Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

MẾN GỬI XÓM TRI ÂN

Vui sao được vào xóm Tri Ân
Mạo muội T. tôi có mấy vần
Xin chúc mọi người luôn mạnh khỏe
Để cùng mãi mãi với Tri Ân.


Hoàng Minh Thạo
27/5/2011

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

弎 遊崑山

弌筇山上柱雲烟
囘首塵挨路隔千
雨後泉聲流蔌蔌
天睛嵐氣靜涓涓
百年浮世人皆夢
半日偸閒我亦仙
興去欲來僧院宿
昏鐘催月掛峯前

Phiên âm: Du Côn Sơn

Nhất cùng sơn thượng, trụ vân yên,
Hồi thủ trần ai, lộ cách thiên .
Vũ hậu tuyền thanh, lưu tốc tốc ,
Thiên tình lam khí, tĩnh quyên quyên .
Bách niên phù thế nhân giai mộng ,
Bán nhật du nhàn ngã diệc tiên .
Hứng khứ dục lai, tăng viện túc ,
Hôn chung thôi nguyệt, quải phong tiền

Dịch thơ: CHƠI CÔN SƠN

Gậy trúc trèo non ngắm tuyết tan ,
Ngoảnh đầu nhìn lại chẳng đường lên .
Mưa tan suối dạo muôn dòng nhạc ,
Hơi nước hững hờ, gió toả lan .
Cõi thế xưa nay toàn mộng ảo ,
Nửa ngày thanh thản hoá thành tiên .
Đường vào tu viện thăm cõi phật ,
Chuông giục trăng treo, đỉnh non ngàn.

ĐT.05-2011
NHỚ MÙA THI


Mùa thi lại sắp đến rồi,

Đứng bên đường ngắm phượng phơi sân trường.

Còn đâu những bụi phấn vương,

Còn đâu tiếng trống tan trường mùa thi.

Hà Nội 12/5/2011
Cẩm Tú

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

ĐÓN MỪNG CƯ DÂN MỚI


Tháng 5 năm 2011, Xóm Tri Ân hân hoan đón chào hai cư dân mới: Thày Trương Quang Chế, nguyên giảng viên Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, nay nghỉ hưu tại thành phố Cần Thơ và anh Hoàng Minh Thạo, cựu chiến binh ở huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai. Chúc các thành viên mới thêm niềm vui chia sẻ cùng cả Xóm. Chúc Xóm Tri Ân thêm rộn ràng hương sắc mới.

CHUYỆN BẠN BÈ TÔI

1- HẬU VỆ, LÍNH TĂNG, SĨ QUAN, BÍ THƯ VÀ... THƯỜNG DÂN- 3

Về quê đầu những năm 80, đời sống cả nước đang gặp nhiều khó khăn, vợ chồng hắn cũng không là ngoại lệ. Đã thế, vợ lại tòi ra một thằng cu nữa, mấy năm sau ra tiếp một thằng nữa cho đủ bộ ba. “Tam nam bất phú”, các cụ đã tổng kết rồi. Tôi lẩn thẩn lo cho hắn.

Nhưng không ngờ đời hắn lại khởi sắc mới hay chứ. Là đảng viên, cựu SQ, văn hóa ngon lành, đầu óc sáng láng hắn tham gia vào công tác ở địa phương. Chỉ sau mấy năm công tác, hắn đã được tín nhiệm bầu vào đảng ủy rồi trúng cử bí thư đảng ủy xã quê hương. Đang thời nhập nhoạng, các quan xã cũng có chút quyền hành và quyền lợi nhất định, hắn cũng được chia một mảnh đất ven đường và làm được nếp nhà nho nhỏ để rời khỏi cái làng Bát Giáo quanh năm lụt lội. Tất nhiên, không thể so được với các quan xã thời nay nhưng kể ra cũng không đến nỗi vất vả cho lắm. Công việc thì nhàn hạ, thu nhập cũng kha khá, lại có chút quyền hành… ở xã khối thằng mơ. Cũng thời kỳ này, hắn làm trung tâm để tập hợp hội đồng ngũ xe tăng CL 12.71 lại với nhau. Cái hội đó từ bấy đến nay vẫn duy trì đều phải nói công lao hắn rất to lớn. Mới chưa đầy 40 tuổi, mấy thằng bạn lính ngồi với nhau hể hả bảo: “Cứ như thế này, có khi mày còn lên huyện, lên tỉnh ấy nữa chứ”.

Nhưng… lại có một chữ nhưng. Ấy là nhưng không ai học hết chữ ngờ. Đang thuận buồm, xuôi gió thì mọi việc lại đổ bể. Hết cuộc thanh tra này đến cuộc thanh tra khác tới tấp dội về xã hắn. Thì ra, khối chính quyền xã này đã làm khá nhiều việc trái quy định, nhất là những việc liên quan đến đất đai. Hắn là bí thư đảng ủy, tuy không phải là người ra quyết định nhưng có trách nhiệm liên đới, không thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của đảng. Mà thực ra, cái chính là hắn cả tin, cả nể kiểu lính tráng với nhau trong khi đó kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước lại mù mờ nên mấy thằng đàn em nó qua mặt. Thế rồi đình chỉ công tác để điều tra. Dạo đó, hắn gầy tọp đi và bệnh đau dạ dày lại tái phát. Cuối cùng thì hắn bị kỷ luật cách hết các chức vụ. Gặp nhau, hỏi thăm, hắn cười khùng khục: “May không phải ra tòa”. Có điều, hắn bị kỷ luật đấy nhưng bà con, anh em vẫn quý mến chứ không ghẻ lạnh với hắn.

Lại một lần nữa hắn về làm dân nhưng lần này là làm dân thật sự. Tài sản tích góp cho đến lúc ấy cũng chẳng có bao nhiêu mà ba cái tàu há mồm thì lớn nhanh khủng khiếp. Thằng lớn mới học cấp 3 mà đã cao trên 1,8 m. Hai thằng kia cũng lộc ngà, lộc ngộc. Cả nhà trông vào mỗi suất lương của bà kỹ sư thú y nhưng cũng đang trong tình trạng thiếu việc làm vì các doanh nghiệp chăn nuôi của NN cũng đang thất bát. Bụng đói, đầu gối phải bò, hắn lăn lưng ra “bới đất, lật cỏ” .

Tuy nhiên, cái loại nông dân nửa mùa như hắn có cày thật lực cũng chẳng thể nào đáp ứng đủ cho ba cái tàu há mồm kia. Nào là ăn, mặc, học hành… mà chỉ trông vào mấy sào ruộng vụ được, vụ mất thì chỉ có đói. Thế là hắn xoay đủ cách.

Đầu tiên là nấu rượu, nuôi lợn. May có cô vợ kỹ sư chăn nuôi, thú y nên mấy năm đầu, lợn nhà hắn lớn nhanh, ít bệnh và thu nhập cũng tăng lên, đời sống phần nào được cải thiện. Tuy nhiên, vốn ít, địa thế lại không thuận lợi cho phát triển làm ăn nhớn (mà có khi cũng tại cái đầu chưa dám nghĩ đến nữa) nên cũng chỉ gọi là lấy công, làm lãi mà thôi. Trong khi đó, vừa vất vả lại vừa ô nhiễm nên hắn bắt đầu nản. Lại bị bồi thêm mấy lứa lợn ốm đau, bệnh dịch, tuy không đến nỗi mất trắng song lờ lãi chẳng được bao nhiêu nên hắn bỏ.

Hắn xoay tiếp sang bài tiếp theo là ấp trứng vịt lộn. Món này phải nói lợi nhuận khá cao, phải được 100%. Nghĩa là bỏ ra 1 đồng vốn sẽ thu được 2 đồng. Tuy nhiên cũng khá vất vả vì phải đi mua trứng ở xa về, ấp đến ngày lại phải đi giao trứng. Có điều, địa bàn hắn ở vẫn là nông thôn, mức sống còn thấp, các quán ăn nhậu chưa phát triển như bây giờ… nên phương án này cũng không thành công cho lắm. Mỗi lần trứng đến lứa phải chở đi như bán hàng rong, người ta lại hay chịu tiền, mà ở đó người ta chịu lâu lắm, hỏi đến cứ khất lần chẳng biết đến bao giờ mới đòi được. Rồi có lần đi lấy trứng, gặp mưa, đường đê thì trơn, hắn bị ngã vỡ gần hết xe trứng. Thế là hắn lại một phen phải chuyển giao công nghệ cho một chiến hữu và xoay hướng khác.

Lần này, hắn quyết định nuôi ong. Chí Linh dạo ấy phong trào trồng vải lên khá mạnh, các quả đồi xưa nay chủ yếu trồng bạch đàn, sắn khoai nay đã đều chuyển sang trồng vải. Ngay bản thân nhà hắn cũng có một vườn vải gần trăm gốc. Hắn quyết định chuyển sang hướng này lúc đó là cũng phù hợp. Theo một ông lão (là chú kết nghĩa của tôi) học hỏi kinh nghiệm một thời gian, hắn tự lực đứng ra làm với số vốn ban đầu là vài chục tổ ong mật. Làm món này cũng có lúc vất vả như vào mùa không có hoa vải, phải chở đàn ong đi xa hàng mấy chục km lên mạn Bắc Giang, Lạng Sơn để ong ăn. Tuy có vất vả nhưng không quá lầm than, đôi khi lại thấy có phần thi vị nữa. Và hắn đã trụ lại với nghề này cho đến tận bây giờ. Mỗi khi về thăm hắn, vợ hắn lại dúi cho chai mật ong: “Mật xịn đấy!”.

Thế rồi, Trời không phụ người có công. Ba đứa con lớn lên đều khỏe mạnh. Thằng lớn bây giờ đã là một sĩ quan Thông tin, có nhà ở HN. Thằng thứ hai, hắn cho đi học nghề nấu ăn, bây giờ làm ở TP Hải Dương. Hai thằng này đã có vợ con. Còn thằng thứ ba đang học ĐH Hàng hải. Vợ thì đã nghỉ hưu, mở một cửa hàng nho nhỏ bán thuốc thú y. Cuộc sống có vẻ như đã mát mặt hơn nhiều.

Nhắc lại chuỵện “giá như vào miền Nam có lẽ mày đỡ vất vả hơn”, hắn lại cười khùng khục: “Giày còn có số cơ mà. Biết thế đếch nào được. Có khi còn khốn nạn hơn ấy chứ”.

Chả biết thế nào mà nói trước được thật!

Đến đây thì chắc nhiều bà con đã nhận ra hắn là ai! Còn nếu không thì hắn đây- Phạm Bá Lập, lớp C, thường gọi Lập Nụ:



MỘT BÀI KÝ ĐĂNG LẠI

Đồi Thông

(Viết nhân kỷ niệm 40 năm
thành lập trường THPT Chí Linh 1966-2006)


Tôi không phải là lớp giáo viên đầu tiên về trường phổ thông cấp 3 Chí Linh (Trường THPT Chí Linh ngày nay). Khi trường thành lập (1966), tôi còn đang là giáo viên tập sự bên Trường phổ thông cấp 3 Nam Sách mới được có một năm ( ngày ấy thời gian tập sự quy định là 2 năm). Đến năm 1967, tuy đã hết thời gian tập sự, nhưng lại “nặng tình” với khóa học sinh đầu tay (1965-1968) nên tôi vẫn ở lại Nam Sách để “theo lớp”. Mãi đến năm 1968, sau khi đã hết thời gian tập sự và tiễn khóa học sinh đầu tay ra trường, tôi mới xin về Trường phổ thông cấp 3 Chí Linh.
Lúc ấy Trường phổ thông cấp 3 Chí Linh đã sang tuổi thứ ba và vẫn đóng ở nơi sơ tán – thôn Đồi Thông thuộc xã Chí Minh ngày nay. Thực ra Đồi Thông cũng chỉ là một địa danh mới đặt, có lẽ do ở trên đỉnh ngọn Đồi Công, thuộc địa phận của làng, có mấy cây thông còi, từ xa trông chỉ thấy nó lơ thơ gầy guộc ( ngày nay tôi không thấy còn nữa, chỉ còn mấy cây thông ở lưng sườn đồi phía thôn Khang Thọ). Nhưng ở giữa một vùng đồi trọc, mấy cây thông còi ấy bỗng trở thành một dấu hiệu độc đáo khá gây ấn tượng. Vì thế nó trở thành tên của ngọn đồi, rồi thành tên của làng từ sau cách mạng tháng Tám. Người đời cũng tự nhiên bỏ đi cái tên cũ của ngọn đồi ấy- Đồi Công và cái tên cũ của làng ấy-làng Hậu Quan.
Theo các cụ già ở xã Chí Minh kể lại thì làng Hậu Quan cũng là một làng rất mới. Vào khoảng đầu thế kỷ XX, dưới thời Khải Định gì đó, có một ông quan người họ Dương, quê gốc ở ngoài Xuân Quan, Hưng Yên, làm quan tri phủ Nam Sách, khi về hưu mới chiêu dân đến đây khai khẩn lập ra một làng và đặt tên làng là làng Hậu Quan ( làng lập ra sau khi làm quan). Khi đã thành làng thành ấp rồi. Một tên chủ người Pháp lại mua lại và lập ra một đồn điền ở đây dân trong vùng vẫn gọi là đồn điền Hậu Quan. Ông chủ này là một người Tây lai (bố Pháp, mẹ Việt). Bố ông ta là viên chủ đồn điền Bắc Nội (thuộc địa phận xã Bắc An ngày nay), một lần đi qua vùng Kẻ Sặt, thấy một cô gái đang móc cua bên bờ ruộng nhưng lại rất xinh đẹp, đã đem lòng yêu mến và tìm kiếm người mối lái lấy cô ta bằng được. Chính cô gái móc cua ấy sau này đã sinh ra ông chủ đồn điền Hậu Quan. Có lẽ phải đến sau cách mạng tháng Tám(1945), khi thành lập xã Chí Minh, thì cái tên Hậu Quan kia, theo quan điểm chính thống thời đó, nghe nặng chất “phong kiến, đế quốc” nên mới bị phế bỏ và thay bằng tên mới là Đồi Thông.
Làng Đồi Thông cũng hình thành hai khu dân cư (xóm) khá rõ rệt: xóm Đá Bia gồm chủ yếu là người họ Dương. Ở đây có đền thờ ông quan họ Dương đã có công lập ra làng Hậu Quan, nay đã thành nhà thờ tổ của dòng họ Dương thôn Đồi Thông, vốn là con cháu của ông; và xóm Núi, người dân đa phần có quê gốc bên Nam Sách vào làm phu đồn điền rồi sinh cơ lập nghiệp tại đây. Hai xóm dân cư đó chính là dấu tích của hai thời kỳ phát triển khác nhau của làng Hậu Quan : thời làng Hậu Quan và thời đồn Điền Hậu Quan.
Lúc ấy huyện Chí Linh còn là một vùng xa xôi và hẻo lánh lắm. Đi lại đò giang rất cách nhỡ. Phương tiện chủ yếu chỉ là xe đạp nhưng không phải giáo viên ai cũng có. Thành thử trong tâm thức của giáo viên trong tỉnh Hải Hưng lúc bấy giờ Chí Linh chính là vùng “Xi bê ri” của Hải Hưng. Về Chí Linh công tác vẫn còn là một nỗi khiếp đảm của không ít giáo viên trong tỉnh. Cũng năm 1968 ấy, tôi đã chứng kiến một cô giáo văn, từ Đại học Sư phạm Vinh ra, được phân công về Chí Linh, cô ấy ngồi khóc suốt. Mấy ngày sau thì nghe nói anh người yêu cô ấy, nghe nói đâu là một cán bộ giảng dạy đại học đã phải vội về “rước” đi ngay. Ấn tượng còn lại trong tôi là hình ảnh một cô gái nhỏ nhắn, trắng trẻo với những dòng lệ tràn trề trên gương mặt héo hắt. Nhưng công bằng mà nói việc đi lại về Chí Linh ngày ấy quả là đáng ngại. Một lần kia,một thày giáo trong tổ văn quê Hà Nội, ngày nghỉ về thăm nhà đã phải “cuốc bộ” ra Hải Dương để đi tầu về Hà Nội. Ai ngờ đi đến Bến Bình lại nhỡ đò không đi được. Không hiểu ông bạn ấy sau này phải vượt sông như thế nào nhưng sau về kẻ lại chuyện nhỡ đò với một thái độ đầy tức giận, thì tôi buồn cười quá bèn nhại mấy câu thơ của Bạch Cư Dị để trêu anh ta như sau:
Bến “Bất Bình” chiều thu đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Mình cuốc bộ, hắn ngừng chèo
Tức mình ông phải lộn lèo về Thiên
Thiên chính là tên phủ lỵ cũ của huyện Chí Linh, tồn tại trong khoảng thời gian từ 1889 đến 1946, cách Bến Bình (mà tôi nhại thành Bất Bình) khoảng 3 cây số.
Nhưng những “khiếp đảm” và “ngại ngùng” ấy đều không thể có đối với tôi, vì tôi là người trong huyện. Khi tôi về, Trường cấp 3 Chí Linh mới chỉ có tám hay chín lớp gì đó (nhớ không rõ lắm). Tốc độ phát triển như thế cũng là khá nhanh. Năm đầu mới thành lập trường mới chỉ có 3 lớp: 2 lớp 8 mới chuyển vào và 1 lớp “9 nhô” thu góp các học sinh đang học nhờ bên các huyện Đông Triều và Nam Sách về. Điều mới mẻ đối với tôi khi ấy là thấy nhà trường đã có hẳn một “khu tập thể giáo viên” ở ngay nơi sơ tán (bên trường Nam Sách tôi không thấy có). Đó là một khu nhà tranh vách đất làm tạm bợ trên một khu đất không rộng lắm, ở ngay cạnh đường làng và chân dốc Núi Con nên cũng khá ẩm thấp. Đa phần những giáo viên chân son mình rồi được bố trí ở đây. Tôi được nhận ở riêng một phòng, nhưng phòng rất nhỏ và chật, chỉ vừa đủ kê được một chiếc giường cá nhân và một chiếc bàn con dùng làm bàn viết. Tư trang của chúng tôi ngày đó sơ sài lắm nên cũng bớt cảm thấy chật chội. Mấy năm dạy ở bên Nam Sách, chúng tôi toàn phải trọ nhà dân ở nơi sơ tán, nay về đây, được ở nhà tập thể lại riêng một phòng nên tôi cảm thấy rất tự do thoải mái. Sống trong khu tập thể cũng mỗi thầy một cá tính riêng, cũng lỉnh kỉnh “nồi niêu soong chảo mắm muối tương cà...” như một gia đình. Một số thày khác tuy vẫn báo cơm tập thể nhưng lại có cải thiện thêm các món ăn tự nấu... Trong làm việc cũng vậy, có thày có vẻ rất nhàn tản, nhưng cũng có thày thì cặm cụi vất vả ngày đêm... Ngày ấy về sinh hoạt vật chất còn rất nhiều thiếu thốn: ăn còn đói, mặc chưa đẹp, thậm chí còn rách nữa, đi lại thì thiếu thốn phương tiện, chủ yếu là “cuốc bộ”. Những thư như đèn điện, nước máy thì không ai dám mơ tới. Điều kiện sinh hoạt tinh thần cũng rất sơ sài: trong khu tập thể, không thấy có báo chí gì; cũng không thấy ai có đài cá nhân. Duy nhất tôi thấy thày Chiêu có một cây đàn Ghi ta và thày Nghị thỉnh thoảng về Hà Nội lên lại mang theo một tập cắt dán những bài báo có liên quan đến bộ môn sinh vật của thày. Trong những tập “hồ sơ” ấy, tôi thấy có nhiều bài phổ biến khoa học kỹ thuật khá bổ ích và lý thú. Công việc chuyên môn thì còn khá nhẹ nhàng. Do trường còn ít lớp nên các môn học tự nhiên và các môn ít giờ khác còn khá nhàn rỗi. Nhiều thầy ngoài giờ lên lớp ra thấy rất ít làm việc. Có thầy thì “xuất ngoại” (hoặc đi chơi, hoặc đi chợ); có thầy thì tụ tập “chuyện gẫu”. Vì đa số các thày giáo còn rất trẻ, nên sôi nổi nhất vẫn là những cuộc “mạn đàm” về các cô gái. Đây thật sự là những buổi giới thiệu khá nhiều thông tin về các cô gái ở trong vùng...Nó vô tình trở thành những “hội nghị tư vấn” giúp cho các thày giáo trẻ “chưa có con trai, con gái” (chưa có đôi) phần nào có định hướng để đi “tìm người yêu”...
Năm học 1968-1969, năm đầu tiên về Chí Linh, tôi được phân công dạy văn 2 lớp 10 và làm chủ nhiệm lớp 10B. Đây chính là hai lớp 8 do nhà trường tuyển vào từ khi mới thành lập. Nếu không kể lớp “9 nhô” thì đây mới là “khóa 1” của nhà trường. Lúc mới tuyển vào sĩ số các lớp đều đủ theo quy định 55 hs/lớp. Nhưng ở thời chiến, cứ sau mỗi lần tuyển quân, lớp học lại vãn đi một ít. Khi tôi tiếp quản thì lớp 10B chỉ còn có 27 em, tức là đã vơi đi quá nửa. Lớp 10A do thày Nghị chủ nhiệm lại còn ít hơn thế. It vậy, nhưng tinh thần tập thể và nhiệt tình học tập của các em lại rất cao. Tôi cảm nhận được điều này qua những bài hát đồng ca của các em. Ngày ấy các em hay hát lắm và đặc biệt là hát đồng ca, hát cả lớp. Vào tiết học nào cũng hát và bất cứ buổi sinh hoạt tập thể nào cũng hát. Tôi còn nhớ buổi đầu tiên được thầy Vĩnh giới thiệu vào tiếp quản lớp 10B của thầy ở tại nhà cụ Trãi(ngay trước cửa khu tập thể giáo viên). Các em ngồi quây tròn cả ở trong nhà. Khi chúng tôi vừa bước vào đến cửa, thì một em nữ sinh, tóc phi rê, mặt tròn, người thấp béo, bắt giọng: “Rầm rập bước quân ta đi...”. Cả lớp lập tức đồng loạt hát theo, sôi nổi, hùng tráng và rất đồng đều. Như say theo tiếng hát, các em còn hát liên tiếp mấy bài liền. Tôi đã thật sự xúc động: những sợi tóc đằng sau gáy cứ như muốn dựng lên và ở trên khóe mắt thì lệ cứ như muốn ứa ra. Những bài hát của các em đã làm tôi nhớ lại buổi học chiều ngày 5 tháng 11 năm 1965. Hôm ấy lớp 8D của tôi đang học nhờ trong một căn nhà dân trong làng Đông Thôn xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách, thì máy bay Mỹ đến bắn phá cầu Lai Vu. Các cỡ súng phòng không của ta bắn lên giòn giã. Một lúc sau thì bỗng nghe những tiếng reo dậy đất “Cháy rồi! Cháy rồi!”. Thế là tự nhiên tất cả các em học sinh trong lớp đều bỏ lớp chạy ùa ra cả bìa làng xem, vẫn còn kịp nhìn thấy chiếc máy bay đang cháy và rơi xuống trong nắng chiều mùa đông. Tất cả mọi người đều phấn khích đến cực độ. Khi các em trở lại lớp học vì tinh thần các em quá phấn khích cũng không sao học lại được nữa. Thế là lại hát và bài “Không cho chúng nó thoát” tự nhiên cất lên. Các em hát rất to như muốn vỡ cả ồng ngực. Lời của bài hát ấy đến nay vẫn như còn văng vẳng bên tai tôi: Nghe tiếng súng oai hùng trừng phạt quân cướp Mỹ đang điên cuồng / Vui đón chiến công đầu từ biển khơi cho tới nơi biên phòng / Đồng lúa mênh mông dạt dào / Nhà máy khói bay đầy trời / Sức chúng ta làm ra bay đừng hòng đến cướp phá / Ta giăng lưới lửa trên trời / Ta giăng lưới thép ngoài khơi / Chắc tay súng / Bộ đội và dân quân sãn sàng / Không cho chúng nó thoát / Không cho chúng nó thoát / Chúng bay vào sẽ không có đường ra...”
Suốt buổi chiều hôm đó, cả lớp chỉ hát đi hát lại một bài đó thôi mà say sưa không dứt. Càng hát càng cảm thấy tâm hồn mình phấn khích, lâng lâng, bồng bềnh mây gió. Ở Nam Sách cũng như ở Chí Linh tôi đều có chung một cảm nhận rằng thế hệ học sinh ngày đó còn rất có tâm hồn. Dạy văn với các em tôi còn cảm thấy rất hào hứng, bởi các em còn tỏ ra rất nhạy cảm với những vẻ đẹp của văn chương. Trong những giờ học văn các em đều hết sức chăm chú và đồng cảm được với không khí tác phẩm văn học. Dạy đến những tác phẩm như Truyện Kiều, Chí Phèo, Thép đã tôi thế đấy...Thì các em say sưa đến mức đã nghe tiếng trống hết giờ (gần 12 giờ trưa) mà các em vẫn không muốn rời lớp cứ đề nghị thày giảng tiếp. Chính điều ấy là nguồn cổ vũ vô cùng lớn lao và sâu sắc đối với tôi. Trong cuộc đời dạy học của mình, tôi vẫn coi đây là một điều may mắn lớn. Nhất là sau này, có một thời gian tôi đi dạy hợp đồng trở lại, thấy học sinh quá lộn xộn và thờ ơ với văn chương thì tôi càng thêm quý lớp học sinh ngày trước.
Ngay từ những năm đó, ở Trường cấp 3 Chí Linh cũng đã có phong trào “luyện thi”. Ban ngày các phòng học đều chật cứng cả hai ca sáng- chiều, mà các thày thì quá lo lắng cho kết quả học tập của học sinh, nên ngay giữa những ngày chiến tranh phá họai, máy bay Mỹ bắn phá như thế, nhà trường vẫn cứ tổ chức “luyện thi” vào ban đêm. Hàng năm, cứ sau ngày Bộ thông báo môn thi là phiên họp Hội đồng tháng ấy lại bàn bạc và lên lịch “luyện thi”. Thường thì vẫn bố trí cho mỗi môn thi tốt nghiệp học thêm một buổi tối. Trong những buổi học thêm gọi là “luyện thi” ấy, các thày phải lên lớp vừa quản lý vừa hướng dẫn học sinh ôn tập bộ môn của mình. Riêng tôi thường làm theo cách sau: đầu giờ nêu nội dung và yêu cầu ôn tập của buổi, rồi để học sinh tự học. Tôi giành khoảng 30 phút cuối để kiểm tra “chốt hậu” , rồi dựa vào những câu trả lời cụ thể của học sinh mà uốn nắn bổ sung. Những mùa thi thời ấy thường gắn bó với ngọn đèn dầu. Tối tối những ngọn đèn dầu từ các ngõ xóm lại tốp năm tốp ba tụ về lớp học và khuya khuya những ngọn đèn dầu ấy lại lung linh bồng bềnh tỏa về các ngõ xóm. Hình ảnh những ngọn đèn dầu ấy lưu giữ trong ký ức của tôi một ấn tượng vừa ấm áp mà lại vừa huyền hoặc, ám ảnh khó quên.
Cuối năm 1968, Giôn xơn tuyên bố ngừng “leo thang” miền Bắc, nhưng trường cấp 3 Chí Linh vẫn ở Đồi Thông. Mãi đến đầu năm 1970, thày trò mới khênh khênh vác vác chuyển trường về Sao Đỏ. Nhà “hai tầng” mới bắt đầu khởi công. Khu “trường lá” đặt ở khu vườn vải bây giờ, gồm ba ngôi, bẩy phòng, bố trí theo lối “gọng bừa” khá gọn gàng chuông chắn. Năm 1972, Ních sơn lại giở trò bắn phá miền Bắc. Nhà trường lại phải sơ tán lần thứ hai. Các lớp học lại phải làm rải rác và tản sâu vào trong rừng Sao Đỏ. “Những ngôi trường lá ven đồi / Bạch đàn kín mái tiếng cười đầy sân”(Nhớ rừng Sao Đỏ) là những câu thơ tôi viết về những lớp học sơ tán trong rừng lần thứ hai ấy.

Chí Linh 22/9/2006
Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011

CHUYỆN BẠN BÈ TÔI

1- HẬU VỆ, LÍNH TĂNG, SĨ QUAN, BÍ THƯ... VÀ THƯỜNG DÂN- 2

Gặp nhau rồi, còn một chuyện làm tôi ngớ ra là hắn đã cưới vợ, lại là N.- một hoa khôi của lớp C mới ác chứ. Thực ra, ở lớp này hồi cuối cấp 3 cũng đã có một số đôi có tình ý với nhau, nhưng giữa hắn với N. có thấy biểu hiện gì đâu. Vợ hắn thì cũng chẳng có gì xa lạ với tôi, tôi còn biết N. từ hồi cấp 2 cơ vì năm lớp 6, huyện CL tập trung đội tuyển Toán để bồi dưỡng đi thi tỉnh. Có 10 đứa tất cả, trong đó có nhõn một đứa con gái là cái N.. N. cao ráo, có gương mặt khá xinh, lại học giỏi nên đã lọt vào mắt xanh của khối anh, thậm chí là cả một số thày giáo trẻ chưa vợ nữa (sau này, khi gặp lại nhau, một thày giáo ở HN đã công nhận điều đó). Thế mà không hiểu do duyên số hay cái gì đó lại rơi vào tay cái thằng cả ngày chẳng nói một câu này. Đúng là “mèo mù vớ cá rán”. Lúc đó, N. đang học năm cuối của ĐH Nông nghiệp, khoa Thú y.

Rồi thì mấy tháng sau tôi mới được gặp N.. Y thị đang làm luận văn tốt nghiệp nên được nghỉ. Và thế là thị bê tất cả tài liệu lên chiêu đãi sở của Trường SQTG để tác nghiệp. Lại đang có chửa đứa con đầu nữa chứ, bụng to vượt mặt trông tất tả lắm. Dạo ấy, hắn đang khá bận nên hắn nhờ tôi ra kẻ vẽ giúp các thứ bảng biểu phục vụ cho việc bảo vệ LV của N.. Thế là tôi phải bò ra mất mấy ngày mới hoàn chỉnh được hơn chục bảng kẻ cho vợ hắn. N. còn bắt tôi đọc và sửa luận văn hộ. Khổ, mình có chuyên môn quái gì về cái món chăn nuôi thú ý này đâu. Nhưng rồi nể bạn, tôi cũng đọc và sửa cho hắn được ít lỗi chính tả. Tháng sau, N. bảo vệ thành công LA tốt nghiệp. Tháng sau nữa thì tòi ra một thằng cu. Vợ chồng hắn đặt tên con là Nam để kỷ niệm những ngày hắn chinh chiến ở CT miền Nam. Sau đó, N. được phân về Trại giống ở Chí Linh. Chồng sĩ quan, vợ kỹ sư công tác tại quê nhà. Cuộc đời hắn nghe chừng khá viên mãn.

Nhưng rồi sự ổn định ấy cũng không được lâu. Quãng cuối năm 76, đầu năm 77, hắn được điều đi “tăng cường cấp huyện” tận miền Nam. Đây là một chủ trương lớn của Nhà nước hồi ấy- đưa sĩ quan QĐ tăng cường cho chính quyền các vùng mới giải phóng. Chẳng biết người ta căn cứ vào cái gì mà lại điều hắn đi về Phòng Thủy lợi huyện Cần Đước, Long An. Chúng tôi chia tay nhau khá bịn rịn.

Tôi thì không biết những ngày công tác tại đó hắn có làm được việc gì ra hồn không, chỉ biết riêng về uống rượu thì hắn “lên mồm” khiếp. Hồi ở TSQ, hắn bị đau dạ dày, có liên hoan gì đó cũng chỉ dám cầm chén rượu lên nhấp môi rồi đặt xuống. Thế mà, chỉ sau 1 năm đi tăng cường cấp huyện về quê gặp nhau, hắn uống như hũ chìm. Kể ra, thành tích đi tăng cường thế này cũng là lớn đấy chứ.

Ngồi nói chuyện với nhau, tôi tỷ mẩn hỏi: “Thế ở trong ấy, mày làm những việc gì”. Hắn cười: “Thì chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các xã làm TL chứ còn làm gì nữa”. Tôi bảo: “Mày thì biết quái gì mà chỉ đạo với hướng dẫn”. Hắn lại cười khùng khục: “Thì đúng như thế. Mình có học gì về món đó đâu. Nhưng mà phải có võ. Cứ xuống một xã làm tốt, bảo họ báo cáo thật tỷ mỷ, cụ thể. Thế là mình nắm được những điểm chính rồi từ đó mà mô- li- phê ra mà chỉ đạo xã khác”. Thì ra là thế.

Nhưng rồi cái sự nghiệp của anh cán bộ Thủy lợi huyện cũng chẳng được dài lâu. Năm 77, bọn Pôn Pốt đánh các tỉnh BGTN của ta. Những năm tiếp theo, chiến tranh BGTN ngày càng dữ dội, các cán bộ đi tăng cường cấp huyện lại được rút về đội ngũ. Hắn được điều về tỉnh đội Tây Ninh.

Tuy nhiên, lần này thì “cóc đã mở miệng”. Hắn cùng một số đồng đội lên tận BCHQS tỉnh và BTL quân khu có ý kiến: “nếu gọi về QĐ thì phải điều về đơn vị cũ. Còn nếu điều về tỉnh đội thì chắc chắn sẽ không hoàn thành nhiệm vụ”. Cùng với hắn còn khá đông anh em ở các QBC khác cũng có ý kiến như vậy. Chắc là vì thế nên đùng một cái, hắn được đưa về học chỉ huy bay ở Tân Sơn Nhất.

Thông minh, có văn hóa, lại đã ở lính xe tăng, được học SQXT nên trong khóa đào tạo đó, hắn tỏ ra xuất sắc nhất. Vì vậy, sau khi mãn khóa, trong khi các đồng đội bị điều đi các sân bay nhỏ lẻ như Trà Nóc, Thành Sơn v.v… thì hắn lại được ở lại TSN mới oách chứ. Xem ra, cái vị trí này cũng có tương lai bởi sân bay TSN lúc đó cũng đã khá sầm uất, nếu làm tốt thì vừa có thu nhập khá, lại có cơ hội phát triển. Cái gì chứ trước mắt là nếu được đi tranh thủ có thể đi nhờ máy bay được. Thực tế là đã có 2- 3 lần hắn đi nhờ máy bay QS về Gia Lâm.

Nhưng sự đời không đơn giản như vậy. Tình hình kinh tế nước nhà đi vào giai đoạn khó khăn. Vợ hắn ở nhà một nách con thơ, một nách mẹ già, lại còn việc cơ quan nên khá vất vả, đồng lương lại eo hẹp. Hắn thì khá hơn nhưng lại ở xa, tích cóp lương cả năm chỉ dồn cho một chuyến đi phép là hết (mặc dù thường là được đi nhờ máy bay quân sự). Thế là bài toán hợp lý hóa gia đình được đặt ra một cách quyết liệt: “Hoặc là hắn phải về với vợ, hoặc là vợ hắn phải vào Nam với hắn”.

Gặp nhau, hắn cũng cho tôi biết tình hình và tham khảo ý kiến. Với tôi, tôi ủng hộ phương án 1- N. phải vào Nam với hắn. Có mấy căn cứ để tôi nghiêng về phương án này: Một là, hắn ở ngành HK, lại ở TSN nên rất có tương lai. Hai là, miền Nam đang rất thiếu cán bộ có chuyên môn nên vợ hắn vào sẽ xin việc dễ dàng. Mà đúng là như vậy thật, hắn mới sơ bộ liên hệ mà một trường ĐH Nông lâm trong đó đã đồng ý nhận vào làm cán bộ giảng dạy ngay. Bản thân hắn cũng thấy đó là hợp lý, vợ hắn cũng xuôi xuôi. Tưởng mọi việc sẽ thuận rồi song lại gặp một lực cản khác: Đó chính là bà mẹ già của hắn. Bà quyết không rời khỏi quê hương, bản quán. Nhà có hai anh em, anh lớn đã hy sinh ở chiến trường miền Nam, chưa biết nằm ở đâu. Mẹ thì già yếu, còn hắn là con trai duy nhất không lẽ bỏ đi cho sướng thân mình. Và thế là sự việc quay ngoắt đi 180 độ, hắn quyết định xin phục viên về quê.

Thật tình là tôi tiếc cho cái quyết định ấy của hắn. Nếu hắn ở lại TSN và đưa vợ vào thì cuộc đời hắn chắc sẽ đỡ lầm than hơn. Nhưng mà ai biết trước được mọi việc. Biết đâu rồi vào đó lại khổ hơn.

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Trân trọng đón chào nhà thơ Song Thu nhập cư "Xóm Tri Ân"


Nhà thơ SONG THU đã mang về xóm TRI ÂN một CÂY DỨA ÔNG rất đẹp .THANH DẠ tôi xin góp vài cây nữa để cùng mọi người lập một vườn cây cảnh của xóm:

1. CÂY XƯƠNG RỒNG:


Cây cành gai góc,cong queo
Rễ bền trong chậu đất nghèo bao năm
Không chờ vun xới,bón chăm
Mùa nào cây cũng trổ mầm,đơm hoa
Vô tình nào có nhận ra
Hình hài Linh-vật ông cha tôn thờ !

2- CÂY XANH:



Lá xanh -xanh đậm sắc trời
Rễ chằng chịt rễ,neo nơi đất lành
Đông tàn lá vẫn tươi xanh
Bão giông vẫn vững như thành
người ơi ...!

LAN MAN CHUYỆN LÀNG TÔI
Đỗ Đình Tuân
Phần bảy

Trại Hai Tô

Mẹ tôi mất được chừng hơn năm thì làng tôi cùng với làng Dâu, Nam Gián Đông và Nam Gián Đoài bị dồn dân lên trại Hai Tô. Ngày nào bọn sếp Tây và lính Bảo Hoàng cũng xuống các làng để đốc thúc việc dỡ nhà, chặt tre lên lập khu làng mới. Một buổi sáng, tôi thấy một tên sếp tây cao cao gầy gầy, mặc quần soóc, áo cộc tay, súng lục trễ ngang hông dẫn lính xuống làng từ khá sớm. Bọn lính ngụy thì đi lùng sục nhốn nháo khắp nơi. Thỉnh thoảng lại nghe một tiếng súng nổ. Chúng bẻ mía, vặt bưởi…và vừa đi, vừa nhồm nhoàm ăn. Tên sếp tây và viên thông ngôn đi theo thì không. Hắn đi vào từng nhà. Bố tôi thấy hắn vào thì chân tay run run, mặt mày tái mét, đứng chắp tay , miệng lẩm bẩm “Lạy quan lớn, lạy quan lớn…!”. Hắn nói xì xồ một câu gì đó bằng tiếng Pháp, viên thông ngôn dịch ra: “ Quan lớn lệnh phải lập tức dỡ nhà ngay!”. Thế là bố tôi phải đi dỡ nhà. Hai gian nhà làm từ hồi ở trên ngọn Sông Đào về đến hôm nay lại phải dỡ ra để mang lên trại Hai Tô. Khi quay ra, hắn thấy tôi, hắn vừa xoa đầu tôi vừa nói bằng tiếng Việt, giọng lơ lớ: “ Ê…tí nhau…tí nhau…”. Rồi hắn vẫy mấy tên lính ngụy, ra hiệu bảo “cho tí nhau ăn với”. Một tên lính ngụy đưa cho tôi tẫm mía hắn đang tước vỏ ở trên miệng và một tên khác thì đưa cho tôi mấy múi bưởi. Hôm ấy, nhà nào đi vắng mà đóng cửa thì hắn cho quân lính đập phá cửa ra. Hắn còn cho quân lính ra đồng ách mọi việc làm đồng lại để về thực hiện lệnh dỡ nhà, dồn làng. Từ hôm đó, làng tôi và mấy làng lân cận tíu tít việc dỡ nhà, vác cây que, gồng gánh đồ đạc lên làm ở khu làng mới trên trại Hai Tô.
Hai Tô là tên một điền chủ người làng Dâu (tên chữ là làng Cổ Châu Thượng). Nhưng ông ta không ở làng mà lập một mình một trại ở giữa cánh đồng, cách Phả Lại chừng hai cây số về phía đông nam theo đường chim bay. Thực ra dinh cơ này được xây dựng từ thời bố ông Hai Tô tức là cụ Hai Tiến. Khác hẳn với những điền chủ ở trong vùng như cụ Tổng Liêu (Nam Gián Đoài), Cụ Hậu Thang (Cổ Châu Hạ) thường xây tư dinh kín cổng cao tường ở giữa làng, ông Hai Tiến, dựa vào thế của một ông anh làm quan hai đóng trên đồn Phả Lại, và tiếp thu lối xây dựng điền trang của người Pháp, đã xây dựng trang trại ở giữa cánh đồng. Ông khoanh vùng ruộng đất của mình bằng hệ thống bờ cao, gần giống như kiểu ở đồn điền Hậu Quan của một ông chủ Pháp. Dinh cơ của ông gồm có một tòa nhà gác hai tầng và hàng chục gian nhà ngói vừa làm kho tàng, vừa là nơi ở cho những người làm thuê…Để bảo vệ trang trại, gia đình ông trang bị mấy khẩu súng săn và nuôi một đàn chó rất dữ. Đàn chó này, có thời, đã là một nỗi khiếp sợ của những người nông dân làm ruộng xung quanh. Không ít người đã tìm cách bán lại ruộng đất cho ông để đi mua nơi khác. Nhưng người ta càng muốn lảng xa ông thì trang trại của ông lại càng mở rộng.
Ông Hai Tô chỉ là người kế thừa thuộc thế hệ thứ hai. Người ông ta cao ráo, trắng trẻo, cũng tầm tuổi bố tôi hoặc hơn chút ít. Ông ta có hai vợ. Bà vợ đầu chỉ sinh được một con trai. Còn bà vợ hai thì vừa mắn đẻ lại đẻ nhiều. Bà sinh hạ cho ông chẵn chục người con cả trai lẫn gái. Trong số đó có hai người Nguyễn Văn Toản và Nguyễn Văn Thao là bạn học cũ của tôi từ thời tiểu học. Nguyễn Văn Toản người thấp bé nhẹ nhàng chắc là giống mẹ. Còn Nguyễn văn Thao dáng cao lớn hao hao như bố nhưng mặt bị rỗ nhằng rỗ nhịt, hậu quả của bệnh dịch đậu mùa năm 1947. Tính Thao láu táu và hơi hiếu thắng. Tranh cãi với hắn điều gì thì hắn vung tay vung chân cãi lại rất hăng. Người con gái lớn-nhưng là đốt thứ tư của bà hai-sau này trở thành em dâu cháu chú cháu bác với tôi. Thím ấy hơn tôi hai tuổi, người nhỏ nhắn, tính dịu dàng nhẫn nhịn, nói năng lại nhỏ nhẹ nên trong họ, ngoài làng ai cũng khen là một nàng dâu thảo. Có điều suốt trong thời chiến tranh chống Mỹ, chồng biền biệt trong chiến trường xa, mình thím ấy ở nhà nuôi mẹ già, con thơ nên kinh tế gia đình lúc nào cũng bần bách. Ngoài theo công điểm với hợp tác xã, thím ấy cứ phải xoay xỏa tìm việc làm thêm. Giữa thời người ta cấm đoán mọi chuyện làm ăn buôn bán tư nhân, thím ấy vẫn tìm ra một nghề cũng khá khôn ngoan: buôn chuối. Cứ mua chuối xanh của người ta về đem dấm chín rồi lại gánh ra chợ bán, xem như là bán của nhà. Dần dà thành quen, thành “phân công lao động động xã hội”. Ai có chuối cũng cứ gọi đến thím. Và thím ấy cũng tự nhiên thành một bà “nái chuối” chuyên nghiệp. Tôi là người ít về làng, càng ít có dịp về qua nhà thím, nên lần nào thấy anh, là thím ấy cũng cứ khoắn khỏa mời cho bằng được. Lần nào vào cũng thấy trong một góc nhà lỏng chỏng ngổn ngang bày la liệt những nải chuối, chín có, xanh có. Lần gần đây nhất vẫn thế. Tôi hỏi: “Thế thím vẫn còn làm nghề này hay sao?”. Thím ấy trả lời: “ Vâng, em vẫn làm đấy bác ạ. Cứ ai gọi bán thì em lại mua”. Tôi hỏi thăm về Toản, về Thao, hai người bạn học cũ chưa từng gặp lại và được biết Toản bây giờ lập nghiệp mãi trên Lục Ngạn, còn Thao thì đã hy sinh từ năm 1972.
Ông Hai Tô là người chơi súng săn và cũng rất hay khoác súng xuống đồng làng tôi săn bắn. Ngày ấy chim chóc còn nhiều. Ở những cánh đồng trũng thỉnh thoảng vẫn có những đàn vịt giời, vịt le… đông đúc xà xuống kiếm ăn. Ông thường tìm cách tiếp cận những đàn chim ấy. Khi đã vừa tầm bắn, ông thường nổ liền hai phát súng. Phát thứ nhất nhằm vào đàn chim đang bơi. Phát thứ hai nhằm vào đàn chim khi vừa cất cánh. Đạn là đạn ghém. Mỗi viên có hàng trăm mảnh chì, mảnh gang nhỏ nhôi ở bên trong. Chùm sát thương của mỗi viên rộng như cái sàng, cái nia ấy.Cho nên chỉ với hai phát đạn, ông đã có một xách nặng “chiến lợi phẩm” đem về. Nhưng người ta thán phục ông hơn cả là về cái việc ông đã bắt sống được chim bồ nông mà người vùng tôi hay gọi là chim lềnh đềnh. Bồ nông là một loài chim to khỏe, thường đi ăn lẻ từng con một, rất ít khi thấy đi ăn đôi. Ở làng Vĩnh Trụ có một cặp vợ chồng nhà nọ khênh đôi lợn sang bán bên chợ Rồng (Nam Sách). Tiền đút cả vào ruột tượng. Non Trưa về đến đồng làng thấy một con bồ nông ai bắn bị thương cứ chập choạng định bay lên mà không bay được, liền chạy ra vồ. Vồ được, nhưng lại không kiếm đâu ra dây trói, bèn lấy luôn cái ruột tượng trói chân nó lại rồi treo lên đầu đòn gánh mếch ở sau lưng. Đi được một quãng thì chim bồ nông bất đồ lại vỗ cánh bay lên, tha luôn cả cái ruột tượng đi theo. Người đàn ông chưng hửng, buột miệng: “ Ôi thôi...! Thế là toi…!”. Còn người đàn bà thì tiếc của quá, vừa dậm chân vừa kêu khóc: “ Ới làng nước ơi, chim bồ nông nó tha mất đôi lợn của tôi rồi, giời đất ơi…!”. Còn có một người làng Chin thấy một con bồ nông ăn rất gan ở gần ruộng nhà mình thì nghĩ bụng “chắc là bắt sống được”. Thế là ông ta lội xuống đội bèo, giả vờ làm một đám bèo trôi tiến lại gần chim bồ nông. Con chim bồ nông cũng từ từ bơi lại, đang định đưa cái mỏ to như cổ tay, quăm quắm nhọn như múi giáo bổ xuống đám bèo thì ông ta sợ quá bèn đứng òa lên ù té chạy. Con bồ nông cũng hoảng quá, quay ngoắt ngay lại vừa kêu quang quác vừa chạy xé nước một đoạn dài rồi mới cất cánh lên được. Thế là người sợ chim, chim sợ người, hai bên cùng chạy. Nhưng ông Hai Tô thì không thế. Ông cũng đội bèo tiến lại gần chim bồ nông. Rồi ông túm cẳng chim bồ nông, kéo nó xuống nước, quần nhau với nó ở dưới nước, vặn cổ, bẻ cánh nó cho đến khi bồ nông đuối sức ông mới cầm cẳng xách lên. Lúc ấy thì bồ nông không thể bay, cũng không thể mổ lại ông được nữa.
Cái trại Hai Tô một mình chơ vơ giữa cánh đồng, vừa ngang tàng vừa thách thức thế, mà lại rất an toàn. Trước cách mạng tháng Tám 1945, hầu hết các nhà giầu kín cổng cao tường ở giữa làng giữa xóm lại rất hay bị bọn giặc cướp đến “hỏi thăm”. Riêng trại Hai Tô thì không dám. Đơn giản vì một lẽ giặc cướp không thể tiếp cận được. Đến thời kỳ “Tiêu thổ kháng chiến”, cả thị trấn Phả lại đều bị phá, dinh cơ Cụ Hậu làng tôi cũng bị phá. Riêng trại Hai Tô thì vẫn cứ nguyên vẹn. Lý do đơn giản cũng chỉ vì nó chơ vơ trống trải, không có dân, lại gần đồn Phả Lại nên Tây cũng chẳng xuống đó đóng làm gì. Mà Tây không đóng thì ta cũng chẳng phí công, phí sức mà đi phá. Với lại gần đồn Tây thế phá bằng cách nào để không lộ được? Mãi đến năm 1949, người Tây mới nẩy ra cái ý tưởng xây dựng nơi đây thành một trại tập trung. Dinh cơ của ông hai Tô cũ nay thành nơi để cho sếp Tây và lính ngụy đóng đồn. Đằng sau đồn để một bãi đất rộng làm nơi tập tành cho nghĩa dũng, nơi tập trung dân chúng mỗi khi có “quan lớn” về hiểu dụ. Chúng tôi có được dự một lần quan Tây về hiểu dụ, sau đó phát thuốc và chủng đậu cho bọn trẻ con chúng tôi. Có đâu hai cái bàn phủ ga trắng. Trên bàn để khay, panh, kéo, kim tiêm, bông băng, thuốc đỏ…Bọn trẻ con chúng tôi đứa nào cũng vén ống tay lên đến tận vai, xúm xít xung quanh chờ đến lượt chủng đậu. Đồn binh và khu đất rộng ấy là trung tâm của trại tập trung. Bốn góc đồn là dân của bốn làng bị dồn lên đây ở. Vây kín bốn xung quanh trại tập trung là hai lớp rào chéo mắt cáo bằng tre, bằng nứa. Mỗi làng có một cổng đi riêng. Rào hai lớp nên cổng cũng có hai cổng: cổng trong và cổng ngoài. Cổng cũng là cổng tre, có một cán cổng ở giữa. khi mở thì chống cổng lên, khi đóng thì hạ cổng xuống, kéo cán cổng vào phía trong. Cuối cán cổng đục một lỗ tròn để lùa con sỏ chốt chặt vào với cọc chốt cổng. Bên cạnh cổng trong làng nào cũng có ba gian điếm canh. Làng tôi ở góc phía tây nam đồn. Cổng hướng về phía làng Phao Tân. Nhà tôi ở ngay cạnh điếm canh của làng. Bố tôi làm chỉ có một gian và mở cửa dọc nhìn ra phía nhà thờ Tu Linh. Lý do phải mở cửa dọc chỉ là vì nhà làm tạm bợ, vội vàng, chân tường và bức vách để thấp nên không đủ độ cao mở cửa ngang được.
Dân sống trong trại tâp trung này gặp rất nhiều phiền toái. Thứ nhất là đi làm đồng rất xa. Từ trại Hai Tô về làng tôi phải đi bộ đến ba cây số. Thời gian đi lại mất nhiều, chưa kể buổi chiều lại phải về sớm để kịp giờ “đóng cổng trại”. Đó là lý do nhiều đàn ông làng tôi cứ trốn trại ở lại làng. Có lẽ biết vậy nên đêm nào móoc chiê (đạn cối) trên đồn Phả Lại cũng cầm canh bắn xuống các làng. Ở trong trại Hai Tô tối tối chúng tôi vẫn thường nghe thấy tiếng đạn bay rè rè qua đầu, rồi lâu lâu mới nghe tiếng ình ình ở dưới làng xa. Cũng đôi lần tôi về làng. Cảnh làng hoang vắng và trống trải lắm. Những bụi tre làng bị đạn moóc chiê vặn tơi tướp rũ rượi cả xuống đường làng. Những sân gạch bị trúng đạn vỡ tung tóe lên thành những hố sâu. Hai cây táo sau chùa quả sai lủng liểng mà không có người vặt. Cây táo xoan cao lắm tôi không dám trèo. Chỉ có cây táo bột, thân nó nghiêng nghiêng ngả ngả tôi mới dám trèo lên hái vội mấy chùm thâm thấp quả sai lúc lỉu. Những quả táo tròn to bắng cái chén hạt mít, đã chín trắng, bỏ vào miệng ăn những bột là bột…Xóm tôi, tôi chỉ biết có bác Trương Hương là ở nhà thôi. Bác biến cái ụ tròn tròn, trước đây vẫn để bục thóc lên trên, thành nhà ở kiêm luôn hầm trú ẩn. Bốn xung quanh là tường đất đắp dầy. Bên trong là một “tăng xê” đặt vừa một cái chõng tre và một khoảng trống con con để đồ vặt: đèn, điếu, ấm nước…Có hai cửa tò vò thông nhau để ra vào, lên xuống cho tiện. Bên trên hầm nhà được chát kín bằng bùn rơm. Trên lớp bùn rơm, bác vẫn đội cho nó một “cái nón” to bằng cái nong, khung tre, lợp rạ để tránh thấm nước xuống hầm nhà. Đó là một ngôi nhà tròn duy nhất tôi thấy ở làng tôi. Ngôi nhà tròn này tồn tại khá lâu. Mãi đến năm 1958, nó còn được tu sửa chỉnh trang để làm “phòng hạnh phúc” cho vợ chồng bác Thi. Bác Thi tuy lấy vợ sớm, từ năm 1953, nhưng sau đó “bác giai” đi thanh niên xung phong mở đường vào chiến dịch Điện Biên. Đến năm 1958 thì xin phục viên và hai vợ chồng mới “tái tân hôn” trong cái ngôi nhà tròn độc đáo này.
Bất tiện thư hai là thiếu nước. Trước đây ở làng chỉ vài bước chân là ra đến cầu ao. Nay lên ở trại chơ vơ giữa cánh đồng khô hanh không kiếm đâu ra nước. Chiều nào bố tôi cũng phải dắt tôi đi hàng cây số ngược lên đến gần làng Phao Tân mới có ao, có ngòi để rửa ráy và gánh nước về ăn. Bố tôi gánh nước bằng hai cái ang sành nhũng nhẵng đi trước. Tôi thất thểu theo sau. Những buổi chiều mùa đông hanh heo và sương giá. Chân tôi mỏi rời mỏi rã mà những vết nẻ răm, nẻ miếng trên mu bàn chân, đằng sau gót chân, thấm lạnh, thấm nước lại càng lốt nhốt đau. Vậy mà nhiều khi tôi vẫn phải chạy gằn theo bố để kịp giờ về trại. Bởi ở trại, chiều nào lính ngụy và nghĩa dũng trong đồn cũng ra điếm canh. Đầu tiên họ dóng một hồi kẻng báo rõ dài. Ý muốn nhắc nhở mọi người ai chưa vào trại thì hãy khẩn trương. Đến giờ thì họ sập cổng xuống. Ở cổng ngoài họ còn gắn thêm một quả mìn muỗi.
Buổi tối ở trên trại buồn lắm. Trẻ con không có chỗ tập trung để nô đùa như ở dưới làng. Nhà tôi lại làm độc lập ở gần điếm canh và nhìn đi một hướng. Các nhà khác thường làm thành dãy và nhìn cả về khu trung tâm. Hàng xóm gần gũi với nhà tôi chỉ có hai nhà là gia đình bà Ngọc và gia đình ông Trương Tự. Nhà họ làm ngay đằng sau nhà tôi và cùng hướng với nhà tôi. Nhưng hai nhà ấy đều không có trẻ con. Gia đình bà Ngọc chỉ còn bà và hai người con lớn là anh Ngà và cô Khiêm. Cô Khiêm đã đi lấy chồng nhưng chê chồng nên lại về nhà ở. Anh Ngà thì nghe đồn đâu đang “mê” chị Ái, con gái thứ hai bác Lý Tín nhà tôi. Ban ngày, tôi chẳng thấy mặt họ đâu. Nhưng buổi tối thì thỉnh thoảng tôi cũng bắt gặp họ đứng với nhau ở đầu nhà. Hai người đứng đối diện nhau, tay vân vê như đang mân mó một vật gì, miệng lầm rầm nói chuyện và thỉnh thoảng thì lại khúc khích cười. Còn bà Ngọc thì người làng tôi mệnh danh cho bà là Bà Vú, bởi vì bà chuyên đi đỡ đẻ giúp cho mọi người trong làng. Không có ca đẻ nào bình thường ở làng mà lại không phải gọi đến bà. Cho nên cái danh hiệu “Bà Vú” mà người làng tôi phong tặng cho bà gói ghém cả lòng quý mến và biết ơn. Hàng năm, cứ đến tết “ Ông thày, bà cốt” (mồng 5 tháng 5 âm lịch) là người làng tôi kẻ ít người nhiều đều có một chút quà nhỏ: cân đường, cân mứt, cân cam, nải quả hoặc con gà…đến biếu Bà Vú.
Gia đình ông Trương Tự cũng chỉ có ba người: hai ông bà và người con trai út tên là Sơ. Anh Sơ chỉ hơn tôi vài tuổi nhưng tôi cũng chẳng thấy mặt mũi anh đâu. Ông Trương Tự thì đang đau bệnh nặng. Ông mắc căn bệnh gọi là “Lên đầu gối ông voi”. Hai đầu gối cứ sưng to lên và một thời gian sau thì ông mất. Bà Trương Tự người thấp đậm và lặng lẽ như một cái bóng. Tôi không thấy bà ấy cười nói bao giờ. Bà ấy thường mặc một cái váy đụp rất lôi thôi và cũ kỹ, cái áo cánh nâu cũng đã bạc trắng, đội cái nón chóp che gần như kín mặt, quảy đôi quang sọt lên Phả Lại nhặt phân. Ai mua thì bà ấy lại gánh ra tận ruộng vãi cho. Ngày ấy chưa phổ biến dùng phân hóa học như bây giờ. Chỉ dùng phân chuồng (phân trâu, phân lợn trộn với mùn rác độn chuồng lợn) là chính. Phân bắc (phân người) đã được xem là “thức ăn cao cấp” của lúa rồi. Các lão nông làng tôi đánh giá cao phân bắc lắm. Họ bảo: “Dùng cái anh phân bắc này, vụ sau làm đất tuy có nặng tay một chút nhưng tốt bền và chắc hạt”. Họ cũng truyền tụng nhau một câu chuyện rằng các ông chủ Pháp ngày trước cũng quý cái món này. Có những thương lái đã đi mua gom từng thuyền đầy phân bắc về để bán lại cho người Pháp. Những ông chủ Pháp thường ăn mặc rất lịch sự: com lê trắng, mũ phớt trắng. Ấy vậy mà sẵn sàng sắn ống tay áo lên, thục ngay xuống thuyền phân bới lộn lên xem có lẫn giấy, lẫn giẻ hay không. Mua về, họ đem trộn thêm với đất thó, cán mỏng ra đem phơi khô rồi mới đóng bao đem về tận bên Pháp để trồng trọt.
Thời ấy “Nền văn minh toa lét” còn nằm mãi bên Tây. Người Việt Nam còn đang tôn thờ “Chủ nghĩa ỉa đồng”: “ Thứ nhất quận công, Thứ nhì ỉa đồng” kia mà. Ngồi chuồng do vừa bẩn vừa thối, mũi cứ phải chun lại đến ngạt thở. Còn ngồi ngoài đồng, chao ôi là thoáng mát, chẳng có con ruồi con nhặng nào vo ve quấy nhiễu, bao nhiêu thứ mùi khó chịu lại nhờ gió xua đi cả. Ai cũng nghĩ vậy thôi, chứ thật ra ở những cánh đồng, bãi đất dìa phố chợ hoặc bên trại lính, giấy lộn vứt ngổn ngang, phân người cũng nằm ngồi la liệt. Ruồi nhặng và ròi bọ cũng tởm lợm lắm. Nhưng đó lại là nguồn nguyên liệu cho bà Trương Tự khai thác. Sáng bà đi là trưa về có một gánh. Quá trưa bà đi thì chiều về lại thêm gánh nữa. Tôi thấy ngày nào bà ấy cũng lầm lũi và kiên nhẫn làm như thế.
Không biết ai loan tin, nhưng có một buổi chiều, người làng tôi nhốn nháo ra cổng trại để xem quân Tầu Tưởng chạy loạn. Chúng tôi cũng theo ra. Nhìn lên đường 17, chỉ thấy lố nhố một đoàn quân đi. Bắt đầu xuất hiện từ Phả Lại rồi cứ kéo dài dần ra. Đường đê thì cao, nền trời thì trắng, từ xa nhìn lên tôi chỉ thấy những bóng người đen đen lầm lũi nối đuôi nhau, dài mãi, dài mãi…Lúc ấy tôi chưa hiểu là họ chạy loạn gì. Chỉ sau này học sử thì mới biết đó là lúc quân Tầu Tưởng thua quân Tầu Mao. Đây là đoàn quân họ rút chạy qua đường Việt Nam. Lại một buổi sáng, chừng nửa buổi, nghe tiếng súng nổ đì đẹt phía quán Hàng Bà Nhất. Lúc sau thì thấy lính ngụy và nghĩa dũng vác súng ra phục kín phía bờ rào nhắm bắn về phía tiếng súng nổ. Người làng tôi cũng lố nhố đứng ra xem. Bọn trẻ con thì chỉ thập thò định chạy ra lấy “cát tút” (vỏ đạn) làm đồ chơi, nhưng người lớn không cho ra. Đó là trận ta đánh độn thổ trên đường 17, lính Hai Tô phải ra bắn yểm trợ.
Sau đó chỉ vài hôm thì bố tôi đem tôi gửi sang bên ngoại. Giữa buổi trưa một ngày mùa đông nắng đẹp, bố tôi cho tôi cưỡi một con nghé đực, rồi bố tôi dắt nghé đi trước, tôi cưỡi nghé theo sau. Từ cổng trại Hai Tô đi tắt đồng lên đê Lý Dương. Từ Lý Dương theo đường nhựa đến Hàng Bà Nhất. Đến đây bố tôi lại cho đi tắt cánh đồng bãi làng Chí Linh để ra bờ sông Kinh Thày đoạn ngang làng Ninh Xá. Ngày ấy làng Chí Linh còn ở ngoài đê, chưa đắp đê bối khoanh vùng lại như ngày nay. Về mùa lũ cánh đồng bãi làng Chí Linh nước ngập trắng băng. Ngọn nước sông Lục Đầu và ngọn nước sông Đuống đến đây thì bị tòe ra, dòng nước chảy chậm lại. Làng Ninh Xá cũng vì thế mà trở thành một cái túi để hứng phù sa bồi tụ. Cho nên phần ngoài đê làng Ninh Xá còn có một bãi bồi rộng lắm. Người ta còn tân tre, trồng mây, trồng cây ăn quả, trồng rau mầu, có thời kỳ còn làm cả bãi họp chợ nữa. Mỗi nhà cũng thường có một chiếc “cầu sông” để rửa ráy, tắm giặt, và kín nước về ăn. Ở những “cầu sông” ấy cũng thường hay có người. Bố tôi gọi với qua sông nhờ một người đang đi gánh nước về nhắn tin hộ. Một lát sau thì bác Cương tôi đưa thuyền sang đón. Trâu nghé làng tôi bơi nước đã quen nên việc đưa con nghé qua sông cũng rất dễ dàng. Chỉ cần buộc thừng vào thuyền, bơi thuyền đi là nó ngoan ngoãn bơi theo. Sông nước mùa đông cạn dòng nên chỉ một loáng đã sang bờ bên kia.
Ông ngoại tôi năm ấy đã gần sáu mươi tuổi, dáng người cao cao, lưng hơi còng, mái đầu và bộ râu ba chòm đã bạc trắng như cước. Bà ngoại tôi sinh được bảy người con: bốn trai, ba gái. Bốn trai là Cương, Dũng, Lược và cậu út Mão (vì sinh năm Mão 1927). Ba người con gái là: Chải, Chuốt, Rẽ. Mẹ tôi là Chuốt. Nhưng vì trùng tên với một người làng, người ta đến xin tên, ông tôi mới đổi tên gọi là Nhỡ. Bá Chải lấy chồng người làng Trần Xá tên là Đồng nên tôi gọi là bá Đồng. Bá Đồng sinh được hai con: một trai, một gái rồi cũng mất vì bệnh hậu sản trước mẹ tôi mấy năm. Dì Rẽ lấy chồng làng sinh con trai đầu lòng tên Thiều nên tôi gọi là dì Thiều. Bà ngoại tôi mất từ năm 1930, lúc đó mẹ tôi mới mười một tuổi và cậu Mão mới ở tuổi thứ tư. Ông ngoại tôi sau đó cũng “đi bước nữa”, lấy “ Bà Trẻ” và sinh thêm được hai người nữa là dì Cún Hai và cậu Mạch. Tôi, Thiều và cậu Mạch bằng tuổi nhau. Bốn gia đình: bác Cương, bác Dũng, bác Lược và Bà Trẻ đều ở liền nhà nhau. Đặc biệt hai nhà bác Cương và gia đình Bà Trẻ còn liền cả sân nhau và nhìn đối diện vào nhau nữa. Nhưng lúc đó thì ông tôi đã ở với gia đình bác Cương và mọi công việc cúng giỗ tổ tiên ông bà…đã giao cả cho con trai trưởng. Nhà ông ngoại tôi lúc đó có hai người đi kháng chiến không có mặt ở nhà là cậu Mão và anh Đoàn ( tên bố mẹ đặt là Chắc) con giai trưởng của bác Cương.
Hai chú cháu cũng tầm bằng tuổi nhau. Chú đi bộ đội được một thời gian thì lở ghẻ đầy người, liệt vào hạng bệnh binh cho thoái ngũ. Nhờ có trình độ văn hóa lớp 5 thời ấy nên được tuyển đi dạy học mãi trên Dương Hưu, Vĩ Loại, Sơn Động, Bắc Giang. Cháu đi bộ đội, bị thương, trở về hoạt động cơ sở ngay trong xã. Thời mất đất phải vượt sông Kinh Thày sang trọ ở làng tôi hoạt động. Run rủi thế nào lại lấy cô em gái con ông chú tôi làm vợ. Đó là cô Hải con gái cả chú Hội Mậu nhà tôi. Ông này gan như cóc tía. Nhà ngay cạnh đồn địch thế mà đôi lần vào buổi tối, cũng lần về thăm nhà. Ông tôi biết là lại hốt hoảng vội đi nhắc các con lo cảnh giới. Còn mẹ anh thì vội kéo anh vào trong buồng, rì rầm vài câu, dúi cho con ít tiền, rồi vội tống đi ngay: “ Lần sau, cấm chỉ về con nhé! Mày về, tao lo lắm!”. Ông chú, ngược lại nhát như cáy ngày. Sau lần chúng cho quây nhà tôi, cuôc hầm bắt hụt, cứ ở tịt trong vùng tự do, không dám bén mảng về nữa. Lần ấy, bố tôi cũng rầy rà lây. Chúng bắt bố tôi ra tra hỏi: “ Mày dấu hai tên Kham -Mão ở đâu thì phải thành thật khai ra. Nếu không thì rũ tù!”. (Kham là một người anh khác của tôi cũng người làng Ninh Xá) Bố tôi người run như cầy sấy cứ sự thật mà khai: “Bẩm quan lớn, mấy hôm trước hai tên ấy có qua đây thăm nhà tôi thật. Nhưng không gặp chị, gặp cô chúng nó lại đi ngay. Hiện giờ thì tôi không biết chúng ở đâu cả. Quan lớn không tin thì cứ việc đi khám xét. Chúng cho quân lính đi sục hầm và đào cuốc linh tinh cả. Nhưng cũng không tìm được hai tên Kham-Mão thật. Vậy mà chúng vẫn bắt bố tôi sang đồn Ninh Xá. Bố tôi cõng tôi ở trên lưng theo bọn lính áp tải sang đồn Ninh Xá. Đến đồn chúng giữ bố tôi lại còn giả tôi về nhà ngoại. Mẹ tôi đang chơi bên nhà ngoại, thấy chồng bị bắt thìchỉ ôm tôi mếu máo khóc.Còn ông tôi thì lo quýnh lên, vội họp các bác tôi lại hội ý, bàn cách chạy chọt lo lót để “gỡ” bố tôi ra. Ông tôi bảo mẹ tôi và các bác phải lo nhanh lên, nếu để nó giải xuống huyện là rắc rối đấy. Không hiểu mẹ tôi và các bác lo lót thế nào mà chỉ vài hôm sau là bố tôi được thả ra ngay.
Ở bên ngoại ban ngày thì rất vui, vì tôi sẵn bạn chơi. Nhất là ba cậu cháu tôi bằng tuổi nhau lại gần nhà nên rất hay đàn đúm rủ nhau đi chơi. Ở bờ đê làng Ninh Xá lúc đó còn có một thứ cây gọi là cây bọ mò có hoa nở đỏ rất đẹp. Chúng tôi thường lấy hoa làm đồ chơi, lấy lá làm đồ vày nghịch: đem làm cac loại bánh hoặc trộn với bột đất, bột gạch non để chế biến các loại thuốc…Nhưng ông tôi thấy thì ông tôi dẹp ngay vì sợ bọ mò rúc vào người sinh lở ghẻ. Ông tôi cũng lại sợ chúng tôi lên bờ đê không may bị xe cộ kẹp, sợ chúng tôi ra bờ sông chơi không may chết đuối…Vì thế cứ thấy vắng bóng chúng tôi là ông tôi lại vội đi tìm. Ông tôi thường lững thứng lên đê, tay cầm cái quạt giấy che đầu, mắt dò tìm các hướng. Hễ thấy chúng tôi đâu là ông tôi lại lập tức gọi về ngay. Làng Ninh Xá gần chợ Nành. Chợ Nành trước đây họp ở vị trí giữa làng Ngô Đồng và làng Ninh Xá. Nhưng thời tạm chiếm, để ngăn quân du kích lợi dụng chợ làm địa bàn hoạt động, nên quan Tây kéo chợ về họp ngay ở bãi bồi ngoài đê làng Ninh Xá. Bãi bồi này khá rộng. Hai đầu chợ còn có hai cây thị to lắm. Họp chợ ở đây vừa gần đồn lính lại vừa gần sông, nhu cầu mua bán trao đổi nhiều, ngoài các phiên chính như trước, còn đẻ thêm những phiên sép, nên chợ Nành gần như có thường xuyên. Cũng nhờ lộc chợ Nành mà tôi hay được các bác, các dì, các mợ, các chị….mua quà về cho ăn nên hầu như lúc nào cũng ướt mép.
Nhưng tối đến là tôi lại nhớ nhà. Từ ngày mất mẹ tôi đã quen quấn bố. Đi đâu cũng bố, trừ có việc đi làm. Khi thì bám quần bố, lúc thì trên lưng bố. Bây giờ xa bố, tôi thành bâng khuâng. Tối nào tôi cũng khóc đòi về. Mà hồi ấy tự nhiên tôi lại rất thèm hơi ấm phụ nữ. Tôi chỉ đòi ngủ với các chị, các cô gái trẻ, chứ không chịu ngủ với ông, với bác. Có một lần, tôi đang ngủ với mấy chị thì bác Dũng thức tôi dậy bảo sang giường ngủ với bác. Thế là tôi hờn. Tôi cứ ngồi trên cái phản giữa nhà khóc gào bố, gào mẹ: “Ới bố ơi, bố sang đón con! Ới mẹ ơi, mẹ về bế con!”. Tiếng khóc ấy của tôi hình như cứa vào lòng thương em, thương cháu của bác Dũng. Mặt mày bác Dũng tự nhiên méo sệch đi, run rẩy rồi dàn dụa nước mắt. Bác khóc nức nở và phải dùng cả cánh tay áo đưa lên gạt nước mắt. Thế là tôi lại được ngủ với các chị như cũ. Tôi nắm giữa các chị, Tuy chỉ đắp chiếu thôi mà tôi thấy một hơi ấm nóng bao trùm lên khắp người tôi. Tôi thổn thức thêm một lúc rồi ngủ đi lúc nào không biết. Sáng hôm sau thì tôi vẫn thấy mình nằm trên giường bác Dũng.
Vài tháng sau thì nghe tin ta phá trại Hai tô rồi. Vào một đêm sương mù dày đặc. Ta gài được tay trong mở cổng đồn cho quân du kích vào đánh úp. Bọn nghĩa dũng thì đầu hàng ngay. Còn mấy tên sếp ngụy cố thủ trên nhà gác cũng bị quân ta đột nhập tiêu diệt. Dân các làng được dịp, chỉ vơ vội những thứ cần thiết, dắt cưỡi trâu bò chạy vội về làng. Trại Hai Tô lại thành một trại trống không. Giữa thời loạn lạc đạn bom cũng không ai lên đấy làm gì. Nó cứ phơi mưa, phơi nắng và tự lụi tàn. Riêng khu nhà xây, tư dinh cũ của nhà Hai Tô thì mãi đến những năm cải cách, nông dân nàng Dâu mới lên phá phách và đào bới đến viên gạch cuối cùng.

TRUNG THU NGOẠN NGUYỆT HỮU HOÀI


弍 中秋玩月有懷

匆匆客裡又中秋
月白風情獨自愁
遙想故人襟韻在
騷魂幾度繞南樓

Phiên âm:
TRUNG THU NGOẠN NGUYỆT HƯU HOÀI

Thông thông khách lý hu trung thu,
Nguyt bch phong thanh độc tự sầu.
Dao tưởng cố nhân khâm vận tại ,
Tao hồn kỷ độ nhiễu Nam Lâu.

Dịch thơ

ĐÊM TRUNG THU NGẮM TRĂNG

Thoáng đã trung thu lại đến sao?
Trăng thanh gió mát gợi thêm sầu .
Xa người nhớ cảnh lòng hoài niệm,
Luẩn quẩn hồn thơ với Nam Lâu(1)

(1)Lầu phía nam, nơi Dữu- Lương(Tấn)
Lên ngắm trăng thu và vịnh thơ