Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã
Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011
Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011
Phiên âm: Du Côn Sơn
Nhất cùng sơn thượng, trụ vân yên,
Gậy trúc trèo non ngắm tuyết tan ,
Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011
ĐÓN MỪNG CƯ DÂN MỚI
CHUYỆN BẠN BÈ TÔI
Về quê đầu những năm 80, đời sống cả nước đang gặp nhiều khó khăn, vợ chồng hắn cũng không là ngoại lệ. Đã thế, vợ lại tòi ra một thằng cu nữa, mấy năm sau ra tiếp một thằng nữa cho đủ bộ ba. “Tam nam bất phú”, các cụ đã tổng kết rồi. Tôi lẩn thẩn lo cho hắn.
Nhưng không ngờ đời hắn lại khởi sắc mới hay chứ. Là đảng viên, cựu SQ, văn hóa ngon lành, đầu óc sáng láng hắn tham gia vào công tác ở địa phương. Chỉ sau mấy năm công tác, hắn đã được tín nhiệm bầu vào đảng ủy rồi trúng cử bí thư đảng ủy xã quê hương. Đang thời nhập nhoạng, các quan xã cũng có chút quyền hành và quyền lợi nhất định, hắn cũng được chia một mảnh đất ven đường và làm được nếp nhà nho nhỏ để rời khỏi cái làng Bát Giáo quanh năm lụt lội. Tất nhiên, không thể so được với các quan xã thời nay nhưng kể ra cũng không đến nỗi vất vả cho lắm. Công việc thì nhàn hạ, thu nhập cũng kha khá, lại có chút quyền hành… ở xã khối thằng mơ. Cũng thời kỳ này, hắn làm trung tâm để tập hợp hội đồng ngũ xe tăng CL 12.71 lại với nhau. Cái hội đó từ bấy đến nay vẫn duy trì đều phải nói công lao hắn rất to lớn. Mới chưa đầy 40 tuổi, mấy thằng bạn lính ngồi với nhau hể hả bảo: “Cứ như thế này, có khi mày còn lên huyện, lên tỉnh ấy nữa chứ”.
Nhưng… lại có một chữ nhưng. Ấy là nhưng không ai học hết chữ ngờ. Đang thuận buồm, xuôi gió thì mọi việc lại đổ bể. Hết cuộc thanh tra này đến cuộc thanh tra khác tới tấp dội về xã hắn. Thì ra, khối chính quyền xã này đã làm khá nhiều việc trái quy định, nhất là những việc liên quan đến đất đai. Hắn là bí thư đảng ủy, tuy không phải là người ra quyết định nhưng có trách nhiệm liên đới, không thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của đảng. Mà thực ra, cái chính là hắn cả tin, cả nể kiểu lính tráng với nhau trong khi đó kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước lại mù mờ nên mấy thằng đàn em nó qua mặt. Thế rồi đình chỉ công tác để điều tra. Dạo đó, hắn gầy tọp đi và bệnh đau dạ dày lại tái phát. Cuối cùng thì hắn bị kỷ luật cách hết các chức vụ. Gặp nhau, hỏi thăm, hắn cười khùng khục: “May không phải ra tòa”. Có điều, hắn bị kỷ luật đấy nhưng bà con, anh em vẫn quý mến chứ không ghẻ lạnh với hắn.
Lại một lần nữa hắn về làm dân nhưng lần này là làm dân thật sự. Tài sản tích góp cho đến lúc ấy cũng chẳng có bao nhiêu mà ba cái tàu há mồm thì lớn nhanh khủng khiếp. Thằng lớn mới học cấp 3 mà đã cao trên 1,8 m. Hai thằng kia cũng lộc ngà, lộc ngộc. Cả nhà trông vào mỗi suất lương của bà kỹ sư thú y nhưng cũng đang trong tình trạng thiếu việc làm vì các doanh nghiệp chăn nuôi của NN cũng đang thất bát. Bụng đói, đầu gối phải bò, hắn lăn lưng ra “bới đất, lật cỏ” .
Tuy nhiên, cái loại nông dân nửa mùa như hắn có cày thật lực cũng chẳng thể nào đáp ứng đủ cho ba cái tàu há mồm kia. Nào là ăn, mặc, học hành… mà chỉ trông vào mấy sào ruộng vụ được, vụ mất thì chỉ có đói. Thế là hắn xoay đủ cách.
Đầu tiên là nấu rượu, nuôi lợn. May có cô vợ kỹ sư chăn nuôi, thú y nên mấy năm đầu, lợn nhà hắn lớn nhanh, ít bệnh và thu nhập cũng tăng lên, đời sống phần nào được cải thiện. Tuy nhiên, vốn ít, địa thế lại không thuận lợi cho phát triển làm ăn nhớn (mà có khi cũng tại cái đầu chưa dám nghĩ đến nữa) nên cũng chỉ gọi là lấy công, làm lãi mà thôi. Trong khi đó, vừa vất vả lại vừa ô nhiễm nên hắn bắt đầu nản. Lại bị bồi thêm mấy lứa lợn ốm đau, bệnh dịch, tuy không đến nỗi mất trắng song lờ lãi chẳng được bao nhiêu nên hắn bỏ.
Hắn xoay tiếp sang bài tiếp theo là ấp trứng vịt lộn. Món này phải nói lợi nhuận khá cao, phải được 100%. Nghĩa là bỏ ra 1 đồng vốn sẽ thu được 2 đồng. Tuy nhiên cũng khá vất vả vì phải đi mua trứng ở xa về, ấp đến ngày lại phải đi giao trứng. Có điều, địa bàn hắn ở vẫn là nông thôn, mức sống còn thấp, các quán ăn nhậu chưa phát triển như bây giờ… nên phương án này cũng không thành công cho lắm. Mỗi lần trứng đến lứa phải chở đi như bán hàng rong, người ta lại hay chịu tiền, mà ở đó người ta chịu lâu lắm, hỏi đến cứ khất lần chẳng biết đến bao giờ mới đòi được. Rồi có lần đi lấy trứng, gặp mưa, đường đê thì trơn, hắn bị ngã vỡ gần hết xe trứng. Thế là hắn lại một phen phải chuyển giao công nghệ cho một chiến hữu và xoay hướng khác.
Lần này, hắn quyết định nuôi ong. Chí Linh dạo ấy phong trào trồng vải lên khá mạnh, các quả đồi xưa nay chủ yếu trồng bạch đàn, sắn khoai nay đã đều chuyển sang trồng vải. Ngay bản thân nhà hắn cũng có một vườn vải gần trăm gốc. Hắn quyết định chuyển sang hướng này lúc đó là cũng phù hợp. Theo một ông lão (là chú kết nghĩa của tôi) học hỏi kinh nghiệm một thời gian, hắn tự lực đứng ra làm với số vốn ban đầu là vài chục tổ ong mật. Làm món này cũng có lúc vất vả như vào mùa không có hoa vải, phải chở đàn ong đi xa hàng mấy chục km lên mạn Bắc Giang, Lạng Sơn để ong ăn. Tuy có vất vả nhưng không quá lầm than, đôi khi lại thấy có phần thi vị nữa. Và hắn đã trụ lại với nghề này cho đến tận bây giờ. Mỗi khi về thăm hắn, vợ hắn lại dúi cho chai mật ong: “Mật xịn đấy!”.
Thế rồi, Trời không phụ người có công. Ba đứa con lớn lên đều khỏe mạnh. Thằng lớn bây giờ đã là một sĩ quan Thông tin, có nhà ở HN. Thằng thứ hai, hắn cho đi học nghề nấu ăn, bây giờ làm ở TP Hải Dương. Hai thằng này đã có vợ con. Còn thằng thứ ba đang học ĐH Hàng hải. Vợ thì đã nghỉ hưu, mở một cửa hàng nho nhỏ bán thuốc thú y. Cuộc sống có vẻ như đã mát mặt hơn nhiều.
Nhắc lại chuỵện “giá như vào miền Nam có lẽ mày đỡ vất vả hơn”, hắn lại cười khùng khục: “Giày còn có số cơ mà. Biết thế đếch nào được. Có khi còn khốn nạn hơn ấy chứ”.
Chả biết thế nào mà nói trước được thật!
Đến đây thì chắc nhiều bà con đã nhận ra hắn là ai! Còn nếu không thì hắn đây- Phạm Bá Lập, lớp C, thường gọi Lập Nụ:MỘT BÀI KÝ ĐĂNG LẠI
(Viết nhân kỷ niệm 40 năm
thành lập trường THPT Chí Linh 1966-2006)
Lúc ấy Trường phổ thông cấp 3 Chí Linh đã sang tuổi thứ ba và vẫn đóng ở nơi sơ tán – thôn Đồi Thông thuộc xã Chí Minh ngày nay. Thực ra Đồi Thông cũng chỉ là một địa danh mới đặt, có lẽ do ở trên đỉnh ngọn Đồi Công, thuộc địa phận của làng, có mấy cây thông còi, từ xa trông chỉ thấy nó lơ thơ gầy guộc ( ngày nay tôi không thấy còn nữa, chỉ còn mấy cây thông ở lưng sườn đồi phía thôn Khang Thọ). Nhưng ở giữa một vùng đồi trọc, mấy cây thông còi ấy bỗng trở thành một dấu hiệu độc đáo khá gây ấn tượng. Vì thế nó trở thành tên của ngọn đồi, rồi thành tên của làng từ sau cách mạng tháng Tám. Người đời cũng tự nhiên bỏ đi cái tên cũ của ngọn đồi ấy- Đồi Công và cái tên cũ của làng ấy-làng Hậu Quan.
Theo các cụ già ở xã Chí Minh kể lại thì làng Hậu Quan cũng là một làng rất mới. Vào khoảng đầu thế kỷ XX, dưới thời Khải Định gì đó, có một ông quan người họ Dương, quê gốc ở ngoài Xuân Quan, Hưng Yên, làm quan tri phủ Nam Sách, khi về hưu mới chiêu dân đến đây khai khẩn lập ra một làng và đặt tên làng là làng Hậu Quan ( làng lập ra sau khi làm quan). Khi đã thành làng thành ấp rồi. Một tên chủ người Pháp lại mua lại và lập ra một đồn điền ở đây dân trong vùng vẫn gọi là đồn điền Hậu Quan. Ông chủ này là một người Tây lai (bố Pháp, mẹ Việt). Bố ông ta là viên chủ đồn điền Bắc Nội (thuộc địa phận xã Bắc An ngày nay), một lần đi qua vùng Kẻ Sặt, thấy một cô gái đang móc cua bên bờ ruộng nhưng lại rất xinh đẹp, đã đem lòng yêu mến và tìm kiếm người mối lái lấy cô ta bằng được. Chính cô gái móc cua ấy sau này đã sinh ra ông chủ đồn điền Hậu Quan. Có lẽ phải đến sau cách mạng tháng Tám(1945), khi thành lập xã Chí Minh, thì cái tên Hậu Quan kia, theo quan điểm chính thống thời đó, nghe nặng chất “phong kiến, đế quốc” nên mới bị phế bỏ và thay bằng tên mới là Đồi Thông.
Làng Đồi Thông cũng hình thành hai khu dân cư (xóm) khá rõ rệt: xóm Đá Bia gồm chủ yếu là người họ Dương. Ở đây có đền thờ ông quan họ Dương đã có công lập ra làng Hậu Quan, nay đã thành nhà thờ tổ của dòng họ Dương thôn Đồi Thông, vốn là con cháu của ông; và xóm Núi, người dân đa phần có quê gốc bên Nam Sách vào làm phu đồn điền rồi sinh cơ lập nghiệp tại đây. Hai xóm dân cư đó chính là dấu tích của hai thời kỳ phát triển khác nhau của làng Hậu Quan : thời làng Hậu Quan và thời đồn Điền Hậu Quan.
Lúc ấy huyện Chí Linh còn là một vùng xa xôi và hẻo lánh lắm. Đi lại đò giang rất cách nhỡ. Phương tiện chủ yếu chỉ là xe đạp nhưng không phải giáo viên ai cũng có. Thành thử trong tâm thức của giáo viên trong tỉnh Hải Hưng lúc bấy giờ Chí Linh chính là vùng “Xi bê ri” của Hải Hưng. Về Chí Linh công tác vẫn còn là một nỗi khiếp đảm của không ít giáo viên trong tỉnh. Cũng năm 1968 ấy, tôi đã chứng kiến một cô giáo văn, từ Đại học Sư phạm Vinh ra, được phân công về Chí Linh, cô ấy ngồi khóc suốt. Mấy ngày sau thì nghe nói anh người yêu cô ấy, nghe nói đâu là một cán bộ giảng dạy đại học đã phải vội về “rước” đi ngay. Ấn tượng còn lại trong tôi là hình ảnh một cô gái nhỏ nhắn, trắng trẻo với những dòng lệ tràn trề trên gương mặt héo hắt. Nhưng công bằng mà nói việc đi lại về Chí Linh ngày ấy quả là đáng ngại. Một lần kia,một thày giáo trong tổ văn quê Hà Nội, ngày nghỉ về thăm nhà đã phải “cuốc bộ” ra Hải Dương để đi tầu về Hà Nội. Ai ngờ đi đến Bến Bình lại nhỡ đò không đi được. Không hiểu ông bạn ấy sau này phải vượt sông như thế nào nhưng sau về kẻ lại chuyện nhỡ đò với một thái độ đầy tức giận, thì tôi buồn cười quá bèn nhại mấy câu thơ của Bạch Cư Dị để trêu anh ta như sau:
Bến “Bất Bình” chiều thu đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Mình cuốc bộ, hắn ngừng chèo
Tức mình ông phải lộn lèo về Thiên
Thiên chính là tên phủ lỵ cũ của huyện Chí Linh, tồn tại trong khoảng thời gian từ 1889 đến 1946, cách Bến Bình (mà tôi nhại thành Bất Bình) khoảng 3 cây số.
Nhưng những “khiếp đảm” và “ngại ngùng” ấy đều không thể có đối với tôi, vì tôi là người trong huyện. Khi tôi về, Trường cấp 3 Chí Linh mới chỉ có tám hay chín lớp gì đó (nhớ không rõ lắm). Tốc độ phát triển như thế cũng là khá nhanh. Năm đầu mới thành lập trường mới chỉ có 3 lớp: 2 lớp 8 mới chuyển vào và 1 lớp “9 nhô” thu góp các học sinh đang học nhờ bên các huyện Đông Triều và Nam Sách về. Điều mới mẻ đối với tôi khi ấy là thấy nhà trường đã có hẳn một “khu tập thể giáo viên” ở ngay nơi sơ tán (bên trường Nam Sách tôi không thấy có). Đó là một khu nhà tranh vách đất làm tạm bợ trên một khu đất không rộng lắm, ở ngay cạnh đường làng và chân dốc Núi Con nên cũng khá ẩm thấp. Đa phần những giáo viên chân son mình rồi được bố trí ở đây. Tôi được nhận ở riêng một phòng, nhưng phòng rất nhỏ và chật, chỉ vừa đủ kê được một chiếc giường cá nhân và một chiếc bàn con dùng làm bàn viết. Tư trang của chúng tôi ngày đó sơ sài lắm nên cũng bớt cảm thấy chật chội. Mấy năm dạy ở bên Nam Sách, chúng tôi toàn phải trọ nhà dân ở nơi sơ tán, nay về đây, được ở nhà tập thể lại riêng một phòng nên tôi cảm thấy rất tự do thoải mái. Sống trong khu tập thể cũng mỗi thầy một cá tính riêng, cũng lỉnh kỉnh “nồi niêu soong chảo mắm muối tương cà...” như một gia đình. Một số thày khác tuy vẫn báo cơm tập thể nhưng lại có cải thiện thêm các món ăn tự nấu... Trong làm việc cũng vậy, có thày có vẻ rất nhàn tản, nhưng cũng có thày thì cặm cụi vất vả ngày đêm... Ngày ấy về sinh hoạt vật chất còn rất nhiều thiếu thốn: ăn còn đói, mặc chưa đẹp, thậm chí còn rách nữa, đi lại thì thiếu thốn phương tiện, chủ yếu là “cuốc bộ”. Những thư như đèn điện, nước máy thì không ai dám mơ tới. Điều kiện sinh hoạt tinh thần cũng rất sơ sài: trong khu tập thể, không thấy có báo chí gì; cũng không thấy ai có đài cá nhân. Duy nhất tôi thấy thày Chiêu có một cây đàn Ghi ta và thày Nghị thỉnh thoảng về Hà Nội lên lại mang theo một tập cắt dán những bài báo có liên quan đến bộ môn sinh vật của thày. Trong những tập “hồ sơ” ấy, tôi thấy có nhiều bài phổ biến khoa học kỹ thuật khá bổ ích và lý thú. Công việc chuyên môn thì còn khá nhẹ nhàng. Do trường còn ít lớp nên các môn học tự nhiên và các môn ít giờ khác còn khá nhàn rỗi. Nhiều thầy ngoài giờ lên lớp ra thấy rất ít làm việc. Có thầy thì “xuất ngoại” (hoặc đi chơi, hoặc đi chợ); có thầy thì tụ tập “chuyện gẫu”. Vì đa số các thày giáo còn rất trẻ, nên sôi nổi nhất vẫn là những cuộc “mạn đàm” về các cô gái. Đây thật sự là những buổi giới thiệu khá nhiều thông tin về các cô gái ở trong vùng...Nó vô tình trở thành những “hội nghị tư vấn” giúp cho các thày giáo trẻ “chưa có con trai, con gái” (chưa có đôi) phần nào có định hướng để đi “tìm người yêu”...
Năm học 1968-1969, năm đầu tiên về Chí Linh, tôi được phân công dạy văn 2 lớp 10 và làm chủ nhiệm lớp 10B. Đây chính là hai lớp 8 do nhà trường tuyển vào từ khi mới thành lập. Nếu không kể lớp “9 nhô” thì đây mới là “khóa 1” của nhà trường. Lúc mới tuyển vào sĩ số các lớp đều đủ theo quy định 55 hs/lớp. Nhưng ở thời chiến, cứ sau mỗi lần tuyển quân, lớp học lại vãn đi một ít. Khi tôi tiếp quản thì lớp 10B chỉ còn có 27 em, tức là đã vơi đi quá nửa. Lớp 10A do thày Nghị chủ nhiệm lại còn ít hơn thế. It vậy, nhưng tinh thần tập thể và nhiệt tình học tập của các em lại rất cao. Tôi cảm nhận được điều này qua những bài hát đồng ca của các em. Ngày ấy các em hay hát lắm và đặc biệt là hát đồng ca, hát cả lớp. Vào tiết học nào cũng hát và bất cứ buổi sinh hoạt tập thể nào cũng hát. Tôi còn nhớ buổi đầu tiên được thầy Vĩnh giới thiệu vào tiếp quản lớp 10B của thầy ở tại nhà cụ Trãi(ngay trước cửa khu tập thể giáo viên). Các em ngồi quây tròn cả ở trong nhà. Khi chúng tôi vừa bước vào đến cửa, thì một em nữ sinh, tóc phi rê, mặt tròn, người thấp béo, bắt giọng: “Rầm rập bước quân ta đi...”. Cả lớp lập tức đồng loạt hát theo, sôi nổi, hùng tráng và rất đồng đều. Như say theo tiếng hát, các em còn hát liên tiếp mấy bài liền. Tôi đã thật sự xúc động: những sợi tóc đằng sau gáy cứ như muốn dựng lên và ở trên khóe mắt thì lệ cứ như muốn ứa ra. Những bài hát của các em đã làm tôi nhớ lại buổi học chiều ngày 5 tháng 11 năm 1965. Hôm ấy lớp 8D của tôi đang học nhờ trong một căn nhà dân trong làng Đông Thôn xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách, thì máy bay Mỹ đến bắn phá cầu Lai Vu. Các cỡ súng phòng không của ta bắn lên giòn giã. Một lúc sau thì bỗng nghe những tiếng reo dậy đất “Cháy rồi! Cháy rồi!”. Thế là tự nhiên tất cả các em học sinh trong lớp đều bỏ lớp chạy ùa ra cả bìa làng xem, vẫn còn kịp nhìn thấy chiếc máy bay đang cháy và rơi xuống trong nắng chiều mùa đông. Tất cả mọi người đều phấn khích đến cực độ. Khi các em trở lại lớp học vì tinh thần các em quá phấn khích cũng không sao học lại được nữa. Thế là lại hát và bài “Không cho chúng nó thoát” tự nhiên cất lên. Các em hát rất to như muốn vỡ cả ồng ngực. Lời của bài hát ấy đến nay vẫn như còn văng vẳng bên tai tôi: Nghe tiếng súng oai hùng trừng phạt quân cướp Mỹ đang điên cuồng / Vui đón chiến công đầu từ biển khơi cho tới nơi biên phòng / Đồng lúa mênh mông dạt dào / Nhà máy khói bay đầy trời / Sức chúng ta làm ra bay đừng hòng đến cướp phá / Ta giăng lưới lửa trên trời / Ta giăng lưới thép ngoài khơi / Chắc tay súng / Bộ đội và dân quân sãn sàng / Không cho chúng nó thoát / Không cho chúng nó thoát / Chúng bay vào sẽ không có đường ra...”
Suốt buổi chiều hôm đó, cả lớp chỉ hát đi hát lại một bài đó thôi mà say sưa không dứt. Càng hát càng cảm thấy tâm hồn mình phấn khích, lâng lâng, bồng bềnh mây gió. Ở Nam Sách cũng như ở Chí Linh tôi đều có chung một cảm nhận rằng thế hệ học sinh ngày đó còn rất có tâm hồn. Dạy văn với các em tôi còn cảm thấy rất hào hứng, bởi các em còn tỏ ra rất nhạy cảm với những vẻ đẹp của văn chương. Trong những giờ học văn các em đều hết sức chăm chú và đồng cảm được với không khí tác phẩm văn học. Dạy đến những tác phẩm như Truyện Kiều, Chí Phèo, Thép đã tôi thế đấy...Thì các em say sưa đến mức đã nghe tiếng trống hết giờ (gần 12 giờ trưa) mà các em vẫn không muốn rời lớp cứ đề nghị thày giảng tiếp. Chính điều ấy là nguồn cổ vũ vô cùng lớn lao và sâu sắc đối với tôi. Trong cuộc đời dạy học của mình, tôi vẫn coi đây là một điều may mắn lớn. Nhất là sau này, có một thời gian tôi đi dạy hợp đồng trở lại, thấy học sinh quá lộn xộn và thờ ơ với văn chương thì tôi càng thêm quý lớp học sinh ngày trước.
Ngay từ những năm đó, ở Trường cấp 3 Chí Linh cũng đã có phong trào “luyện thi”. Ban ngày các phòng học đều chật cứng cả hai ca sáng- chiều, mà các thày thì quá lo lắng cho kết quả học tập của học sinh, nên ngay giữa những ngày chiến tranh phá họai, máy bay Mỹ bắn phá như thế, nhà trường vẫn cứ tổ chức “luyện thi” vào ban đêm. Hàng năm, cứ sau ngày Bộ thông báo môn thi là phiên họp Hội đồng tháng ấy lại bàn bạc và lên lịch “luyện thi”. Thường thì vẫn bố trí cho mỗi môn thi tốt nghiệp học thêm một buổi tối. Trong những buổi học thêm gọi là “luyện thi” ấy, các thày phải lên lớp vừa quản lý vừa hướng dẫn học sinh ôn tập bộ môn của mình. Riêng tôi thường làm theo cách sau: đầu giờ nêu nội dung và yêu cầu ôn tập của buổi, rồi để học sinh tự học. Tôi giành khoảng 30 phút cuối để kiểm tra “chốt hậu” , rồi dựa vào những câu trả lời cụ thể của học sinh mà uốn nắn bổ sung. Những mùa thi thời ấy thường gắn bó với ngọn đèn dầu. Tối tối những ngọn đèn dầu từ các ngõ xóm lại tốp năm tốp ba tụ về lớp học và khuya khuya những ngọn đèn dầu ấy lại lung linh bồng bềnh tỏa về các ngõ xóm. Hình ảnh những ngọn đèn dầu ấy lưu giữ trong ký ức của tôi một ấn tượng vừa ấm áp mà lại vừa huyền hoặc, ám ảnh khó quên.
Cuối năm 1968, Giôn xơn tuyên bố ngừng “leo thang” miền Bắc, nhưng trường cấp 3 Chí Linh vẫn ở Đồi Thông. Mãi đến đầu năm 1970, thày trò mới khênh khênh vác vác chuyển trường về Sao Đỏ. Nhà “hai tầng” mới bắt đầu khởi công. Khu “trường lá” đặt ở khu vườn vải bây giờ, gồm ba ngôi, bẩy phòng, bố trí theo lối “gọng bừa” khá gọn gàng chuông chắn. Năm 1972, Ních sơn lại giở trò bắn phá miền Bắc. Nhà trường lại phải sơ tán lần thứ hai. Các lớp học lại phải làm rải rác và tản sâu vào trong rừng Sao Đỏ. “Những ngôi trường lá ven đồi / Bạch đàn kín mái tiếng cười đầy sân”(Nhớ rừng Sao Đỏ) là những câu thơ tôi viết về những lớp học sơ tán trong rừng lần thứ hai ấy.
Chí Linh 22/9/2006
Đỗ Đình Tuân
Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011
CHUYỆN BẠN BÈ TÔI
Gặp nhau rồi, còn một chuyện làm tôi ngớ ra là hắn đã cưới vợ, lại là N.- một hoa khôi của lớp C mới ác chứ. Thực ra, ở lớp này hồi cuối cấp 3 cũng đã có một số đôi có tình ý với nhau, nhưng giữa hắn với N. có thấy biểu hiện gì đâu. Vợ hắn thì cũng chẳng có gì xa lạ với tôi, tôi còn biết N. từ hồi cấp 2 cơ vì năm lớp 6, huyện CL tập trung đội tuyển Toán để bồi dưỡng đi thi tỉnh. Có 10 đứa tất cả, trong đó có nhõn một đứa con gái là cái N.. N. cao ráo, có gương mặt khá xinh, lại học giỏi nên đã lọt vào mắt xanh của khối anh, thậm chí là cả một số thày giáo trẻ chưa vợ nữa (sau này, khi gặp lại nhau, một thày giáo ở HN đã công nhận điều đó). Thế mà không hiểu do duyên số hay cái gì đó lại rơi vào tay cái thằng cả ngày chẳng nói một câu này. Đúng là “mèo mù vớ cá rán”. Lúc đó, N. đang học năm cuối của ĐH Nông nghiệp, khoa Thú y.
Rồi thì mấy tháng sau tôi mới được gặp N.. Y thị đang làm luận văn tốt nghiệp nên được nghỉ. Và thế là thị bê tất cả tài liệu lên chiêu đãi sở của Trường SQTG để tác nghiệp. Lại đang có chửa đứa con đầu nữa chứ, bụng to vượt mặt trông tất tả lắm. Dạo ấy, hắn đang khá bận nên hắn nhờ tôi ra kẻ vẽ giúp các thứ bảng biểu phục vụ cho việc bảo vệ LV của N.. Thế là tôi phải bò ra mất mấy ngày mới hoàn chỉnh được hơn chục bảng kẻ cho vợ hắn. N. còn bắt tôi đọc và sửa luận văn hộ. Khổ, mình có chuyên môn quái gì về cái món chăn nuôi thú ý này đâu. Nhưng rồi nể bạn, tôi cũng đọc và sửa cho hắn được ít lỗi chính tả. Tháng sau, N. bảo vệ thành công LA tốt nghiệp. Tháng sau nữa thì tòi ra một thằng cu. Vợ chồng hắn đặt tên con là Nam để kỷ niệm những ngày hắn chinh chiến ở CT miền Nam. Sau đó, N. được phân về Trại giống ở Chí Linh. Chồng sĩ quan, vợ kỹ sư công tác tại quê nhà. Cuộc đời hắn nghe chừng khá viên mãn.
Nhưng rồi sự ổn định ấy cũng không được lâu. Quãng cuối năm 76, đầu năm 77, hắn được điều đi “tăng cường cấp huyện” tận miền Nam. Đây là một chủ trương lớn của Nhà nước hồi ấy- đưa sĩ quan QĐ tăng cường cho chính quyền các vùng mới giải phóng. Chẳng biết người ta căn cứ vào cái gì mà lại điều hắn đi về Phòng Thủy lợi huyện Cần Đước, Long An. Chúng tôi chia tay nhau khá bịn rịn.
Tôi thì không biết những ngày công tác tại đó hắn có làm được việc gì ra hồn không, chỉ biết riêng về uống rượu thì hắn “lên mồm” khiếp. Hồi ở TSQ, hắn bị đau dạ dày, có liên hoan gì đó cũng chỉ dám cầm chén rượu lên nhấp môi rồi đặt xuống. Thế mà, chỉ sau 1 năm đi tăng cường cấp huyện về quê gặp nhau, hắn uống như hũ chìm. Kể ra, thành tích đi tăng cường thế này cũng là lớn đấy chứ.
Ngồi nói chuyện với nhau, tôi tỷ mẩn hỏi: “Thế ở trong ấy, mày làm những việc gì”. Hắn cười: “Thì chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các xã làm TL chứ còn làm gì nữa”. Tôi bảo: “Mày thì biết quái gì mà chỉ đạo với hướng dẫn”. Hắn lại cười khùng khục: “Thì đúng như thế. Mình có học gì về món đó đâu. Nhưng mà phải có võ. Cứ xuống một xã làm tốt, bảo họ báo cáo thật tỷ mỷ, cụ thể. Thế là mình nắm được những điểm chính rồi từ đó mà mô- li- phê ra mà chỉ đạo xã khác”. Thì ra là thế.
Nhưng rồi cái sự nghiệp của anh cán bộ Thủy lợi huyện cũng chẳng được dài lâu. Năm 77, bọn Pôn Pốt đánh các tỉnh BGTN của ta. Những năm tiếp theo, chiến tranh BGTN ngày càng dữ dội, các cán bộ đi tăng cường cấp huyện lại được rút về đội ngũ. Hắn được điều về tỉnh đội Tây Ninh.
Tuy nhiên, lần này thì “cóc đã mở miệng”. Hắn cùng một số đồng đội lên tận BCHQS tỉnh và BTL quân khu có ý kiến: “nếu gọi về QĐ thì phải điều về đơn vị cũ. Còn nếu điều về tỉnh đội thì chắc chắn sẽ không hoàn thành nhiệm vụ”. Cùng với hắn còn khá đông anh em ở các QBC khác cũng có ý kiến như vậy. Chắc là vì thế nên đùng một cái, hắn được đưa về học chỉ huy bay ở Tân Sơn Nhất.
Thông minh, có văn hóa, lại đã ở lính xe tăng, được học SQXT nên trong khóa đào tạo đó, hắn tỏ ra xuất sắc nhất. Vì vậy, sau khi mãn khóa, trong khi các đồng đội bị điều đi các sân bay nhỏ lẻ như Trà Nóc, Thành Sơn v.v… thì hắn lại được ở lại TSN mới oách chứ. Xem ra, cái vị trí này cũng có tương lai bởi sân bay TSN lúc đó cũng đã khá sầm uất, nếu làm tốt thì vừa có thu nhập khá, lại có cơ hội phát triển. Cái gì chứ trước mắt là nếu được đi tranh thủ có thể đi nhờ máy bay được. Thực tế là đã có 2- 3 lần hắn đi nhờ máy bay QS về Gia Lâm.
Nhưng sự đời không đơn giản như vậy. Tình hình kinh tế nước nhà đi vào giai đoạn khó khăn. Vợ hắn ở nhà một nách con thơ, một nách mẹ già, lại còn việc cơ quan nên khá vất vả, đồng lương lại eo hẹp. Hắn thì khá hơn nhưng lại ở xa, tích cóp lương cả năm chỉ dồn cho một chuyến đi phép là hết (mặc dù thường là được đi nhờ máy bay quân sự). Thế là bài toán hợp lý hóa gia đình được đặt ra một cách quyết liệt: “Hoặc là hắn phải về với vợ, hoặc là vợ hắn phải vào Nam với hắn”.
Gặp nhau, hắn cũng cho tôi biết tình hình và tham khảo ý kiến. Với tôi, tôi ủng hộ phương án 1- N. phải vào Nam với hắn. Có mấy căn cứ để tôi nghiêng về phương án này: Một là, hắn ở ngành HK, lại ở TSN nên rất có tương lai. Hai là, miền Nam đang rất thiếu cán bộ có chuyên môn nên vợ hắn vào sẽ xin việc dễ dàng. Mà đúng là như vậy thật, hắn mới sơ bộ liên hệ mà một trường ĐH Nông lâm trong đó đã đồng ý nhận vào làm cán bộ giảng dạy ngay. Bản thân hắn cũng thấy đó là hợp lý, vợ hắn cũng xuôi xuôi. Tưởng mọi việc sẽ thuận rồi song lại gặp một lực cản khác: Đó chính là bà mẹ già của hắn. Bà quyết không rời khỏi quê hương, bản quán. Nhà có hai anh em, anh lớn đã hy sinh ở chiến trường miền Nam, chưa biết nằm ở đâu. Mẹ thì già yếu, còn hắn là con trai duy nhất không lẽ bỏ đi cho sướng thân mình. Và thế là sự việc quay ngoắt đi 180 độ, hắn quyết định xin phục viên về quê.
Thật tình là tôi tiếc cho cái quyết định ấy của hắn. Nếu hắn ở lại TSN và đưa vợ vào thì cuộc đời hắn chắc sẽ đỡ lầm than hơn. Nhưng mà ai biết trước được mọi việc. Biết đâu rồi vào đó lại khổ hơn.
Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011
Trân trọng đón chào nhà thơ Song Thu nhập cư "Xóm Tri Ân"
1. CÂY XƯƠNG RỒNG:
Lá xanh -xanh đậm sắc trời
Rễ chằng chịt rễ,neo nơi đất lành
Đông tàn lá vẫn tươi xanh
Bão giông vẫn vững như thành
người ơi ...!
Thanh Dạ
TRUNG THU NGOẠN NGUYỆT HỮU HOÀI
TRUNG THU NGOẠN NGUYỆT HƯU HOÀI


