Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tô Hà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tô Hà. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2022

HỘI NGỘ TRIANCUOCDOI - 2022

Gặp mặt TRIANCUOCDOI năm 2022 tại khách sạn Sao Đỏ thành phố Chí Linh tỉnh Hải Dương. Mặc dù số người tham gia ít hơn mọi năm nhưng buổi gặp mặt của thành viên các xóm vẫn rất ấm cúng.
Sao Đỏ - Nam Sách - Hà Nội - E98 Bộ đội Trường Sơn cùng chuyện trò, chia sẻ những câu chuyện cuộc đời.
TRIANCUOCDOI nối mãi mạch nguồn vui.














13.12.2022
Tô Hà

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2022

DÒNG THỜI GIAN

      Một ảnh đẹp trên dòng thời gian. Tô Hà lưu về TRIANCUOCĐƠI. Cô giáo Nguyễn Thị Cẩm Tú cho biết: đây là ảnh thày cô năm 2018. Bao nhiêu năm thì hình ảnh thày cô vẫn luôn tròn đầy trong chúng em. Kính chúc thầy cô luôn mạnh khỏe và hạnh phúc.











Tô Hà

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022

THÀY DẠY TOÁN CẤP II



Ảnh ở nhà thày tại thôn Kim Đậu xã Lạc Long, huyện Kinh Môn năm 2011.

      Tốt nghiệp cấp II năm 1970, tôi lên cấp III rồi vào đại học. Ra trường về Nam công tác rồi nghỉ hưu. Đằng đẵng 40 năm, hình ảnh thày dạy Toán ở Trường Cấp II Bắc An huyện Chí Linh Hải Dương ngày ấy vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi.
      Năm 2011, tôi về họp lớp Cấp II Bắc An. Chúng tôi chỉ còn thông tin về cô giáo Nguyễn Thị Tư và thày dạy Toán Nguyễn Ngọc Khuê. Tôi và anh Bình Nhưỡng được lớp cử đi đón thày cô. Khi đến nhà cô Tư ở Hoàng Gián xã Hòang Tiến, cô xuống đón khách và hỏi học trò Nhưỡng: "Bác tìm ai ạ". Khi biết là trò cũ về tìm, cô mừng quá, thông báo với cả xóm "Học sinh cũ của tôi đấy".
      Chúng tôi đi tiếp sang Kinh Môn tìm nhà thày Khuê theo thông tin anh Bình Nhưỡng có được. Trên đường đi, anh Nhưỡng gọi điện thoại cho thày để hỏi nhà. Trên xe, tôi nghe anh Nhưỡng nói rất to, một câu phải nói mấy lần. Và cuối cùng tôi nghe tiếng thày từ điện thoại: "Nói thế thì có giời nghe được". Thì ra thày đã bị nặng tai.
Cuối cùng chúng tôi cũng tìm được nhà thày, được gặp thày. Tôi không thể quên khoảnh khắc gặp lại thày sau 40 năm cách biệt. Ký ức về người thày dạy Toán tràn đầy trong tôi.
      Tôi không nhớ thày về Trường Cấp II Bắc An năm nào, chỉ nhớ thày dạy Toán lớp 7 của tôi năm học 1969 - 1970. Khi ấy thày đã 30 tuổi, chưa vợ, dạy Toán và kiêm thêm môn thể dục của trường. Trong mắt lũ học trò 14,15 tuổi chúng tôi ngày đó, thày rất già. Thêm nữa, thày hay mặc quần áo bộ đội và giữ tác phong quân sự cả trong những tiết học thể dục lẫn học Toán.
      Lúc đó, tôi và Hồng Minh học khá Văn nên thầy đưa chúng tôi đọc tiểu thuyết thày sáng tác. Bản thảo viết tay của thày nhiều trang lắm. Rồi gia đình thày chọn một cô gái để thày về xem mắt. Thày lại viết về chuyện này, lại đưa chúng tôi đọc. Tôi còn nhớ nét chữ thày viết tên cô gái...
      Gặp lại thày, nước mắt tôi trào ra, vừa mừng, vừa thương thày quá. Thày tôi người bé lại sau 40 năm. Khuôn mặt thày rạng ngời khi nhận ra học trò cũ. Nhưng vợ thày thì mắt buồn rười rượi. Bao nhiêu bộn bề, bao nhiêu dang dở trong ngôi nhà không sao ngăn nắp được của một người bị bệnh tâm thần phân liệt. Bộ óc của thày vẫn minh mẫn ghi khắc bao công thức toán học, bao bài toán khó nhưng thày không sao giải nổi bài toán cuộc đời vốn không theo công thức nào.
      Về dự họp lớp tôi, thày chụp ảnh và quay video, hơn hẳn bọn trò ít tuổi. Sau đó thày gửi thư, video và ảnh về Phú Yên cho tôi. Qua thư thày, tôi được biết thày sinh năm 1939. Năm 2011 thày vẫn từ nhà ở thôn Kim Đậu, xã Lạc Long huyện Kinh Môn đạp xe lên Thư viện tỉnh Hải Dương đọc sách. Thư thày viết: "Thày sống cho những người còn sống, cho cả những người đã khuất". Thày còn làm thơ:
Tôi làm việc như trâu kéo cày
Một nắng hai sương...
Cả cuộc đời tôi
Là khúc hát của đại dương
Cho:
Mọi người yêu thương
Ở ngàn phương...
      Cuối thư, thày viết: :"Thày cầu Trời, lạy Phật, lạy tất cả các Thần linh của mọi hành tinh, của mọi vũ trụ" phù hộ cho tôi và gia đình tôi. Tôi khóc. Và chợt nghĩ, phải chăng thày đã nhìn thấy một vũ trụ bao la, một thế giới siêu hình như bây giờ các nhà Vật lý học đã nhìn thấy??? Có những thế giới không phải ai cũng nhìn thấy được.
      Qua con trai thày, em Nguyễn Văn Khoa, tôi được biết năm nay thày yếu nhiều rồi. Bắc Nam cách trở, tôi còn gặp được thày nữa không? Thày đã khác rất nhiều so với hình ảnh thày ngày về dự họp lớp tôi. Nhưng trong tôi vẫn trọn vẹn hình ảnh một người thày đầy tâm huyết với học trò.
      Những dòng này tôi kính dâng thày, một Nhà giáo đáng kính trong tôi.

Tô Hà
20.11.2022

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

TÔI LÀM PHÁT THANH VIÊN


                                                

                                        

 Tháng 12/1978. Trước giờ lên sóng truyền hình Qui Nhơn. Ảnh: Đoàn Điện Biên

Ngày 16/5/1978, tôi về Đài Truyền hình Qui Nhơn với chức danh phóng viên biên tập. Tôi hoàn toàn bỡ ngỡ với công việc ở một đài truyền hình, bỡ ngỡ với miền đất duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên là địa bàn tác nghiệp. Và chẳng biết gì về công việc của một phát thanh viên.
Duyên căn dẫn dắt, lúc các phát thanh viên của đài vắng vì nhiều lý do, Giám đốc Hoàng Minh Phương gọi tôi lên: "Chuyển cô sang phòng Chương trình 3 tháng làm phát thanh viên".
Tôi đúng là điếc không sợ súng. Chưa hề được ai cho một chút lý thuyết hoặc kinh nghiệm về công việc của một Phát thanh viên. Tối đến có người hóa trang cho và ngồi vào ghế, trước phông trống đồng, nhìn vào máy quay, đèn đỏ là đọc. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy mình thật tội nghiệp, chẳng một ai nói cho tôi biết phải làm như thế nào. Hình như mọi người cứ thế thừa nhận tôi mà không nghĩ nếu được tuyển làm phát thanh viên thì tôi nhất định phải được hướng dẫn những điều cơ bản sơ đẳng nhất của nghề nghiệp.
Hết 3 tháng đánh thuê, Giám đốc bảo: "Tôi chuyển cô sang biên chế phát thanh viên". Tôi nói cho cháu về biên tập.
3 tháng ấy, tôi đọc tất cả các thể loại văn bản trên sóng truyền hình từ Bông hoa nhỏ đến tin thời sự, phóng sự, phim tài liệu, thuyết minh phim, tất cả đều trực tiếp trên sóng. Nhớ nhất là lên hình đọc trực tiếp các công hàm, bị vong lục, tuyên bố... của Bộ Ngoại giao, các bài bình luận, xã luận hồi chiến tranh với Trung Quốc. Có hôm nhiều văn bản, tôi thấy mùi tóc bị sấy nóng dưới dàn đèn phim trường. Các buổi đọc trực tiếp mỗi tối trên FB của tôi bây giờ là kinh nghiệm quí báu của 42 năm trước. Sau này tôi đọc nhiều, nhất là những năm làm ở Đài Truyền hình Phú Yên, nhưng chỉ đọc vào tiếng trước, không đọc trực tiếp.
Tôi được nghề truyền hình chọn. Và làm được nhiều việc trong nghề. Học Văn, làm Báo, nhưng tôi đam mê Đọc. Tôi thấy chính tôi, thấy những người tôi yêu mến, thấy cả cuộc đời trong từng câu chữ, từng trang sách.
Kỷ niệm 50 năm Truyền hình Việt Nam, tôi lại nhớ mình những ngày đầu bỡ ngỡ.
Cảm ơn đồng nghiệp Đoàn Điện Biên đã chớp được khoảnh khắc tôi sắp lên hình.
Cảm ơn cuộc đời đã cho tôi ân huệ được làm những gì mà mình đam mê.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2020

BẠN TÔI - NGUYỄN THỊ HỢP (FB Hop Minh)





     Với em, tôi có một tình cảm yêu thương hơn một người bạn bình thường. 
      Tình cảm đó bắt đầu từ năm lớp 7, khi tôi từ xã Bắc An theo thày Nguyễn Văn Mẫn vào xã Hoàng Hoa Thám. Thày Mẫn dạy Văn chúng tôi năm lớp 6 rồi chuyển vào Hoa Thám dạy Văn lớp 7 của Hợp. Em bằng tuổi em Hương của tôi nên tôi sớm coi em như là em gái.
     Vào Cấp III Chí Linh Hải Dương, tôi và em cùng lớp 8D, khối các xã gần núi Hoàng Tân, Hoàng Tiến, Bắc An, Hoàng Hoa Thám, Lê Lợi. Chúng tôi đi học nhiều giờ khác nhau nhưng tan trường luôn về cùng nhau trên con đường 18 đã rải nhựa rồi rẽ vào núi theo con đường đất đỏ. Đến Nông trường chúng tôi về nhà còn nhóm Hợp, Vĩnh, Hẹ đi tiếp vào sâu trong núi mấy cây số nữa về Hoa Thám. Đường từ trường về nhà những buổi mùa đông ngược chiều gió bấc, chúng tôi như đàn chim sẻ nhỏ xiêu dạt gằn mình đạp xe cho khỏi ngã. Ngày ấy sao mà gió to thế chứ. 
     Một kỷ niệm tôi nghĩ là Hợp không nhớ nữa. Tôi định kể chuyện này vào dịp 20/11, ngày Nhà Giáo Việt Nam vì trong tôi, em là một nhà giáo ưu tú. Nhưng hôm nay tôi kể luôn, một chuyện luôn vui trong ký ức học trò của tôi. Tặng em gái của chị món quà sinh nhật này nhé.
     Giờ Địa lý hôm đó, không hiểu sao cô giáo Thương lại kiểm tra bài cũ từng cặp một. Hình như trong 15 phút ngắn ngủi ấy, cô muốn dò bài nhiều học trò hơn. Cô gọi tôi và Hợp cùng lên và cho mỗi em một câu hỏi. Hợp luôn học bài cẩn thận còn tôi thì rất lơ mơ. Hợp trả lời câu hỏi của mình, rồi tranh thủ nhắc bài tôi khi thấy tôi ngắc ngứ. Hôm ấy, gần như cùng lúc em trả lời 2 câu hỏi. Và cả lớp nhìn rõ điều đó. Vậy mà khi vào điểm, cô giáo Thương cho điểm tôi cao hơn điểm của Hợp. Tôi nghĩ chuyện cứ nằm mãi trong đầu tôi có lẽ vì cảm giác xấu hổ trước sự không công bằng này. 
     Lên lớp 9 tôi chuyển sang 9B theo đội tuyển Văn, em sang lớp 9C vì không còn lớp D do nhiều bạn nhập ngũ. Lớp 10 chỉ còn 2 lớp, em lại cùng tôi học 10B, lại cùng nhau con đường ngược chiều gió bấc về núi. Rồi tốt nghiệp. Rồi Bắc Nam 2 ngả. Năm 1993, tôi về Chí Linh sau 11 năm xa và nhớ. Gặp em lấy chồng về xã Lê Lợi cùng Hải Yến và Nguyễn Dịp. Chúng tôi như không hề có khoảng cách xa 20 năm (1973 - 1993). Sau đó một thời gian, tôi nhận thư em tâm sự chuyện được đề bạt làm hiệu trưởng trường xã Lê lợi mà em không muốn nhận. Tôi viết thư cho em, động viên em nên nhận việc đó vì tôi nghĩ, ai làm cũng được, nhưng nếu là một người tâm hạnh tốt như em, đầy trách nhiệm như em sẽ đem lại lợi ích chung cho mọi người, cho xã hội. Rồi em viết cho tôi: "Em nghe lời chị..." Tôi đã đúng khi nghĩ về em. Em làm giỏi việc mình được giao và tôi nghĩ đồng nghiệp của em, học trò của em nhìn nhận rõ điều đó.
     50 năm là một khoảng thời gian để nhận chân một con người. Em mãi là người bạn mà tôi nhớ khi xa quê, là người tôi muốn gặp khi về xóm núi Đá Cóc. 
Em mãi là em gái tôi.

Chúc mừng sinh nhật em.

23.11.2020
Tô Hà

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2020

MẸ VỀ ĐI ....




Tô Hà xin giới thiệu với Xóm Trian một bài thơ xúc động được Tô Hà lưu từ lâu nhưng mới tìm được tên tác giả. Đó là Đức Thắng (FB thang duc - bạn bè với Nguyễn Vũ Song Thu Xóm mình). Do bài không được chia sẻ nên Tô Hà copy lại.

Mời mọi người cùng đọc.


MẸ VỀ ĐI .....

Mẹ về đi .... sao còn vẫn ngồi đây ?
Chiều biên cương đang dần dần tắt nắng
Đồi hoa Sim cũng chìm vào hoang vắng
Tia nắng cuối ngày rải rác sườn non

Mẹ về đi ... đừng gọi mãi tên con
Như ngày xưa mỗi lần con tan học
Thời buổi chiến tranh muôn vàn khó nhọc
Mẹ vẫn cười .. ăn mau lớn đi con

Tháng năm qua đôi chân mẹ mỏi mòn
Bước thấp bước cao trên miền đất lạ
Mẹ có ngại chi bao điều vất vả
Tìm con về với mảnh đất quê hương

Mẹ về đi ..... đồi núi đã đầy sương
Manh áo mỏng chịu sao cơn gió lạnh
Nơi biên cương giờ đây không cô quạnh
Có bạn bè với đồng đội bên con

Trăng lên cao chiếu rọi cả đồi non
Soi sáng cả một bầu trời biên viễn
Giống như con ngày xưa khi mẹ tiễn
Thiệt dối lòng con gắt ..... Mẹ về đi !

Sài Gòn 21 - 7 - 2017
Đức Thắng 
(Viết cho ngày thương binh liệt sĩ 27/7)






Dưới đây là lời chia sẻ của Đức Thắng với Tô Hà:

       Bài thơ "Mẹ về đi" mình viết trong ngày giỗ của mẹ. Mình có người anh hy sinh trong chiến tranh chưa tìm thấy mộ. Bài thơ này mình đăng trong trang "Người nhà quê", nhiều người đồng cảm shaer về. Mình vui khi đứa con tinh thần được lan tỏa nhiều trên mạng.
      Có thời gian rảnh mẹ lại đi tìm con, toàn quá giang xe của bộ đội, ròng rã hơn hai mươi năm mà tìm không ra mộ con.
      Khi mẹ mất, lời trăn trối cuối cùng mẹ nói với mình "Con ráng tìm kiếm anh về với mẹ".
      Cũng tình cờ có một người đồng đội từng chôn cất anh trai khi họp mặt cựu SV trường ĐH Vinh nói ra thì gia đình mới biết.
      Mấy chị em trong SG tức tốc bay ra Huế.
      Điều đau lòng nhất là anh trai nằm sát đường bộ với đường xe lửa. Mẹ với mình đi qua đi lại khu vực đó nhiều lần tìm kiếm mà không ra.
Đã bao lần con thấy hình bóng mẹ
Áo nâu sồng đi thất thểu tìm con
Năm tháng trôi trên thân mẹ héo mòn
Mẹ cùng con tìm nhau trong hy vọng...

25/6/2020
Tô Hà - Sưu tầm, giới thiệu

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

ĐỌC “RỪNG ĐÓI” CỦA NGUYỄN TRỌNG LUÂN


Tiểu thuyết “Rừng Đói” của Nguyễn Trọng Luân được đánh số 174 trang. Không lời giới thiệu về tác giả và tác phẩm. Trang trong của bìa 1 in ảnh và lời tác giả: “Cuốn sách này tôi viết tặng những người bạn lính sinh viên cùng tôi ra trận năm 1972”.
Tôi đọc “Rừng Đói” như đi ngang cuộc đời và những sáng tác của tác giả, không biết gì về một Nguyễn Trọng Luân đã từng làm xúc động bao bạn đọc bằng văn xuôi, bằng thơ, bằng nhạc và bằng chính giọng hát của anh. Khép “Rừng Đói” lại, tôi dần dần định hình anh qua tác phẩm và những thông tin tôi tìm trên mạng.
Anh hiện lên trong tôi là một chàng sinh viên vào lính 9/1972 khi đang học năm thứ 3 Khoa Cơ Điện Trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái, từng chiến đấu trên các chiến trường miền Trung, Tây Nguyên, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh cho tới ngày toàn thắng 30/4/1975, từng làm tiểu đội trưởng trinh sát E64/F320A.
Xin trích một đoạn anh viết trong bài phát biểu tại buổi gặp mặt kỉ niệm 35 năm ngày nhập ngũ được tổ chức ở Thái Nguyên năm 2007 mà tôi gọi là "Bản hùng ca D76":
“35 năm trước. Ngày này 500 chàng trai về đây nhận bộ quân phục khoác lên người để đi ra trận. Đó là những cán bộ công nhân từ các hầm mỏ, những thầy trò từ các trường Đại học xứ Thái, là những chàng trai rời bản làng nương rẫy Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương, các sinh viên ở các trường trung cấp, cao đẳng mà bây giờ tôi nhớ. Họ ra đi từ mỏ than Làng Cẩm, mỏ than Phấn Mễ, khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, từ Trường Trung cấp Cơ khí luyện kim, Trường Công nhân Cơ điện Hoàng Văn Thụ, từ Nhà máy điện Cao Ngạn, Trường Trung cấp kiến thiết cơ bản Phổ Yên, Công ty sửa chữa ôtô Bắc Thái, Đoàn địa chất 12, Đoàn địa chất 39, Cơ khí mỏ Cù Vân, các trường: Đại học Y khoa Việt Bắc, Đại học Nông Nghiệp Thái Nguyên, Đại học Cơ Điện Bắc Thái, Đại học Sư Phạm Việt Bắc, Cao đẳng Ngân hàng, Trường CNKT3... và nhiều nữa tôi chưa nhớ hết... Với xuất thân như thế 500 con người ấy được biên chế vào tiểu đoàn 76 F304B Quân khu Việt Bắc và từ hôm ấy D76 mang dáng vẻ một đơn vị của những người tài hoa ra trận”.
Đoạn trích này giúp tôi nhận diện rõ hơn về các nhân vật trong “Rừng Đói”. D76 của các anh vào chiến trường được giao nhiệm vụ đặc biệt chẳng liên quan gì đến chiến đấu mà lại quyết định cho thắng lợi chiến đấu của quân ta: vòng sang đất bạn đào sắn, thái lát, phơi khô, gùi ra bờ sông Pô cô chuyển về cứu đói cho bên nhà, tức là ở Sư đoàn. Những tháng đầu vào chiến trường của các anh là thế. Đi cứu đói mà chính mình đói quay đói quắt. Đến rừng cũng đói. Và lạnh. Và thiếu tất cả những gì cần có cho một đời sống bình thường. Và nhớ… Rồi dù không chiến đấu thì nơi ấy vẫn là chiến trường với đầy đủ những nguyên nhân gây chết, nhất là sốt rét.
Chuyện từ những ngày đầu làm lính đào sắn cho đến khi rời đất bạn hành quân về chiến trường Tây Nguyên của các chàng sinh viên lính D76 được Nguyễn Trọng Luân kể lại thật cuốn hút. Rừng Đói cũng như nhiều chuyện khác anh kể, chẳng có chuyện gì mà vẫn thành truyện, lại là truyện hay, cuốn hút người đọc vào những tình tiết bất ngờ lý thú. Lời cuối truyện của tác giả có đoạn: "Truyện về một tiểu đoàn chưa giáp trận chỉ đi đào sắn cho đơn vị ăn mà đi đánh nhau với kẻ thù ngót 100 ngày không có gì li kì cao siêu cả. Ấy vậy mà những người lính sinh viên thì nhớ mãi. Còn nhớ rõ rệt hơn những trận đánh sau này của đời lính chúng tôi... Tôi cam đoan với các bạn đọc rằng trong đoàn sinh viên mót sắn ngày ấy không người nào chiến đấu tồi cũng như những người sống trở về làm những công dân rất đáng trân trọng".
Riêng tôi, khép trang cuối của Rừng Đói, tôi như nghe giọng nam cao ấm và sáng của Nguyễn Trọng Luân hát bài Người lái đò trên sông Pô cô trong "đêm liên hoan văn nghệ để át cái đói và lấy tinh thần quyết chiến quyết thắng" do Tiểu đoàn tổ chức.
Dòng Pô cô mênh mông với đôi bờ cây xanh biếc vẫn còn lưu giữ nhiều câu chuyện về các chàng lính sinh viên D76. Nguyễn Trọng Luân có thể còn chuyện để kể tiếp.
Tôi chờ.
Có lẽ cũng nhiều người chờ.

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

SINH NHẬT EM GÁI ÚT

Hôm nay, 1/5, Nguyễn Thi Vân Anh - em gái út của tôi tròn hoa giáp.
Thế là 3 chị em gái chúng tôi lần lượt bước qua tuổi 60. Ngày sinh của em, tôi nhớ ba má và các em biết mấy.
Trong vòng tay ba má, chúng tôi đã cùng khôn lớn và hình thành nền nếp gia đình. Nhà tôi mang nét chung của những gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, lại mang nét riêng có của gia đình bộ đội. Chị em tôi là con nhà lính nên chúng tôi đều đậm chất lính. Có lẽ đó cũng là truyền thống gia đình chúng tôi. Em gái tôi thời học đại học được bạn bè gọi là chị Út Tịch. Nhưng tôi thấy ở em ấy sự "đa nhân cách". Một vài hình ảnh nhặt vội để chứng minh "nhân cách đa" của em. Chúc em tuổi mới nhiều niềm vui mới và những an lành.
Yêu thương.


01.5.2015
Tô Hà

NHỚ NGÀY CHIẾN THẮNG 30/4

45 năm lãnh thổ Việt Nam liền một dải vẹn toàn.

1975. Tôi 20 tuổi.
Trong đoàn quân tiến về Sài Gòn năm ấy có rất nhiều bạn bè tôi một thời đi học. Họ là những chàng trai cô gái ưu tú, trong đó có người tôi yêu, có người yêu tôi. Họ đã in dấu chân mình vào trang sử đánh Mỹ của đân tộc.

45 năm nhớ lại tuổi 20 của mình ngày chiến thắng, nhiều người lính năm xưa còn thấy mình đang bay trong cờ sao rợp đất trời. Và họ nhớ lại những cảm xúc dâng trào trong khoảnh khắc lịch sử ấy.

Xin chia sẻ cùng mọi người dòng tốc ký của những người lính mà tôi được vinh hạnh học cùng trường Cấp III Chí Linh gần 50 năm trước.

NGÀY RA ĐI
(Tác giả: Nguyễn Văn Mơ - nguyên Đại tá Công an nhân dân Việt Nam, học sinh Khóa 3 Trường Cấp III Chí Linh Hải Dương).

Tháng Tư, Bảy lăm (4-1975)
Tấm bản đồ Miền Nam bên Hồ Gươm
Mỗi ngày thêm đỏ rực những lá cờ giải phóng.
Tin tức từ chiến trường nóng bỏng,
Đang dội về từng phút, từng giây.
Chúng tôi được lệnh ra đi gấp,
Không kịp chia tay,
Gia đình , bạn bè, người thương và Hà Nội.
Chỉ kịp chào những người gặp trên đường,
Xiết chặt tay đồng đội:
- Hẹn găp nhé, Sài Gòn !

Khoác vội lên người bộ quân phục màu xanh,
Khẩu súng, Ba lô và chiếc mũ tai bèo giải phóng.
Chúng tôi đi theo những đoàn quân ngày đêm Thần tốc,
Hướng về phía Sài Gòn, hối hả hành quân…

Ngày ấy ra đi có thể sẽ hi sinh,
Nhưng lòng tôi vững tin một niềm tin chiến thắng.
Đồng đội ở lại nhiều người rơi nước mắt.
Tôi vẫn cười tin tưởng ở tương lai.
Chúng tôi đi phơi phới Tuổi Hai mươi.

Rồi ngày ấy đi giữa phố phường giải phóng,
Sự thật rồi tôi cứ ngỡ trong mơ !
Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh đỏ thắm sắc cờ,
Độc Lập Tự do! Niềm vui sướng dâng trào trong khóe mắt.
Tôi muốn bay lên say sưa cùng tiếng hái:
- Sài gòn ơi ta đã về đây ! Ta đã về đây !
Hòa với muôn triệu con tim vang lên trên khắp đất trời,
- Như có Bác trong ngày vui Đại Thắng !


Sài gòn tháng 5. 1975

Nguyễn Văn Mơ
---


NGÀY NÀY 45 NĂM TRƯỚC Ở cT4/203

(Tác giả: Nguyễn Khắc Nguyệt - nguyên Đại tá Binh chủng Tăng Thiết Giáp, Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Học sinh Khóa 3 trường Cấp III Chí Linh, Hải Dương)


30.4.1975
Công binh khắc phục xong cầu Sông Buông thì đã quá nửa đêm, toàn lữ đoàn tiếp tục hành tiến. Đội hình chiến đấu của lữ đoàn đã được chấn chỉnh lại: dẫn đầu đội hình là Thê đội 1- chính là tiểu đoàn xe tăng chủ lực gồm 3 đại đội 1, 3 và 4; tiếp theo là Thê đội 2 gồm tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 5 và các lực lượng bảo đảm; chúng tôi được lệnh bỏ qua những mục tiêu không quan trọng mà thọc sâu vào nội đô với thời gian nhanh nhất. Chiếc 380 thương tích đầy mình được xếp vào thê đội 2. Kể cũng buồn nhưng biết làm sao được, xe chỉ còn hai tên, vũ khí lại trục trặc không đánh nhau được thì phải đi sau chứ. Thế rồi tôi cũng không biết từ lúc nào và từ đâu ra mà hơn chục ông tướng bộ binh đã chễm chệ trên xe mình.

Gần sáng 30.4 các đơn vị đi đầu đã đến Ngã ba Tam Hiệp- nơi đường 51 gặp Xa lộ Biên hoà. Không thấy địch, chỉ thấy pháo súng từ bờ nam bắn sang. Trên cầu Đồng nai có 3 chiếc M113 dàn hàng ngang gần hết mặt cầu. Mấy xe đi đầu lập tức nổ súng, cả 3 chiếc bốc cháy dữ dội. Chúng tôi lách qua phần đưòng còn lại tiếp tục tiến theo xa lộ về hướng Sài gòn.

Vốn chỉ quen với những con đường nhỏ hẹp lúc đầu chúng tôi hơi "choáng" vì sự rộng rãi đến thênh thang của cái gọi là "xa lộ"; nhưng thật là tuyệt vời khi được nhấn ga không hạn chế trên cả 2 làn đường vắng teo; chúng tôi cán nát dưới hai băng xích quần áo, súng ống, giày mũ nhà binh rải rác trên đường.

Qua Tăng Nhơn Phú nhiều loạt đạn từ phía Trường Võ bị Thủ Đức bắn vào sườn trái đội hình. Mặc! Theo mệnh lệnh của trên chúng tôi tiếp tục nhấn ga lướt qua. Sau này theo tôi được biết- xe 707 của tiểu đoàn 5 đã tách ra khỏi đội hình đánh vào Trường võ bị Thủ đức; bọn địch trong trường phần bị diệt, phần sợ hãi tháo chạy nhưng xe 707 cũng đã hy sinh anh dũng ở ngay cổng trường.

Thật may là cầu Rạch Chiếc còn nguyên vẹn nên tốc độ tiến công của chúng tôi vẫn bảo đảm. Lúc đó thì chỉ biết thế là may- sau này chúng tôi mới biết để giữ cho cây cầu Rạch Chiếc được nguyên lành như vậy- hàng trăm chiến sĩ đặc công của ta đã anh dũng chiến đấu ở đó từ hôm trước và rất nhiều người trong số đó đã hy sinh.

Và thế là cầu Sài gòn đã ở ngay trước mặt! Tuy nhiên việc vượt qua nó không hề dễ dàng. Ngay ở chân cầu những chiếc thùng phuy và bao cát được dựng lên theo hình zíc- zắc chỉ để lọt 1 thân xe qua, phía sau những vật cản đó là những chiếc xe tăng mai phục; ngoài ra lợi dụng mặt cầu cong một số xe tăng địch mai phục ở phía sau, ở vị trí này chúng vừa giấu được mình vừa quan sát và phát huy hoả lực rất thuận lợi. Vì vậy chỉ sau mấy phút giao chiến 4 xe tăng ta đã bị bắn cháy, tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ hy sinh. Ngoài xe tăng, bọn địch còn cho máy bay đến ném bom và một số tàu ở dưới sông SG cũng bắn lên loạn xạ.

Với kinh nghiệm của những trận đánh trước- đại đội trưởng Thận lệnh cho các xe trong đại đội lợi dụng địa hình tại chỗ tiêu diệt các xe tăng dưới chân cầu và trên cầu. Vì tại chỗ bắn lại tập trung hoả lực nên xác xuất trúng rất cao, chỉ sau mấy phút hai chiếc M48 nấp sau vật cản đã bị bắn cháy, đạn trong xe nổ dữ dội, khói lửa mù trời; bọn trên cầu thấy vậy cũng bỏ chạy luôn. Một vài xe còn quay pháo ra sông bắn tàu địch. Chớp thời cơ toàn đại đội tăng tốc độ qua cầu dẫn đầu đội hình lữ đoàn nhằm hướng Dinh Độc lập. Và như mọi người đã biết- xe 843 và xe 390 của "xê 4" chúng tôi đã húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập; đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã thay mặt tất cả chúng tôi kéo lá cờ Giải phóng lên nóc dinh báo hiệu giờ toàn thắng của dân tộc. Tôi lao xe vào gần bồn nước trước cửa dinh rồi nhảy tâng tâng như con nít. Tôi và Thọ ôm chặt lấy nhau trong nghẹn ngào, xúc động. Thế rồi, Thọ bỏ tôi ra chạy vào dinh. Tôi cũng định trèo lên dinh xem nhưng ông Trị- bt hét: “Lái xe phải ở lại xe” nên chỉ mon men lên chỗ tiền sảnh lại quay về. Tôi xuống chỗ bồn nước rửa mặt và thất kinh vì nhìn thấy bộ dạng bẩn thỉu, rách rưới của mình. Giữa rất nhiều ống kính máy ảnh và ánh mắt của bà con, nam nữ thanh niên lúc này đã kéo tới ngoài hàng rào tôi xấu hổ quá chui vào ghế lái xe ngồi, lòng tràn đầy những cảm xúc trái chiều nhau. Vui sướng, tự hào, vinh dự nhưng cũng bồi hồi, đau xót. Nhìn cái lỗ trên nóc tháp pháo và những vệt máu vẫn còn vương trên vách buồng chiến đấu và sàn xe mà càng thêm thương xót Duyệt.

Cúi nhìn đồng hồ công- tơ- mét thấy con số 3100 km, trong đầu tôi chợt hình dung đến cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân ta như một cuộc trường chinh mà đây chính là “cây số cuối cùng”. Một tứ thơ vụt hiện trong đầu tôi. Tôi vội lấy cuốn sổ đã bị chém bởi vết đạn hôm 28.4 ra ghi vội:

Khi chiếc xe tăng dừng trước dinh Độc Lập
Ta ngỡ ngàng- Đây thật hay mơ?
Cây số cuối cùng- Cuộc trường chinh dằng dặc
Đến rồi chăng? Hai mắt bỗng dưng nhòa.

Và mắt tôi nhòa đi thật.

NKN

-------

Trân trọng chia sẻ.
Tô Hà

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

CHÚC MỪNG TÂN NƯƠNG

        TRIANCUOCĐƠI chúc mừng gia đình Vân Anh đã tổ chức lễ vu quy cho con gái vào ngày 10/2/2020, nhằm ngày 17 tháng Giêng. Xin chia sẻ cùng Xóm Trian một vài hình ảnh lễ cưới được tổ chức tại Hà Nội hôm nay, 12/2/2020.




Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

VĨNH BIỆT NGƯỜI ANH HÙNG

Hôm nay, 21/12/2019, các CCB Trường Sơn thương tiếc tiễn đưa Thiếu tướng - Anh hùng LLVTND NGUYỄN BÁ TÒNG, Phó Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh về Chính trị Binh đoàn 12 về nơi an nghỉ cuối cùng. Tưởng nhớ Anh, Tô Hà trân trọng đăng lại những hình ảnh tại Nha Trang ngày 20/3/2015 khi Anh đưa Đoàn CCB nữ lái xe Trường Sơn anh hùng đi thăm chiến trường xưa.
Xin gửi nén tâm hương vĩnh biệt người anh hùng.
Trong hình ảnh có thể có: đêm và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang đứng

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và ngoài trời

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, bao gồm The Nguyen và Nguyễn Hương Nguyễn, mọi người đang cười, mọi người đang đứng

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, ngoài trời

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

TIN MỪNG

           Hôm qua, tại Nhà hàng Yến Nha Trang, Minh Hương đã tổ chức hôn lễ cho con trai thứ Nguyễn Lê Huy. Gia đình Minh Hương rất xúc động được đón vợ chồng thầy Nguyễn Viết Cảnh và cô Tạ Thị Phương Kim đến dự. Hươu Sao thay mặt các em tiếp thày cô và được chụp ảnh chung với thày cô. Xin được khoe ảnh cùng Xóm Trian.
Trong hình ảnh có thể có: 4 người, bao gồm Hồ MinhQuang, mọi người đang cười, mọi người đang đứng và trong nhà

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang cười, mọi người đang đứng

Trong hình ảnh có thể có: Tô Hà, đang cười, đang đứng và giày