chắn cái cổng vào nhà chị biến mất tự bao giờ. Bây giờ chính quyền họ sắp chia lô bán đất. Nhà chị vẫn nép sau sự ồn ã của xã hội đổi mới.
      Trung đoàn 64 đánh ấp Chợ (Tân Phú Trung). Khó khăn nhất là 2 cái lô cốt bên nam đường chỗ đầu dốc ấp Chợ. Cả căn cứ này có một tiểu đoàn địch hỗ trợ cho cầu Bông cách đó chừng 800 mét. Cô biệt động Mỹ Hạnh ghé tai tôi lúc còn ở trên An Nhơn Tây. Anh yên tâm đi, điều nghiên cụm lô cốt Tân Phú Trung em đã nhắn nhe chị Bảy Thơm. Tôi hỏi lại, bảy Thơm là ai? Mỹ Hạnh trả lời, chỉ là cán bộ phụ nữ nhà sát ngay phía sau đồn địch. Hàng rào dây thép gai lô cốt Tân Phú Trung vào mép vườn nhà chỉ. Lát nữa khi đến Bàu Trâm sẽ gặp bảy Thơm để chỉ đưa sơ đồ cụm lô cốt đó anh hai. Chỉ cũng sẽ là người dẫn đường đại đội đánh bộc phá đó anh
     Đêm ấy tôi gặp chị lúc trăng mờ mờ ngoài đồng dưa leo. Chả rõ mặt nhưng thân hình eo ót và lanh lẹ lẩn vào đêm. Trận đánh hôm 29/4 cũng may mắn là nhà chị không bị trúng đạn hay bị cháy. Chị khoe cái hầm giữa nhà xây cất từ năm Mậu Thân kiên cố lắm. Bên trên là một cái phản rộng bằng bê tông đúc dày đến 15 phân ba hàng mễ vâm vu làm thành mái chắn mảnh pháo. Chiến tranh bom đạn nên gặp rồi xa chẳng ai nghĩ có thể gặp lại chị.
     Một tuần sau ngày 30/4 Sư đoàn 320 trở ra Củ Chi đóng quân. Tiểu đoàn tôi lại đóng đúng ngay ấp Chợ. Chúng tôi ra thăm cánh đồng chôn hơn ba mươi tử sĩ của tiểu đoàn hôm 29/4, đi lại những bờ mương, những dặng bằng lăng còn nhuốm màu khói súng. Cuộc sống của dân làng đang còn ngơ ngác thăm dò. Chúng tôi vào ngôi nhà gần cái lô cốt oái oăm kia xin nước và tắm nhờ. Ông già quắc thước chừng ngoài 60 mặc quần cụt ngồi khoanh chân trên phản. Ông nói nghe sang sảng, con bảy lấy cho mấy chú muợn cái thau. Ông phẩy phẩy cái quạt, tắm rồi vô chơi. Chúng tôi múc nước giếng tắm ào ào. Rồi vô sân kiếm cái ghế ngồi. Ông già kể, sáng 30/4 tao một mình một xe dắt con dựa bám theo bộ đội vô thành phố, suốt cả ngày không thấy thằng hai thằng tư tao mới về. Mới giải phóng mà có ông già gọi quân giải phóng là mày xưng tao cũng thấy chờn chợn. Ngồi nghe vậy thôi mấy thằng chưa dám hỏi gì. Ông bảo, mai vô đây tao kêu con bẩy nướng bánh tráng nhậu vài li đế chơi. Tò mò quá. Nhậu bánh đa nướng với rượu đế? Chưa bao giờ tôi từng biết. Tối sau chúng tôi lại vào. Chị bẩy nướng mấy cái bánh đa và thái mấy qủa soài xanh. Bánh đa Củ Chi có tiếng chả kém gì Trảng Bàng đâu hà. Ông nói rồi đưa li cho chúng tôi. Ông đưa li nào thì tôi uống li ấy. Hồi đó tôi chưa từng uống rượu nhưng cứ uống và thấy cũng hay hay. Rồi nghe ông kể. Trong lúc ông kể thì chị bẩy lụi hụi gọt thêm soài, nướng thêm bánh. Ôi thì ra là du kích Bảy Thơm tôi đã gặp ngoài đồng cái đêm vào đánh ấp Chợ. Từ lúc ấy tai nghe câu chuyện ông già kể còn mắt thì nhìn chị Bảy. Tấm áo bà ba căng căng. Mặt cúi xuống hiền khô chả thấy ngẩng lên.
...Thằng hai đi tập kết theo mấy anh mới mười mấy tuổi. Lớn lên thằng ba thằng tư kém nhau mỗi đứa 2 tuổi, cũng đi giải phóng lúc mỗi đứa vừa mười tám. Thằng năm mãi tới 71 cũng đi huyện đội. Cái năm 70 thằng Ba bị bắn chết trên Tân Thông, tụi nó đưa xác về để ngoài chợ phơi hai nắng. Đêm tao mò ra lấy xác nó đem chôn. Một mình một cây dựa tao vác nó ra tận ấp bàu trâm. Rồi ông khà. Ông ngó ra ngoài vườn. Chị bẩy cũng thở dài nhìn vào đêm. ….ông nói tiếp …30 /4 tao mừng quính quáng tao dắt cây dựa nhằm đường qua thành Quan Năm theo bộ đội đi tìm thằng hai thằng tư thằng năm. Tao hỏi chả ai biết thằng Hai thằng Tư với thằng Năm là thằng nào. Bộ đội chỉ cười bảo tao chắc các anh ấy ở cánh quân khác. Biết bao nhiêu là cánh quân tao tìm sao nổi. Năm ngoái tao nghe có người trên huyện mới ở ngoải về nói thằng Hai được đi Nga xô học làm cũng lớn lắm ở ngoài Y tế. Thế nào mà nó chả theo về giải phóng. Thằng Tư đi bộ đội xuống tận Bến Tre. Thằng Năm dông lên Tây Ninh. Hôm nay vẫn chưa đứa nào về. Tao ở cái vườn này từ ngày thằng Mĩ chưa xây cái lô cốt kia. Nó làm lô cốt rồi, nhà mình rặt bộ đội với tập kết ai cũng kêu bỏ đó đi. Tao thây kệ tao cứ ở đây nó mới ngán. Tao chả đi đâu hết ngày tao ra đồng tối tao về ngủ. Con bẩy đi phụ nữ tau kêu liệu mà giữ lấy thân.
     Chị bẩy mặn mòi, chị làm phụ nữ xã nhưng hoạt động hợp pháp. Hai mươi lăm tuổi chưa có chồng. Nghe đâu có thương anh nào đó trên bộ đội Củ Chi mà ảnh hi sinh rồi. Mươi ngày sau chúng tôi về đóng trên Đồng Dù. Vài tuần được ra khỏi doanh trại một lần, lại chạy nhờ xe honda xuống Tân Phú Trung ghé vào nhà chị. Ông kêu chị bảy nấu cơm ăn, ngồi với ông học uống rượu đế. Một bữa thấy nhà đông hơn, có người đàn bà và hai thằng nhỏ 6, 7 tuổi. Chị bảo vợ và hai con anh Tư ở Bến tre về. Anh Tư hi sinh từ năm 1970 cùng năm anh Ba. Tháng 8/75 tôi đến chị mừng quýnh khoe mày lâu không xuống nên không gặp anh hai. Ảnh về rồi, học ở Nga Xô về mang cả vợ người bắc nữa. Ảnh làm cục phó cục gì gì về dược đó, ở nhà vài bữa rồi đi ở dưới thành phố. Chị ba về lại Bến Tre, hai đứa con để đây ở với nội, tao nuôi luôn. Rồi sau đó là làng quê giải phóng thay da đổi thịt hừng hừng vô tổ hợp, tập đoàn. Cái cầu Bông cách ấp Chợ non cây số cũng xây lại, mang cái tên cầu An Hạ. Cánh đồng phía tây ấp Chợ có một con mương đào lấy nước mang cái tên Phạm Văn Hai, rồi nông trường này nọ mọc lên. Những dặng bằng lăng ngoài bờ ruộng chỗ còn chỗ chặt đi. Đôi chỗ bằng lăng còn xót lại hoa vẫn tím ngan ngát mỗi độ tháng năm về. Năm 2003. Tôi đi công tác, lên thăm Tân Phú Trung. Con đường xuyên Á rõ to và phẳng đẹp. Dừng lại ở cầu Bông nhìn xuống dòng nước rợp những thân dừa nước và lau sậy khi xưa bây giờ chỉ thấy là quán sá. Cái chợ xưa vẫn còn đó. Cái dốc lên chợ nay ít dốc hơn. Chỉ có một đặc điểm là những bờ mương, bờ ruộng vẫn đầy kịt lục bình như xưa. Củ Chi vời vợi xa mà gần sau tiếng búa máy và xe cộ xoe xóe ngoài đường.
Nhà chị bẩy vắng quá. Cái cổng cũ biến đâu. Tôi và bạn mình đi vòng lối sau vào nhà. Cái vườn chia năm xẻ bẩy bằng rào ô rô khô tái. Chị bẩy móm mém. …”Nội mất rồi, hai thằng cháu đi làm phụ hồ rồi đánh bạc cá cước bóng banh chi đó. Người ta xiết nợ. Chị có tiền góp hui rồi bể hụi. Vườn bán dần giờ chỉ còn cái xác nhà... “
     Tôi hỏi chị trả nợ xong chưa? chị bảo hai đứa cháu con anh Tư lấy tiền bán đất trả nợ rồi đi biệt. Trả hụi chưa hết chị tính bán nốt cái nhà rồi lên Tây Ninh tá túc nhà anh Năm. Chị ba về Bến tre lấy chồng khác con cái lúc lỉu đỡ sao được nữa. Anh Hai cũng mất vài năm nay. Chị Hai bán nhà đưa con về bắc. Chị Bẩy bảo chả lo gì, chỉ nghĩ nếu về Tây Ninh ai hương khói cho cha và anh ba trên An Nhơn Tây.
     Trước mắt tôi chị bẩy Thơm phụ nữ 30 tháng tư vẽ sơ đồ đồn Tân Phú ngày nào giờ là một bà già móm mém trong ngôi nhà vắng. Ngoài kia tiếng máy ủi máy búa đang rầm rập thi công khu công nghiệp Tân Phú Trung. Cái vườn có những cây lê ki ma vẫn xanh mướt nhưng đã là của người khác. Bờ ao hoa lục bình thì vẫn tím.
     4. Người yêu của lính phía bên kia.
.....Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên 1975
     Đánh vào thị trấn Buôn Hồ ngày 12/3/75 chúng tôi lính E64F320 ào lên thị trấn vào lúc gần trưa. Một trận địa pháo 4 khẩu 155 li không còn một tên lính nào. Vừa lúc trước nó còn nã đạn vào chúng tôi ở phía bên kia cánh rừng Cà phê Buôn Hồ. Thế mà giờ đây chỉ sau một giờ 30 phút bộ đội ta nổ súng và xung phong họ đã biến mất. Họ bỏ pháo bỏ trận địa chạy về hướng đông. Chúng tôi vượt qua anh em cối 120 của sư đoàn còn đang khiêng vác ì ạch để tiến vào khu chỉ huy trận địa pháo binh. Trước khi rút chạy lính đối phương đã kịp gài lựu đạn. Căn nhà chỉ huy có dây mìn giăng ngay các cánh cửa sổ. May mà bọn tôi phát hiện ra, rồi gỡ mìn. Từ lúc ấy lính ta dò dẫm chứ không ào ào xông xáo nữa. Tôi thận trọng lò dò bước qua cửa, nhìn căn phòng của tên trung uý đại đội trưởn Tiền đồn này cũng đơn xơ, nhưng chỗ ở của tên này ngay ngắn và rất nhiều sách (!) . Tôi nhấc mấy cuốn sách của Hemingway trên cái kệ đầu giường hắn ra, có một phong bì lớn ( loại phong bì công vụ của QLVNCH ) . Tôi rút ra một tập thư. Ngay lá thư đầu tiên tôi biết là thư của con gái. Quay trở ra mấy thằng hỏi mày kiếm được gì không? tôi bảo nhiều lắm, biến thôi . Tập thư tôi nhét ngay vào bụng áo .
     Ngay sau đó lệnh trên cho chúng tôi tiến vào Buôn Hồ 2 , tức là vùng thị trấn mới phát triển cách đó chừng 3 cây số. Một cánh rừng cà phê ngút ngàn gần một cái hồ nước thật xanh và sâu thẳm. Dừng chân triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu khi có quân đổ bộ đường không. Tôi lặng lẽ giở thư ra đọc. Tất cả 25 lá thư của một người con gái Sài gòn H. T. H. Nhung gửi cho thiếu uý và nay là trung uý Thái Anh T .
     Tôi đọc say xưa và trong tôi hiện ra một đêm người sĩ quan trẻ từ Cao Nguyên về Sài gòn thụ phép, gặp cô sinh viên luật khoa năm nhất ở một nhà người bạn …. Rồi những ngày cô ấy nhớ chàng thiếu uý và đã từng bay lên cao nguyên, đã từng lặn lội tới nhà người anh trai mình đang là chỉ huy một phòng trong bộ Tổng tham mưu để nhờ chuyển cho bạn trai mình bộ sách “ chuông nguyện hồn ai ’’ và “Giã từ vũ khí ”. Những kì nghỉ chớp nhoáng của trung uý T về sài gòn, những cuộc gặp nhau đẫm nước mắt và nụ cười lãng mạn đẹp đẽ. Càng đọc về sau càng hiểu họ yêu nhau, yêu mê đắm. Giọng văn của thiếu nữ miền nam thật mới mẻ với chúng tôi. Nồng nàn chân thật trong yêu đương, vừa nũng nịu vừa thiết tha căn dặn.
     Đọc thư của họ mà mình cũng thấy cuộc đời đáng yêu đến thế. Việc lấy thư từ của đối phương mà đọc hẳn là một khuyết điểm lớn. Nhưng chả cứ gì một mình tôi, nhiều người khác cũng làm liều như thế vì lính bên này hay bên kia cũng đều yêu thương cha mẹ vợ con mình giống như nhau. Dù vậy tôi cố gắng không để cho đồng đội xung quanh biết. Nhưng có lá thư hay quá không thể nín nhịn một mình được bèn gọi mấy thằng xúm vào cùng nghe. Cứ tưởng chúng nó chê mình hữu khuynh, tư tưởng lệch lạc đọc thư của đối phương. Ấy thế mà nghe tôi đọc chúng nó cứ im thin thít. Có thằng thở dài ... có thằng khịt mũi liên hồi. Tôi cũng thở dài rồi cả tiểu đội im lặng. Chính trị viên không biết, đại trưởng cũng không biết, chỉ có chúng tôi biết với nhau.
     Chiều hôm ấy hành quân đi đánh Cư Pao. Một cứ điểm nằm trên đường 14 cách Ban Mê Thuột về phía bắc chừng 20 cây số, chúng tôi lại có thêm những lá thư của lính. Rồi tiếp tục là những ngày truy kích trên đường 7 chân tơ tướp máu, những trận đánh cứ liên miên suốt tháng ba. Dọc đường chiến trận tôi lại thu được nhiều những ba lô mà lính địch bỏ lại, nhưng chỉ nhặt những lá thư hay các tấm ảnh của họ để xem. Trong tôi đã từng nhớ những tấm ảnh của nhiều cô gái là vợ là người yêu của lính đối phương. Những người đàn bà mà tôi cũng thấy yêu quí. Tôi cứ phân vân, hình như mình đã hữu khuynh sai lầm chi đó. Thế nhưng hình ảnh những người phụ nữ ấy cứ hiện lên cùng với hình ảnh mẹ tôi và các bạn gái của tôi ở trường cũ.
     Một hôm hành quân mệt quá rồi, dừng lại là nằm lăn quay ra rừng. Có thằng gọi to: Luân ơi đọc thư tình đi. Tôi lấm lét rút ra một lá thư đọc cho cả trung đội nghe. Thằng nào cũng nuốt nước bọt nơi cổ họng chả để ý gì xung quanh. Đúng lúc ấy anh đại đội trưởng đi lại, anh ấy ngồi xuống lặng lẽ. Đọc một lá thư con gái thôi mà cái mệt tan đi nhanh quá. Thằng nào cũng tưởng rằng đó chính là tiếng nhắn nhủ của người yêu mình. Rằng sự yêu thương của người con gái nó lớn lao quan trọng thế nào với người người lính chiến biền biệt ở trận tiền. Rằng, tình yêu không có biên giới, tình yêu không thù hằn, không có phía bên này hay bên khác. Tình yêu ở mọi phía giống nhau. Tình yêu không có ta và kẻ địch, nó chỉ là khát vọng sống, khát vọng được yêu thương. Tình yêu chỉ làm cho cái thù hằn trong con người bớt đi. Nó chỉ làm cho trái tim thêm dòng máu tươi đỏ. Tình yêu là tiếng nói chung vì đó là trái tim con người, ước muốn của chung con người.
     Rồi những ngày sau, chiến dịch cuốn như lũ, chúng tôi đánh ra tận bờ biển Tuy Hòa rồi lại lên đường đi đến chiến dịch cuối cùng. Chúng tôi tiến vào Sài Gòn khi chưa kịp chuẩn bị nghĩ là mình sẽ gặp Sài Gòn.
     Sáng ngày 1/5/1975 Tôi được chọn thay mặt chiến sĩ trung đoàn 64 sư đoàn 320 giao lưu gặp gỡ với các Thày giáo và học sinh sinh viên tại trường trung học Lê Quí Đôn. Đây là ngôi trường ở gần sát với Dinh Độc Lập). Buổi trưa hôm ấy, chợt nhớ ra địa chỉ từ những lá thư của cô SV Luật khoa HTHN với chàng trung uý pháo binh Thái Anh T…trên Buôn Hồ. Giữa thành phố Sài Gòn đầy nắng tôi thấy hiện lên cặp đôi trai gái Sài gòn mà tôi như đã thân quen. Tôi đi dọc đường Trần Hưng Đạo tìm đến nhà ….x15. Đường phố to quá, dài quá, đi mỏi cả chân. Cái số ….X15 cũng nhiều nhà sau một cái cổng sắt to. Tôi bần thần đứng ngoài cổng nhìn vào. Những bậc tam cấp những vòm hoa lơ đãng dửng dưng. Cô gái có tên HTH Nhung ở đây ư? Hỏi ai bây giờ nhỉ? và nói mình là ai? Chả nhẽ nói tôi đuổi người yêu của cô chạy tóe khói rồi lấy thư tình của cô để mang ra đọc. Đọc mãi rồi nay lai tìm gặp cô ư? Những người con gái 30 tháng 4 mang những số phận chả giống nhau. Họ là những mảnh ghép yêu thương của đất nước tôi từng mấy mươi năm lửa khói
     Tôi quay trở về.
    Sài Gòn nắng tháng năm vàng như mật. Thành phố ngày đầu tiên giải phóng lâng lâng bàng hoàng. Tôi khoác khẩu AK báng gấp đội mũ tai bèo chìm vào trong dòng người và xe cộ với không gian còn đang ngơ ngác. Trong tôi bần thần hiện lên câu hỏi, trung uý Thái Anh T bây giờ ở đâu nhỉ? Anh ta còn sống hay đã tử thương? Còn cô gái mang cái tên thật đẹp HTH Nhung ấy bây giờ còn ở lại thành phố này hay đang lênh đênh trên biển? bỏ lại đằng sau là thành phố Sài Gòn xinh đẹp và tình yêu nồng nàn một thời với một người trai lính chiến .
Hơn bốn chục năm rồi, nhớ lại chuyện đọc thư tình của lính mà lòng tôi vẫn bâng khuâng
***
    Bốn mươi sáu năm sau. Ngày 30 tháng 4 lại đến. Trong ngất ngây những kí ức về ngày thống nhất tôi vẫn bâng khuâng nhớ về những người phụ nữ tôi từng gặp họ từng thấy và nhớ về họ vào lúc đất nước thu về một mối qua đau thương hệt như con tằm lột kén, họ thật đáng trân trọng và yêu quí biết nhường nào.

Tháng 4 năm 2021 - NTL

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2023

RAU TẬP TÀNG

     LÂU rồi tôi lại nghe nhiều đến cái từ rau tập tàng. Ở các nhà hàng Hà Nội có nhiều chỗ có món canh tập tàng. Ai cũng khen ngon, ai cũng thấy nửa lạ nửa quen. Người ăn chả ai nói ra nhưng trong đầu người nào cũng nghĩ về một thủa nào đó họ đã ăn ở quê cùng với bố mẹ và các em mình.
     Rau tập tàng nhiều nhất là tháng ba. Mưa phùn rồi tời nửa nắng nửa râm khiến cỏ ngoài đồng tốt vù vù. Rau tập tàng chính là thứ cỏ ấy chứ chả ai mang về vườn nhà mà trồng. Trồng ở trong vườn nhà thì gọi là rau nhưng những thứ cây dại mà ăn được cũng gọi là rau. Đo là thứ rau dại. Họ gọi là rau tập tàng. Rau là một thứ danh từ mở mà có lẽ tôi đồ rằng càng ngày càng nhiều lên vì sự khoa học lai tạo chứ còn rau thật sẽ ngày càng ít đi. Nhưng không thể mất rau tập tàng vì mặt đất sẽ không bao giờ mất cỏ. Cỏ là nông dân mà lị.
     Vài tuổi tôi đã biết đi hái rau má, rau rệu, rau cải thông, rau tầm phóp. Nhớn tí nữa đi học cấp 3 ở trọ một làng quê Yên Bái tôi ra bãi soi bờ ngòi hái rau sếu, rau sam, rau chôn chén, rau muối. Mùa đông tôi hái rau đùi ếch, rau tróc ở những dộc ruộng lầy. Trên đường đi học về tôi hái rau dớn, rau dền gai ven suối. Có những thứ rau mọi người quen biết như rau sam, rau tòm phóp vì gần đây những quán lẩu Hà Nội đã có rau tòm phóp. Thứ rau vị thanh mà hơi ngăm ngăm đắng dễ đưa rượu làm sao. Rau Sam thì ai cũng biết. Ấy là một thứ thân đỏ hoa vàng thật đẹp, nó cứ lan lan trên đất và khiêm nhường không bao giờ ngỏng lên cao. Ấy thế là với tôi tôi từng ngắm hoa rau sam hàng giờ và cứ nghĩ thân đỏ hoa vàng chắc Sam là thứ nhất. Bạn đã ăn rau sam chưa ? Ngọt lắm, nhất là trưa nắng bát nước luộc rau sam rau dền chung vào nhau thì có nhẽ chả có nước sinh tố nào hơn nó. Ở quê, ngày xưa sau trận ốm đau dân quê tôi chỉ đi hái rau búp vông, rau sam, rau má nấu canh mà tẩm bổ. Khá hơn thì kho con cá với đầy nồi lá đinh lăng. Mụn nhọt thì giã lá rau sam, rau diếp cá đắp vào. Cảm nắng thì đun nước rau má thổi nguội đi mà uống. Có một thứ rau khúc. Chắc cũng chỉ dân quê mới biết. Ở những cánh đồng ngô quê tôi nhiều rau khúc lắm. Rau khúc luộc ăn cũng được nhưng chả mấy ai ăn chỉ để giã ra làm bánh khúc. Bánh khúc thì nhiều người biết nhưng lá rau khúc thì ít người biết. Họ bảo, cần gì biết cứ ăn ngon là được. Lâu rồi đêm khuya trên đường phố Hà Nội có tiếng rao …ai khúc đê.. khúc đê chính là thứ bánh họ giã cái lá khúc một trong các thứ rau tập tàng mà thành đặc sản.
     Mẹ tôi sinh tám anh em, tôi là con cả nên tôi biết khi mẹ đẻ em bé mẹ rất thích ăn rau đắng cẩy. Thứ rau tháng ba này mọc xanh mưởt và rất nhiều kiến đen. Mẹ bảo tôi đi hái rau vông. Rau vông tức là búp cây vông non mọc tháng ba mơn mởn. Cả rau vông và rau đắng cẩy mẹ hấp vào nồi cơm rồi chấm với muối nướng. Mẹ bảo ăn thế này cho lành và tránh hậu sản. Lớn lên rồi, mẹ mất rồi càng nghĩ càng thương mẹ. Sinh tám người con số rau tập tàng mẹ ăn có nhẽ hàng tạ. Thời ấy nhà nghèo chỉ có thế thôi mà cũng chả lấy gì tẩm bổ cho mẹ. Ấy nhưng nghĩ lại những thứ tập tàng ấy bây giờ trên quảng cáo họ ca ngợi rình rang đến khiếp. Họ ca ngợi cây thông đất cây rau sam cây rau má cả cây gai đùm đũm (quả mâm xôi) …quê tôi mà chúng tôi đi chăn trâu bẻ ăn hàng ngày…vân vân mây mây. Nghĩ lại rau tập tàng quê tôi sao mà quí thế. Ít nhất một thời tôi đã ăn rất nhiều thứ rau quý ấy mà không biết.
     Cũng nhờ nghèo khó mà biết nhiều rau dại rau rừng nên đi bộ đội tôi cũng biết đi kiếm rau về ăn thời rừng đói. Ở Tây Nguyên tôi vặt những chùm lá cây vón vén thái nhỏ để trộn với thân cây chuối rừng cho tí mì chính vào thành món nộm tuyệt vời. Hành quân Trường sơn tôi vặt chùm lá bứa non dắt vào ba lô để chiều trú quân nấu nồi canh chua thả nhúm ruốc là ngon mê hồn. Lúc còn đánh nhau ở chiến trường chúng tôi thái rau tàu bay muối chua trong các túi ni lông vỏ bao gạo Trung quốc. Rau tàu bay muối chua vàng đẹp hơn dưa cải. Tết nào cũng có món dưa Tàu Bay ăn tết. Bao nhiêu rau rừng Tây Nguyên đã nuối sống chúng tôi những ngày đánh giặc. Có nhiều thứ rau không biết tên mà lính Tây Nguyên cứ ăn rồi đặt tên nó thành tên của người lính hái mang về. Rau thằng Hoan, rau thằng Sỹ, rau thằng Luân…. Có những thứ rau mang tên thằng đã hi sinh chúng tôi bữa nào ăn cũng khóc. Ôi thế mà nỡ gọi nó là tập tàng.
     Tháng ba. Quê nhà lúa cấy mới nhú nhưng măng đắng đội đến đâu rau tập tàng mọc đến đó. Người quê đi xa có người hàng chục năm nay chả biết đến thứ rau nuối sống mình khi xưa nghe nhắc cái tên lại cũng thấy rưng rưng.

10/3/2023 (theo ngày đăng trên FB của tg)
Trọng Luân

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2022

ANH BẠN VONG NIÊN

     Anh hơn tôi ngót hai chục tuổi lại là giáo viên cùng tổ chuyên môn với tôi trong một trường cấp 3 suốt mấy năm trời nên tôi coi anh là anh bạn vong niên quả không sai. Tuy nhiên tôi và anh chẳng hề thân thiết với nhau.
     Ngày đó, tôi chẳng thân thiết với bất kì người khác giới nào dẫu họ có đẹp trai, ga lăng hay tài hoa cỡ nào đi nữa huống hồ anh, một người vừa già vừa không đẹp. Là sau này tôi mới tự nhìn lại và thấy thế chứ hồi đó tôi tuyệt nhiên không quan tâm đến ai nên cũng chẳng để ý và bình giá xem ai xấu ai đẹp làm gì. Không phải tôi kiêu căng hay vô cảm đâu mà chỉ vì một lẽ thật giản đơn là tôi đã có người tình lý tưởng của tôi rồi. Tôi chết mê chết mệt chàng đến độ coi chàng là tất cả, không gì có thể so sánh nổi. Tôi có thể mất tất cả: gia đình, bầu bạn và nghề nghiệp cũng không có nghĩa lý gì nhưng nếu mất chàng thì chắc là tôi chết thật chứ chẳng chơi. Cố nhiên là chàng cũng yêu tôi như thế. Chúng tôi lại ở cách xa nhau gần 50km. Hễ có cơ hội là chàng lại đạp xe đến thăm tôi nhưng tôi vẫn thấy nhớ chàng đến se thắt ruột gan. Trừ những khi lên lớp, họp hành hay soạn bài còn lại bao nhiêu thời gian tôi đều viết thư hoặc ghi nhật kí về chàng. Chẳng thế mà chưa đầy hai năm trời xa cách, tôi đã ghi hàng mấy trăm trang nhật kí. Cho đến tận bây giờ, sau mấy chục năm trời chung sống chúng tôi vẫn gắn bó cùng nhau và chàng rất quý tập nhật kí đó nên giữ gìn cẩn thận lắm. Sở dĩ phải nói dài dòng như thế là vì tôi muốn khẳng định với mọi người rằng tôi và anh bạn vong niên kia không hề có chút thân mật nào. Vậy mà cho đến nay tôi vẫn nhớ tới anh, thuộc nằm lòng những câu thơ anh đọc thuở ấy và luôn mong một ngày nào đó sẽ gặp lại anh.
     Chắc mọi người sẽ nghĩ, tôi thuộc thơ của người ta thế chắc là thơ anh ta tán tỉnh tôi hay đọc riêng cho tôi. Xin thưa ngay là ngàn lần không phải thế. Tôi gặp anh ấy lúc anh đã có hai vợ và bốn con rồi. Còn sở dĩ tôi thuộc thơ anh ấy một phần vì tôi là kẻ nhanh thuộc thơ và rất lâu quên. Nhưng phần khác vì thơ anh toàn viết về những con người, những sự việc nơi chúng tôi công tác lại có chút hài hài hom hóm, rất vui và rất duyên nữa. Chẳng hạn như khi ăn cơm nhà bếp, chị Nhiều, cấp dưỡng nấu canh trai, vừa ăn anh vừa đọc luôn:
Ăn canh cứ thấy dai dai
Nghĩ ra mới biết có trai bà Nhiều
     Một lần khác, nhân việc cổng vào trường bị ngập, đi qua cứ phải sắn quần tới bẹn rồi vác xe trên vai mà lội bì bõm (ngày ấy hầu như chưa thầy cô nào có xe máy, chỉ toàn đi xe đạp thôi). Cánh con gái chúng tôi cứ gọi là cấm cung tại chỗ, đố có dám đi đâu. Các đấng mày râu cũng chỉ quanh quẩn trong trường chứ rất ngại ra ngoài. Chỉ khổ nhất là các em học sinh và các thầy cô ngoại trú. Anh cũng là một trong số những người ngoại trú đó. Khi vừa qua chỗ lội, gặp thầy hiệu trưởng và mấy thầy cô khác, anh nói vẻ gấp gáp: “Thầy cho tôi mượn chiếc bảng nhỏ”. Thầy hiệu trưởng ngỡ ngàng: “ Anh cần bảng làm gì” ? Anh nói ngay: Để tôi đề vào đó mấy câu:
Nếu ai muốn đến thăm trường
Xin mời tháo dép, cởi truồng vác xe. Mọi người ai cũng phì cười! Có lần, chị Sinh, người khá to béo phốp pháp, bị mệt nhờ anh coi hộ hai tiết làm văn. Lúc về, anh vừa ôm khệ nệ chồng vở làm bài của học sinh vừa nghê nga đọc :
Dạy hộ Sinh có một hôm
Khi về anh được một ôm đẫy đà, làm cho không chỉ mọi người mà ngay cả chị Sinh đang ốm cũng phải cười và mắng anh là ông nỡm. Còn anh thì mặt cứ tỉnh bơ vậy thôi.
     Dẫu tôi với anh chẳng hề thân thiết và tôi cũng chẳng nhờ anh dạy giúp tiết nào, thế mà anh cũng vẫn làm thơ trêu chọc tôi nữa kia đấy. Số là thế này: Hồi đó cả nước đều nghèo túng, thiếu thốn và nhà trường càng nghèo. Mấy chục giáo viên nam, nữ chỉ có hai phòng tắm mà cửa chỉ là tấm phên che tạm. Một hôm tôi đang tắm thì có cơn giông ập tới , tấm phên che đổ ập vào. Tôi bất ngờ hét toáng lên và vội vàng dựng nó lên. Anh đang rửa chân tay ở bờ ao gần đó thì phải. Khi tôi tắm xong, vừa bước ra, gặp anh, anh tưng tửng đọc luôn:
Nếu như cánh cửa đổ ra
Mình đang đứng đó biết là làm sao
Một là phải nhảy xuống ao
Hai là phải quyết xông vào một phen
Để mà dựng cánh cửa lên... Rồi anh cười cười mà nói với tôi rằng: "sau cụm từ (dựng cánh cửa lên) là dấu ba chấm đấy nhé; và khi đã dựng cửa lên tớ chả dại gì đứng ngoài đâu". Tôi còn trẻ nên xấu hổ lắm chẳng dám đùa chi mà chỉ lý nhí nói rằng : "nhưng cánh cửa đổ vào chứ có đổ ra đâu". Tưởng thế là thôi, ai ngờ đến sáng hôm sau anh lại làm một bài khác :
Tắm xong đang lúc thay quần
Nào ngờ gió giục mây vần đến nơi
Làm cho cửa đổ quần rơi
Thế là cả cái sự đời trơ ra. Và đọc luôn cả hai bài khoe với mọi người rồi còn thuật lại cả cái sự tình dẫn tới hai bài thơ đó nữa khiến tôi ngượng chín cả người mà chẳng biết thanh minh thanh nga làm sao nữa. Thế đã yên đâu, hồi đó ở nhà tập thể, tôi và một chị dạy toán ở phòng đầu, phòng thứ hai là anh và một giáo vên nữa, phòng thứ ba là của hai cô nữ khác… Anh vốn là dân ngoại trú, ít khi ở lại trường. Tối đó họp chi bộ hơi khuya, anh ngủ lại và sáng hôm sau cứ nhìn thấy ai trong số bốn người nữ chúng tôi ở cạnh phòng anh, anh đều nháy mắt và đọc:
Phòng nàng ở cạnh phòng tôi
Cách nhau một bức tường vôi mỏng tèo
Đêm nào tôi cũng muốn trèo
Nhưng sợ thiên hạ eo sèo lại thôi
Chém cha cái bức tường vôi. Thế thì có khổ cho bốn chị em chúng tôi không cơ chứ. Hồi đó còn ít tuổi nên tôi có cảm giác là bị xúc phạm và khá mất cảm tình với anh. Các chị khác lớn tuổi rồi nên họ chẳng ngại ngần gì mà không trêu lại anh. Tuy nhiên họ không trêu lại bằng thơ. Còn tôi thì cứ im thin thít. Thấy vậy anh càng hay trêu tôi. Có lần anh bảo: cô Thu ơi, tôi yêu đã nhiều lại lấy vợ hai lần rồi nhưng chưa ai yêu tôi như cô yêu chàng T. Nếu gặp ai yêu tôi như thế thì tôi sẽ bỏ lại tất cả để trao cuộc đời tôi cho nàng. Lần này thì tôi phản pháo ngay: "Tại anh có yêu ai hết lòng đâu mà anh đòi hỏi người ta đáp lại hết lòng? Gieo nhân nào gặt quả ấy mà anh". Có lẽ không chấp với trẻ con nên anh không nói gì cả và từ đó cũng ít trêu tôi hơn.
     Không chỉ làm thơ trêu chọc mọi người, anh còn làm thơ tự trào chính bản thân mình nữa. Ngày ấy thiếu thốn lắm nên các anh chị có gia đình riêng rồi thường hay nhặt nhạnh các thứ lặt vặt của trường về cơi nới thêm cái bếp của gia đình mình hoặc đóng thêm chiếc giường, chiếc bàn hay cái tủ con chẳng hạn. Anh ở ngoại trú nên chẳng nhặt nhạnh những thứ đó bao giờ. Nhưng nhiều khi có giờ cả ngày nên phải ở lại trường ăn cơm trưa. Tiếc tiền, không muốn báo cơm nhà bếp anh thường mang gạo ở nhà với chút muối vừng hoặc miếng cá kho đi rồi tự nấu cơm ăn. Đã nấu ăn thì phải đun nhờ bếp than của trường. Thế là anh đọc thơ:
Người bảo ông tham, ông chăng tham
Tre ông không lấy bếp không làm
Nhà không bàn ghế không giường tủ
Ông chỉ đun nhờ mỗi tý than
Người bảo ông tham, quả có tham
Không tham sao gái cứ theo tràn
Lấy vợ hai lần mà chửa chán
Bốn con rồi còn tắt còn ngang
     Nghe xong mấy câu thơ tự trào này, quả thực là tôi có cảm tình với anh hơn, nói đúng ra là đỡ ghét anh hơn. Bởi khi đó tôi nghĩ anh chỉ cười cợt trêu đùa mọi người cho vui thôi chứ không có ác ý gì. Đến chính bản thân mình anh còn cười nhạo nữa kia mà. Vả lại qua những vần thơ tự trào này tôi thấy anh trung thực lắm ý. Bởi vì chuyện anh đã có hai vợ và bốn con thì ai cũng biết rồi. Nhưng chuyện anh "ngang tắt " thế nào thì ai mà biết được. Thế nhưng anh dám công khai thừa nhận đấy thôi. Ngày ấy, chuyện ngang tắt này bị coi là xấu lắm chứ chẳng nhẹ nhàng như bây giờ đâu.
     Sau này tôi không dạy ở trường đó nữa, nghe người ta kể lại rằng: Anh đã có thêm một cậu con trai nữa là 5 con trai của hai đời vợ đầu, rồi lại bỏ vợ và lấy chị cấp dưỡng của trường. Nhưng đó là chị Tản chứ không phải chị Nhiều, người mà anh từng làm thơ trêu về bữa canh trai thuở nào. Họ còn kể rằng tính anh vẫn lếu tếu như thế. Ngoài chị Tản cấp dưỡng, trường còn hai cô giáo nữa cao tuổi mà chưa lập gia đình, anh lại trêu:
Cô Hiếu , cô Tản, cô Trình
Ba cô rập rình cùng muốn lấy tôi
Cô Tản tôi đã lấy rồi
Cô Trình, cô Hiếu là tôi để dành
     Giờ thì anh có tất cả bảy người con. Lại nghe đâu cháu nào cũng trưởng thành và khá giả cả. Thôi cũng mừng cho anh. Một người vui tính, có tài ứng tác, "xuất khẩu thành chương" nhưng lại thật long đong lận đận về chuyện tình duyên”. Mỗi lần kể chuyện về anh , tôi thường chép miệng và nói như vậy. Nhưng những đấng tu mi nam tử, (kể cả ông xã tôi) thì lại bảo : “ Long đong cái nỗi gì?. Ông ấy thật là đào hoa đấy chứ!” hoặc: “ Tôi cũng thích được long đong như ông ấy đây”!

23/11/2022
Song Thu

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2022

60 NĂM- NGÀY ẤY - BÂY GIỜ







      Năm 1961, nghe theo tiếng gọi của Đảng , những người dân thôn Điềm Xá, xã Minh Phượng, huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên bắt đầu rời xa quê hương bờ xôi ruộng mật nhưng vốn là đất chật người đông lên thôn Đồng Quýt, xã Tân Mộc, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang khai hoang vỡ dậm lập làng mới. Thuở ban đầu ấy thật vất vả gian nan và không tránh khỏi buồn vương ngao ngán vì chưa quen đất lạ vắng vẻ hoang vu và nhung nhớ làng xưa chốn cũ. Đã có một số ít gia đình bỏ cuộc quay về. Nhưng hầu hết vững vàng trụ lại, vượt lên bao vất vả gian nan để kiến tạo quê hương mới và họ đã thành công; biến vùng đồi trọc đất cằn sỏi đá, rừng rậm hoang vu thành miền quê giàu đẹp văn minh. Có vải thiều nức tiếng gần xa, có cam canh bưởi diễn la đà...
     Năm ngoái cán bộ thôn đã định tổ chức kỉ niệm 60 năm thành lập thôn. Nhưng vì dịch cô vít, đành hoãn lại. Năm nay mới kỉ niệm. Ba mẹ đưa chị em Song Thu lên đợt hai, tức 1962, vì thế năm nay, 2022 lại là tròn 60 năm. Song Thu lấy chồng xa nên kỉ niệm 60 năm không về được, đành ghép mấy vần nôm na gửi tặng quê hương. Hôm nay xin trình làng bài văn vần ấy đây ạ:

60 NĂM- NGÀY ẤY - BÂY GIỜ

Thoắt đà sáu chục năm trời
Người dân Điềm Xá xa rời quê hương
Lên miền Đồng Quýt khai hoang
Chung tay xây dựng xóm làng nơi đây

Ngồi nhớ lại những ngày mới tới
Toàn cảnh miền đồi núi hoang vu
Tìm đâu bến nước con đò
Gốc đa cây gạo quê xưa chốn này?!

Chỉ thấy những bụi cây thành ngạnh
Bãi bờ xa đỏng đảnh sim mua
Chiều đông lạnh lẽo gió lùa
Chợ xa xôi chợ, nhà thưa thớt nhà

Càng thêm nhớ quê xa chốn cũ
Đường gạch nghiêng bao phủ tre xanh
Chợ Điềm, chợ Phướn gần quanh
Xóm làng quần tụ mái tranh ấm tình

Đã có những gia đình bỏ cuộc
Dắt díu nhau quay bước về quê
Nghẹn ngào thay phút phân ly
Người ở ngao ngán, người về buồn tênh…

Bao năm tháng dân mình vất vả
Bắt đồi hoang sỏi đá cúi đầu
Trở thành vườn, ruộng, nhà lầu
Thành thôn Đồng Quýt đẹp giầu vui tươi

Có lạc đỗ một thời nổi tiếng
Có sắn khoai biêng biếc sườn non
Vải thiều trĩu quả ngọt ngon
Từ Thanh Hà đã xanh trên đất này

Nhờ bao người hăng say lao động
Đã làm cho cuộc sống vươn xa
Cam canh, bưởi diễn la đà
Người dân Đồng Quýt thành hoa núi rừng

Đường rộng mở bê tông bóng loáng
Bao xe hàng thấp thoáng vào ra
Tình thôn nghĩa xóm đậm đà
Nhà cao điện sáng như là thành đô

Thôn xóm cứ từng giờ đổi mới
Niềm vui càng phơi phới bay lên
Hát ca, dân vũ thật duyên
Lại thêm bóng đá bóng chuyền say mê

Dự thi đấu dinh về giải nhất
Khắp xóm thôn ăm ắp niềm vui
Trẻ em tươi rói rạng ngời
Học hành tiến bộ vâng lời người trên

Ai qua Đồng Quýt quê em
Say người mến cảnh hẳn quên lối về./.

Sao Đỏ: 25-10-2022
Song Thu

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2022

KHOẢNG TRỜI YÊU THƯƠNG

(Thân yêu tặng lớp 12D, trường THPT Chí Linh, khóa 1979-1982, nhân kỉ niệm 40 năm ra trường)



     Năm năm dạy cấp 3, nay là THPT, tôi có hai lần làm chủ nhiệm. Mỗi lớp chủ nhiệm đều để lại trong tôi những kỉ niệm đẹp đẽ không thể nào quên. Tôi đã viết về cả hai lớp chủ nhiệm đó. Nhưng có lẽ từ khi về hưu tới nay tôi có nhiều dịp đồng hành với lớp 12D hơn. 
     Nhớ lần đầu gặp lại các em, trong dịp hội lớp, lúc đó, em Trần Thị Dung làm Trưởng Ban liên lạc của lớp nói với tôi: “ Trong đời học sinh, chúng em có rất nhiều thầy cô chủ nhiệm. Nhưng chúng em chọn cô là người đồng hành cùng chúng em trong suốt chặng đường sau này. Mong cô nhận lời để tiếp tục dìu dắt chúng em cô nhé!” Cố nhiên là tôi nhận lời rồi vì được các em yêu quý và tin tưởng thế kia mà. Thật sự xúc động trước tấm tình đó, tôi rưng rưng nói với các em: “Cô sẽ đi cùng các em để chia sẻ mọi vui buồn chứ không phải là dìu dắt vì các em đã trưởng thành cả rồi. Cô muốn được là bạn của các em, mong các em hãy coi cô là một thành viên của lớp mình”. Từ đó tới nay, lần nào lớp gặp mặt, các em cũng mời tôi và tôi, nếu không vì lý do bất khả kháng thì đều sắp xếp để tham dự.
     Năm nay, kỉ niệm 40 năm ngày ra trường, các em lại tổ chức gặp mặt. Ban đầu, chúng bàn nhau đi Hạ Long nhưng rồi một số bạn mắc cô vít nên đành hoãn lại. Tuy nhiên chúng vẫn đau đáu một niềm muốn tổ chức cuộc gặp nhau. Mỗi người nêu ra một ý tưởng, cuối cùng chúng quyết định thực hiện theo ý tưởng của bạn Phạm Thị Huyền, một người đang làm ăn sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói đó là một cuộc gặp mặt được tổ chức rất ngắn gọn, giản dị mà vẫn rất đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa và thắm đượm tình cảm cô trò, bầu bạn.
      Chúng thuê một chiếc xe ca lớn, lượn một vòng để đón cô giáo và các bạn. Chừng 8h là đến cổng trường THPT Chí Linh. Cô trò xuống xe, mọi cảm xúc thuở xưa như ùa về. Các em tung tăng dắt tay nhau, thậm chí là ngồi bệt xuống sân trường để chụp ảnh khiến tôi cũng vui lây niềm vui của các em. Tôi như gặp lại hình ảnh các trò thời 16, 17 đang cắm trại hay tập thể dục ở sân trường. Tầm 9h cô trò tôi mới vẫy tay tạm biệt mái trường thân yêu để lên xe đi tới vườn hoa Mận Chín, vào bãi rễ Côn Sơn và lại hào hứng ghi hình cùng cỏ cây, hoa lá. Những tấm hình giữa bãi rễ mênh mông với rừng thông cao vút ở phía sau tạo nên một vẻ đẹp thật độc đáo, chỉ có ở vùng rừng núi Côn Sơn này!? Một điều bất ngờ nữa trong buổi gặp mặt kỉ niệm hôm nay là chúng đề nghị được ngồi quây quần xung quanh cô giáo để nghe cô nói chuyện, giống như thời học sinh, cô đã đưa chúng đến rừng thông Côn Sơn giảng ngoại khóa về Nguyễn Trãi . Tôi thật sự bối rối trước đề nghị này của các em. Nói gì với các em trong buổi này đây?!
     Tôi đưa mắt nhìn các em đang ngồi vây quanh mà như vừa thấy lại những cô cậu học trò bé nhỏ, hồn nhiên, xinh đẹp mà tinh nghịch, bướng bỉnh thuở nào; Vừa thấy hiện hữu những bậc trung niên trưởng thành, từng trải, chững chạc, bản lĩnh vững vàng của hôm nay. Thế là tôi nói ngay: Hôm nay cô đồng hành cùng các em tại đây, không phải để giảng bài Tùng của Nguyễn Trãi như hồi xưa đưa các em đi ngoại khóa nữa rồi. Bởi cô thấy các em đã thực sự là những cây tùng cây bách luôn biết vươn lên trước mưa rét, bão giông để sống đường hoàng vững chãi. Cô yêu quý và tự hào về các em! Không phải vì các em có quyền cao chức trọng hay tỷ phú, đại gia mà vì các em đã biết sống cuộc đời bình dị chân chính, biết vượt qua mọi khó khăn để hoàn thiện bản thân mình, biết trân trọng tình bạn, dù non nửa thế kỉ qua đi vẫn quý mến yêu thương gắn bó cùng nhau. Cô cám ơn cuộc đời đã cho cô được làm cô giáo chủ nhiệm của các em, cám ơn các em đã luôn quý yêu, tôn trọng và mời cô đồng hành cùng các em trong mọi sinh hoạt của tập thể lớp cựu học sinh 12 D. Cô sẽ đọc tặng các em một bài văn vần về lớp mình mà cô mới viết tối qua

Trai lớp D hào hoa tình cảm
Gái lớp D vừa đảm vừa xinh
Quý nhau như một gia đình
Lần nào gặp mặt lớp mình cũng vui

Đã bốn chục năm rồi đấy nhỉ
Lớp chúng ta rời ghế nhà trường
Tung bay đi khắp muôn phương
Học nghề, chọn nghiệp tìm đường mưu sinh

Cũng có bạn công thành danh toại
Lại có người bươn chải gian nan
Nhưng đều cập bến vinh quang
Gia đình đầm ấm cháu con đề huề

Hôm nay họp lớp say mê
Chàng, Nàng sáu chục sẻ chia tâm tình
Nhớ lại thưở học sinh ngày trước
Mỗi bước đường mỗi bước yêu thương
Xốn xang áo trắng sân trường
Chan chan phượng đỏ lòng vương vấn lòng

Ôi cái thuở mắt trong môi thắm
Cười đùa trong mưa nắng mà thơ
Cùng nhau dệt những ước mơ
Cùng nhau chép những vần thơ ngôn tình

Hình như ta đã yêu mình
Mà không dám ngỏ tấm tình lạ chưa?
Phượng hồng ép giữa trang thơ
Thẹn thùng không gửi đến giờ vẫn thương

Trở về với tuổi học đường
Để mai cuộc sống ngày thường thêm vui
12 D của chúng tôi
Mãi lung linh một khoảng trời yêu thương

Sao Đỏ: 25-11-2022
Song Thu