Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

TÌNH BẠN CHÂN THÀNH 1

          

     Tôi có thể nói như thế về hắn. Hắn cùng lớp tôi hồi học ở trường cấp3 Sao Đỏ-Chí Linh (Khóa 1968-1971). Thực ra tôi nghe chuyện hắn từ lúc chưa học cùng nhau, qua chuyện kể của ĐVN ngày ấy. Vì N và hắn cùng trong đội học sinh giỏi toán, được huyện tập trung bồi dưỡng để thi tỉnh. Biệt tài của hắn lúc bấy giờ khiến cả nhóm phải nể phục là: "Chạy xe đạp không phanh trên bờ ruộng quanh co tùy ý". Mà lại là xe đua Liên Xô nữa chứ. Quả thật sau này học chung tôi thấy hắn còn đi chiếc xe đạp đó, có thể nói chỉ có khung xe với bánh xe ngoài ra chẳng còn gì nữa. Xe hắn giống như người cởi trần vậy. Hắn học thì giỏi thật, chỉ một học kì là cướp mất chức lớp phó học tập của tôi. Hắn cao lêu nghêu nhưng không béo nhìn hóa ra lòng khòng chứ đâu có phong độ như bây giờ. Tôi cảm phục cái tư chất trong con người hắn vì hắn học giỏi toàn diện. Chỉ mỗi tội ngô nghê về tình yêu, hình như lúc ấy trong hắn không có khái niệm "yêu", dù cũng đã 18 tuổi.
    Rời ghế nhà trường tháng 5/1971, chiến tranh buộc chúng tôi phải xa nhau. Sau này do cuộc sống thăng trầm của đời tôi mà tôi không còn gặp lại được bạn bè có chức quyền như hắn nữa. Nhưng dù tôi có thế nào thì hắn cũng nhớ tôi và nhất định tìm tôi cũng như tìm những người bạn khác. Thế rồi chẳng biết hắn có thông tin về tôi từ đâu mà sau mấy mươi năm xa cách, hắn tìm ra tôi thật. Hôm ấy hắn mang quân hàm trung tá QĐNDVN. Hắn cao to, oách lắm. Vào cơ quan tôi (bệnh viện TN-ĐN) tìm hỏi Thảo. Tôi đang họp ở hội trường cơ quan, được cô văn thư vào nói nhỏ: "Có ông công an nào tìm gặp anh". Hắn làm người ta sợ, lo cho tôi có án gì chăng mà lại bị công an tìm hỏi?. Tôi cũng bất ngờ, chẳng hiểu gì cả nhưng cũng cứ ra. Hóa ra là ông bộ đội chứ có phải ông công an đâu. Tôi định thần kỹ lại rồi hô to: "Nguyệt". Hai thằng tôi lao vào ôm lấy nhau. Hắn bảo: "Tao tưởng mày không nhận ra tao, tao sẽ quay lại đi luôn. "Tôi quá bất ngờ và xúc động trước tình bạn chân thành và quá đỗi thân thương ấy. Tôi xin phép nghỉ họp ngay, đưa thằng bạn về nhà mình ở ngoài cổng bệnh viện. Cả cơ quan tôi cũng giáo giác nhìn theo, không hiểu sao ông Thảo lại có những người bạn là sĩ quan to đến thế? Họ nể phục, dĩ nhiên tôi rất tự hào. Mà tính tôi hắn cũng lạ gì, thích hình thức hơn cả tiền bạc. Tôi vẫn nghĩ: "Cái danh dự mà bạn bè mang lại cho mình đôi khi có tiền không mua được."
    Thế rồi chúng tôi nhậu (uống rượu) cả buổi chiều hôm ấy, mượn rượu tâm giao. Nhà tôi lúc ấy cũng còn nghèo lắm, có mỗi cái xác nhà với một cái giường. Đêm ấy tôi đuổi vợ con xuống nằm đất, hai thằng tôi ôm nhau ngủ trên giường, hắn ngáy to đến nỗi cả nhà không ngủ được. Tôi nghĩ cái thằng này mà thời chiến ngủ ngoài xe tăng chắc biệt kích trong rừng cách1km nó cũng phát hiện. Sáng hôm sau tôi lấy xe máy 82 chở hắn qua trường HSQ Tăng Thiết Giáp ở Long Thành. Quả thật hai thằng to và nặng quá,chiếc xe cứ ì ra khi lên dốc cầu An Viễn.
     Sau này cứ mỗi lần vào Nam công tác, hắn thế nào cũng thu xếp thăm tôi. được cái vợ tôi cũng hiếu khách và coi hắn như người anh trai của mình, các con tôi thì quý hắn như ông bác họ.


còn nữa....

LAN MAN CHUYỆN LÀNG TÔI

Đỗ Đình Tuân

Phần 11
Khúc vĩ thanh
 
Năm 1956, dân công cả tỉnh Hải Dương được điều về Chí Linh để đào một con sông kéo dài suốt từ cống Phao Tân chạy dọc theo dãy bờ hào nhà Mạc, qua Đuôi Nheo ngọn Sông Đào, rồi tiếp tục qua các cánh đồng Kỳ, Thượng, Dọc, Trại chua, Mật Sơn, Thanh chung, Ninh Chấp…vòng xuống tơi Cống Vạn. Công trình đó được mang tên là công trình thủy lợi Trung Thủy Nông. Nhưng dân gian thì gọi nó là sông Trung Thủy Nông. Về mùa cạn sông Trung Thủy Nông sẽ lấy nước từ sông Lục Đầu qua cống Phao Tân vào tưới cho đồng ruộng Chí Linh. Về mùa mưa sông Trung Thủy Nông lại đón nước rừng về dẫn xuống cống Vạn rồi tháo ra hạ lưu sông Kinh Thày mà ra biển. Từ đó con Sông Đào bị cắt nguồn và làng tôi cũng không còn úng ngập nữa. Đồng trên, đồng dưới làng tôi đều năm hai vụ lúa chiêm mùa. Mấy năm đầu khi hệ thống mương nổi và trạm bơm thủy lợi chưa được xây dựng đồng bộ thì Sông Đào còn có ít nhiều tác dụng như một con sông nhánh của sông Trung Thủy Nông để dẫn thủy nhập điền. Nhưng từ khi Trạm Bơm Kỳ Đặc được xây dựng và một con mương nổi cỡ bự chạy dọc suốt bờ đông con Sông Đào từ Đuôi Nheo xuống trạm bơm thì Sông Đào trở thành gần như con sông chết. Người ta cắt nó ra thành nhiều khúc để cho dân đấu thầu. Nhà trồng sen, nhà thả cá,… lại có đoạn chỉ thấy có bèo tây, rất linh tinh lộn xộn. Nhất là đoạn gần làng, nhiều nhà còn bắc “cầu khỉ” sang bờ đông để tận dụng bờ mương nổi tròng nhãn, trồng chuối. Tận dụng không gian lòng sông để bắc giàn bầu, giàn bí. Ven bờ thì tận dụng làm nơi đổ rác: túi ni lông, bao xác rắn, rác tổng hợp… bập bềnh trôi nổi trông rất là phản cảm. Con Sông Đào thơ mộng tắm táp tuổi thơ tôi đã thật sự không còn.
Năm 1995 làng tôi xây lại đền làng. Nhưng nền đền cũ thì huyện đã trưng dụng và xây một cơ sở của Phòng Thủy lợi từ lâu rồi. Hai cây đa ông Trương Tự trồng thì cây đa trơn cũng đã chết. Làng tôi đành ké cái nền đền mới ở chỗ gốc cây đa ấy. Đền làm nhỏ thôi. Cũng gọi là có một gian cung để thờ bà TRẦN TRIỀU CÔNG CHÚA. Nhưng bà là ai và hành trạng của bà thế nào thì làng tôi không ai biết cả. Ban kiến thiết cử cụ Hướng, cụ Tường vào nhờ tôi làm hộ công việc này. Tôi cũng thấy rất bí nhưng chẳng lẽ lại không làm. Dù sao thì tôi cũng là người được học hành nhiều nhất làng và có học vị cao nhất làng. Làng không nhờ tôi thì còn nhờ ai? Mà ở cương vị ấy tôi cũng từ chối làm sao được? Nhưng thực tình tôi cũng chẳng biết gì về sự tích bà Trần triều công chúa cả. Tôi hỏi lại hai vị xem trong làng còn có ai nhớ được một điều gì về bà ấy không. Hai vị đều trả lời “ Chỉ biết bà ấy tên là TRINH, không chồng, không con và giỗ vào ngày mồng sáu tháng Giêng”. Từ chi tiết này tôi đoán định “Trinh” không phải là tên thật. “Trinh” chỉ là chữ chỉ người con gái chưa lấy chồng, chưa làm vợ mà thôi. Tôi đi tham khảo thêm một số cụ biết chữ nho già cả ở quanh vùng thì được các cụ cho biết thêm một gợi ý “Ở thời Trần thực hiện chế độ hôn nhân đồng tộc nên nhiều công chúa không lấy được chồng, họ thường xin về các miền quê chiêu dân lập ấp”. Tôi nghĩ đây là một gợi ý tốt. Rất có thể bà Trần triều công chúa thờ ở đền làng tôi là một trong những bà công chúa như thế. Nhưng muốn xác định cụ thể thì vẫn phải có bằng cứ. Tôi về hỏi lại các cụ xem làng có còn giữ được vật chứng gì ở ngôi đền cũ hay không. Các cụ hội ý và cuối cùng cũng nhớ ra là có một số vật chứng: Một bức phù điêu vẽ bà Trần triều công chúa gửi trên làng Thủy bây giờ xin lại. Một lư hương bằng đá xanh mà người làng Kỳ lấy về thờ trong nghè Kỳ cũng vẫn còn. Hai cột trụ đá vuông chôn ở cầu giếng trông vẫn thấy có nhiều chữ. Một tấm bia đá nữa bắc ở cầu ao nhà ông Trình cũng có thể khênh lên mà nghiên cứu được.
Thế là tôi bắt đầu làm việc với các vật chứng. Bức phù điêu sơn son thếp vàng, nhưng sơn đã xỉn mầu và thếp vàng đã ngả bạc. Giữa bức phù điêu có hình một “vua bà” ngồi xếp bằng tròn rất phương phi và mô phạm. Hai bên tả hữu có bốn thị nữ đứng hầu quạt và hầu nước. Chắc cũng chỉ là hình ảnh tượng trưng để thờ chứ không phải là chân dung. Chiếc bát hương đá thì khá to, trông tựa như một chiếc ly vuông : đế, chân ly rồi đến thân ly. Phần miệng thân ly hơi loe ra rộng hơn so với phần đáy. Đây chính là phần để cắm hương. Mặt trước có bốn chữ Hán khắc nổi古袾下社(Cổ Châu Hạ xã). Hai thứ đồ thờ này coi như không khai thác được gì. Tôi đi tìm trong hai tấm bia.Thời đó tôi cũng chưa có và chưa biết sử dụng hanoikey nên cũng chưa tự tra cứu được. Tôi phải sao chép lại, rồi đi hỏi các vị biết chữ Nho. Để cẩn thận tôi hỏi những hai vị: cụ Thoại người Nam Gián Đông và cụ Nguyễn Văn Lập người thôn Tiền Định. Có bản phiên âm rồi mà tôi đọc thấy trúc tra trúc trắc nghe cứ như búa đấm vào đầu, rất khó dịch cho xuôi và thoát nghĩa.
Nhưng cứ rút lấy cái tinh thần thì tôi cũng hiểu được nội dung tấm bia khênh ở cầu ao nhà ông Trình lên ghi lại một hương ước của làng về bốn mẫu tự điền của đền làng. Bốn mẫu tự điền này nằm ở các xứ Đồng Phương, Mả Bà và Đống Lôi. Luật lệ thì đã có từ trước đó, ở tấm bia này các hương lão chỉ cam kết sẽ “chiểu y lệ cũ” mà thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ . Nếu ai sinh tình bội bạc cố ý không nộp lợn gạo cho làng để tế lễ hàng năm thì các quan bản thôn cùng với bản tộc và quan viên trong làng sẽ truy cứu, đòi lại ruộng cho người khác cày cấy…Phần cuối bia có ghi rõ năm tháng ngày lập bia và tên những hương lão tham gia ký vào hương ước cùng với tên soạn giả. Cụ thể như sau:
景興四十五年三月一十日立碑
同豋楨記
鄉老陶廷华記, 黄世禄記,阮進財記, 杜廷進記,朱相憭記, 阮陳遵記
潘曰表記, 阮必成記
村長同豋理記
仝村上下共記
海南至傑黄甫撰
Cảnh Hưng tứ thập ngũ niên tam nguyệt nhất thập nhật lập bi
Đồng Đăng Trinh ký
Hương lão Đào Đình Hoa ký, Hoàng Thế Lộc ký, Nguyễn Đình Tài ký,
Đỗ Đình Tiến ký, Chu Tương Liêu ký, Nguyễn Trần Tuân ký, Phan Viết Biểu kí, Nguyễn Tất Thành ký
Thôn trưởng Đồng Đăng Lý ký
Đồng thôn thượng hạ cộng ký
Hải Nam Chí Kiệt Hoàng Phủ soạn.
Tính ra thì tấm bia ấy lập vào ngày mồng 10 tháng ba năm Giáp Thìn (1784) thời vua Lê Cảnh Hưng năm thứ 45.
Căn cứ vào tấm bia này có thể biết vào thời Lê làng Cổ Châu đã chia hai thôn thượng hạ nhưng chỉ là một đơn vị hành chính và chung một trưởng thôn. Đền làng vẫn còn chung của cả hai thôn.
Hai cột trụ đá chôn ở hai bên cầu giếng làng thì hai mặt tiền khắc hai hàng chữ to nổi. Đó là một đôi câu đối xưng tụng công đức và uy linh của bà Trần triều công chúa
立巿开津存舊跡
Lập thị khai tân tồn cựu tích
其晴搗雨仰余灵
Kỳ tình đảo vũ ngưỡng dư linh
Nghĩa là: lập chợ, mở bến đò vẫn còn dấu tích cũ, trời nắng hạn dân làm lễ đảo vũ cầu mưa vẫn thấy có linh ứng.
Các mặt còn lại của cột đá ghi họ tên, số lượng tiền và cột gỗ của những người cung tiến trùng tu ngôi đền. Thời gian làm cột đá là vào ngày 22 tháng 11 năm Mậu Tuất, Minh Mạng thứ 19 (1838). Nhưng ngoài ra cũng không biết gì thêm về nhân vật được thờ ở ngôi đền.
Trong khu đình làng cũng vậy. Dân đã ở kín cả bốn chung quanh. Chỉ còn lại cái nền đình cũ. Làng xây lại đình mới trên cái nền cũ ấy. Cũng không ai nhớ được sự tích các Thành hoàng. Mọi người chỉ mang máng nhớ rằng đình làng thờ hai vị Thành hoàng thôi. Có một vị đâu có cái tên là Nghị, hai vị đi đánh giặc về và hình như hóa ở đây.  Làng không giữ được một sắc phong nào nên cũng không rõ danh tính  của các vị Thành hoàng làng là chi cả. Làng tôi vẫn ở vào tình trạng mồ côi Thành hoàng.
Năm 2009 thì các xà gỗ của đền làng và đình làng đều mục. Làng tôi phải sửa lại thay bằng xà bê tông cốt thép. Nhân dịp này tôi có soạn đôi câu đối: 
弍位城潢庇民护囻
Nhị vị thành hoàng tí dân hộ quốc; 
千年本社香 火 知恩
Thiên niên bản xã hương hỏa tri ân.
Làng thuê thợ cho đắp vẽ đôi câu đối ấy lên hai cột cổng đình.
Mãi đến năm ngoái (2010) tình cờ, có một người làng Dâu (thôn Cổ Châu thượng cũ) lên Viện thông tin khoa học xã hội tìm lại thần tích Thành hoàng làng mình. Họ hỏi tên làng cổ là gì, ông ta đáp “Làng Cổ Châu”. Họ tìm cho một văn bản viết bằng chữ quốc ngữ do hương lý của làng gửi lên năm 1938. Nhưng văn bản ấy lại không phải của làng Cổ Châu Thượng mà lại là của làng tôi: Làng Cổ Châu Hạ. Ông ta vẫn xin về rồi mang xuống tận làng biếu lại làng tôi. Làng tôi lại đưa văn bản đó vào cho tôi tìm hiểu. Tôi chỉ đánh lại bằng vi tính cho rõ ràng, làm thêm mấy chú thích (cố nhiên là theo cách hiểu của tôi chưa chắc đã chính xác) để người làng đọc thì hiểu rõ hơn. Nhưng tôi vẫn giữ nguyên cách viết của các cụ hương lão ngày ấy, không sửa chữa gì, kể cả lỗi chính tả. Coi như là “sao y bản chính”:

                           VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI


           TT – TS
   FQ 40 18 / I X , 9…
                   F. 2




                         THẦN TÍCH – THẦN SẮC

Thôn :………………………………………………

Làng : ……Cổ Trâu Hạ……………………………

Xã :…………………………………………………

Tổng :……Cổ Trâu………………………………..

Huyện :…… Chí Linh…………………………….
Phủ :………………………………………………..

Tỉnh :……..Hải Dương…………………………….


         
  VIỆN THÔNG TIN
KHOA HỌC Xà HỘI
TTTS..‘………….9196
                                                               
THƯ VIỆN T HẢI DƯƠNG
      PHÒNG ĐỊA CHÍ
           ĐC     3174      


                                           HÀ NỘI - 1995                 
                                                                                                                              
                                        Cổ Trâu Hạ   b 12 amil   1938

                                               Monsum  b Tri Huyện
                                                               de  Chí Linh  

Chúng tôi là Hương Lý  của Cổ Trâu Hạ xin khai 10 vấn đề về việc Hương Tục như sau này:
I/ Làng chúng tôi là làng Cổ Châu Hạ 古鄒下 tên nôm gọi là làng Giêng  tổng Cổ Châu 古鄒 huyện Chí Linh 至灵 tỉnh Hải Dương
II/ A-Làng chúng tôi thờ 3 vị Thần  Thành Hoàng :
          1.Vị Thạch Sùng Vũ Nghị Tôn Thần
          2.Vị Hùng Đạt Linh Ứng Tôn Thần
          3.Vị Trần Triều Công Chúa Chinh Nữ Tôn Thần 
    B- Các ngài đều là nhân-thần
    C- Vị đệ nhất(1.) và vị đệ nhị(2.) dân chúng tôi không biết sự tích thế nào-Còn vị đệ tam(3.) có sự tích là: “Ngài là Gia Chinh công chúa Chinh Nữ Tôn Thần, em gái ngài là Gia Thạch công chúa người ở làng Linh Giàng灵江 (cùng tổng) bố mẹ chết năm ngài sắp 10 tuổi, chị em ngài ở với dì, về thời vua Trần Minh Tôn Hoàng Đế. Vua Trần Minh Tôn Hoàng Đế ngự giá qua bến đò Linh Xá (bây giờ thuộc về phủ Nam Sách) thấy hai đám mây che giao nhau ở bên xã Linh Giàng. Vua truyền chở Long chu (thuyền rồng) đến thấy hai chị em ngài đứng đấy. Hai chị em ngài thấy vua Trần Minh Tôn bèn về trong làng. Vua Trần Minh Tôn sai vời hai ngài ra, đến đầu thuyền đều biến lên giời mất, hóa ra hai đám mây đỏ từ đầu thuyền rồng bay đến bãi xứ Di Đà không tan. Vua Trần Minh Tông hạ sắc lập miếu ra xứ ấy thờ ngài, cho nên họ là Trần Thị. Dân chúng tôi thờ ngài từ ấy.
Năm Khải Định thứ 9 1dịp tứ tuần đại khánh 3 vị đều được sắc sơ phong:
-Vị đệ nhất là vị Thạch Sùng Vũ Nghị được phong là “ Linh Phù Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần” 2
-Vị đệ nhị là vị Hùng Đạt Linh Ứng  được phong là “ Linh Phù Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần” 3
-Vị đệ tam là vị Trần Triều công chúa chinh nữ phong là  “ Linh Phù Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần” 4
D-Sự tích  Đức đệ tam như thế chỉ là truyền khẩu chứ không có sách bia gì cả.
E-Dân tôi không biết có làng nào thờ các ngài không
F-Vị đệ nhất, đệ nhị thì thờ bằng ngai, vị đệ tam (âm thần) thì thờ bằng Tượng
III / Vị đệ nhất, đệ nhị thì thờ ở đình, vị đệ tam thì thờ ở đền
A.                           Chỗ có Đình và Đền nguyên xưa là chỗ đất bằng của công dân.
B.                           Nơi có Đình, Đền  nguyên xưa đến giờ vẫn thế.
C.                           Gần Đình, Đền và cửa Đình, Đền cấm không được để mồ mả, dốt súc vật, chứa đổ đồ ô uế và không được cưỡi ngựa đi qua cửa.
D.                           Đình Đền chỉ riêng để thờ các ngài mà thôi   
IV /  Trog năm có 4 lệ tế lễ:
          A.Ngày mồng 5 tháng Giêng lệ giỗ vị Trần Triều Công Chúa Chinh Nữ Tôn Thần
          B. Lễ Đại Kỳ Phúc tại ngày 15 tháng 3
          C.Lễ Hạ điền tại ngày 1 tháng 4
          D. Lễ Thượng điền tại ngày 1 tháng 9  
V / A. Đồ lễ cúng tế 4 lệ kể trên:
          -Lệ giỗ vị Trần Triều Công Chúa Chinh Nữ và lễ Đại Kỳ Phúc thì cúng bằng xôi-lợn
          -Lệ  Thượng-Hạ điền thì cúng bằng xôi-gà
          -Từ ngày có cải lương hương tục đồ lễ có giảm đi ít chút.
      B.Đồ lễ cúng tế 4 lệ kể trên dân đã có ruộng hàng năm giao luân thứ Tế Đám cầy cấy lấy hoa lợi chi biện. 5
      C. Đồ lễ cúng tế xong thì đem quân phân  6 cho Hương ẩm thụ huệ.
VI /    Những người dự tế tự toàn là người có chân trong Cựu chức dịch, tùy theo thứ vị cao thấp mà cắt cử vào công việc hơn kém, như người thứ vị cao nhất thì vào Mạnh Bái, thứ nhì đến Thông Xướng, thứ nữa đến Tiến Tước, Thượng Hương vân vân…Tả văn , độc chúc thì cắt Lý Trưởng đương thứ.
VII /  Trước ngày lễ và trong khi tế lễ thì những người dự tế kiêng ăn thịt chó, phải tắm gội sạch sẽ và kiêng kỵ những người có tang chở.
VIII / Lúc tế lễ thì những người dự tế mặc áo tế, đội mũ tế
IX / A. dân chúng tôi chỉ phải kiêng gọi và nói chữ “chinh”  phải nói là chữ “chiêng” mà thôi vì chữ ấy là tên hèm vị Trần Triều công chúa
B.     Người nào tế lỗi thì dân bắt lỗi 0đ30. Người bị lỗi nộp cho dân sung công. Ai không nộp thì không được đi tế nữa. Người bị lỗi không được đi kêu ca oan uổng đâu cả.
           X / Trong mấy năm gần đây:
                             1.Thay đổi đồ cúng lễ
                             2.Việc phân phát đồ cúng
                             3.Chỗ thờ cúng
                             4.Số người dự tế lễ
                             5. Sự trai giới
                             6. Sự kiêng kỵ về Hèm Thần
                   Đều không có thay đổi gì cả.
                                                        Nay thừa khai
                                                        L. chánh hội
                                                       
                                                       Đóng dấu tròn
                                           Của Cổ Trâu Hạ Chánh Hương Hội. 

Chú Thích:

1.     Khải Định năm thứ 9: năm 1924 ( Khải Định 40 tuổi có tổ chức Tứ tuần đại khánh tức lễ mừng thọ 40 tuổi
2.     Tên đầy đủ đọc là: Thạch Sùng Vũ Nghị Linh phù dực bảo trung hưng tôn thần
3.     Tên đầy đủ đọc là: Hùng Đạt Linh Ứng Linh phù dực bảo trung hưng tôn thần
4.     Tên đầy đủ đọc là: Trần Triều Công chúa chinh nữ Linh phù dực bảo trung hưng tôn thần     
5.     Giao luân thứ tế đám cầy cấy: ruộng tự điền của làng giao luân phiên cho những người đến phiên Tế Đám cầy cấy
6.     Quân phân: chia đều
7.     Mạnh Bái : đứng đầu đội tế
8.     Thông xướng: đọc lệnh điều hành các quan viên đứng tế
9.     Tiến tước: dâng lễ vật
10. Thượng hương: dâng hương
11. Tả văn độc chúc: đọc văn tế
12. Lý trưởng đương thứ: chánh, phó lý đang làm của làng  

Vậy là bà Trần triều công chúa làng tôi lại không phải con vua. Hai chị em Gia Chinh và Gia Thạch chỉ là những người phụ nữ lao động, mở lò gốm lập ra khu dân cư “làng Gốm”, dạy nghề trồng dâu nuôi tằm lập ra khu dân cư “làng Dâu”, rồi lập ra “chợ Bến” (một tên khác là “chợ Cống”), mở ra bến đò Cống cho thông thương trong vùng thuận lợi. Thực chất họ chính là những doanh nhân thời cổ, những người giữ vai trò chính trong phát triển kinh tế và an sinh xã hội ở vùng tôi.
 Nhưng hai vị Thành hoàng thờ ở đình làng tôi là ai vậy thì vẫn chưa trả lời được. Vâng theo lời khuyên của một câu ca dao hiện đại: “ Dân ta phải biết sử ta / Những gì chưa biết thì tra gu gờ (google)”. Tôi tra google thì có đến ba nguồn tài liệu khác nhau: Một ông Thạch Sùng là tướng thời Tây Tấn bên Trung Quốc. Phiên bản chuyện này sang Việt Nam biến thành chuyện cổ tích: “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho”. Nhưng làng tôi thì thờ cái ông này làm gì? Cái ấn tượng bền vững nhất trong ký ức của dân làng tôi là “một ông có tên là Nghị, hai vị đi đánh giặc về và hình như hóa ở đây”. Được gợi ý từ suy nghĩ này tôi đi tra Vũ Nghị. Quả là có một người học trò rất thông minh từ thời Hùng Vương tên là Vũ Nghị thật. Đây là đoạn tôi sao chép được: “Người con giai là Vũ Nghị: Con ông Vũ Huy Hiển, bà Hoàng Thị Việt. Năm 12 tuổi cha mẹ cho đi học ở thôn Trung xã Vĩnh Lại tên nôm là làng Giải Thượng huyện Cẩm Giàng – Hải Dương. Thời Hùng Hy Vương có giặc Cao Man, giặc Ân ông đã cùng với người cậu là Hoàng Công Độ, lạc tướng ở kinh thành Văn Lang đi đánh giặc lập nhiều chiến công. Ông Vũ Nghị đã hoá theo Thánh Gióng ở núi Sóc Sơn”. Có lẽ đây mới là các vị thành hoàng mà làng tôi thờ đây. Đối chiếu với những làng lân cận trong vùng như làng Chí Linh, làng Nam Gián đều thấy có thờ hai, ba vị Thành hoàng  như làng tôi vậy. Mà sự tích các vị Thành hoàng ấy đều là những nhân vật có liên quan đến thời Hùng Vương. Làng tôi cũng khó mà không theo cái định hướng chung ấy.
          Dù sao thì bây giờ làng tôi cũng đã tìm lại được Thành hoàng. Cho dù mới chỉ có một cái tên. Nhưng biết tên rồi, người làng tôi có thể gọi được các ngài về. Thần Vũ Nghị ơi! Thần hãy về mà phù hộ nâng cao dân trí cho làng tôi. Bà Trần triều công chúa ơi! Bà hãy về mà phù hộ cho dân làng tôi có thêm nhiều doanh nhân. Hỡi vong linh của lớp người sống trong thời biến loạn! Hãy trở về mà chia vui với dân làng, con cháu. Nhưng  vẫn còn buồn lắm bà con ơi! Người làng tôi bây giờ không ai muốn làm doanh nhân cả. Cũng nhiều người có vốn, nhưng chỉ dùng vào việc xây nhà cao cửa rộng, sắm ti vi, xe máy đắt tiền…Chưa kể còn đỏ đen, hút sách lao vào tệ nạn. Những người đứng đắn họ cũng chỉ làm ăn cầm chừng, cốt sàng sê lấy cái đút mồm. Hỏi họ thì họ bảo: “Còn nhiều bức xúc lắm bác ơi, chưa thể làm ăn được. Bỏ vốn vào kinh doanh nhiều khi chẳng khác nào như vứt tiền đi. Bởi cứ hết tiền đút lót là hết luật. Chẳng còn ai bảo vệ cho mình!”. Thì ra muốn làm ăn bây giờ vẫn tắc. Tắc ở đâu hỡi làng nước ơi ?

                   Viết xong lúc 7 giờ 54 phút ngày 26/5/2011
                                    

TÌNH  MÂY  NÚI

Núi cao sừng sững giữa trời,
Có nàng mây nguyện trọn đời quấn quanh.
Núi anh biêng biếc màu xanh,
Mây em trắng ngọc em dành anh yêu.
Chuyện tình mây núi sớm chiều,
Lúc như huyền ảo khi xiêu xiêu lòng.
Trên cao gió núi thổi vòng,
Bồng bềnh mây trắng chảy dòng tình thơ.
Mây ôm ấp núi mộng mơ,
Núi giang tay rộng đợi chờ đón mây.
Duyên trời mây núi đắm say,
Từ xa xưa đã có mây núi rồi.
Vắng mây núi đứng chơi vơi.
Mây không có núi một đời lang thang.
Gặp cơn chớp bể mưa ngàn,
Mây buồn tuôn lệ, núi tràn bão giông.
Núi mây trùng điệp mênh mông,
Tình mây núi mãi mặn nồng bên nhau./.             
                                Nội : 7/2011
                                    Cẩm 
XUÂN THẢO ĐỒNG NAI XIN KÍNH CHÀO TRANG "TRI ÂN CUỘC ĐỜI".

- Thằng bạn tôi: Nguyễn Khắc Nguyệt bảo tôi ba chìm bảy nổi chín lênh đênh chứ thực tế tôi là: Bảy chìm chỉ có ba nổi còn tới mười mấy cái lênh đênh cơ. Đúng là thằng khổ đối nghịch với thằng sướng (K) bạn tôi. Thằng bạn tôi nó nói đúng: Thằng sướng nó sướng bao nhiêu thì thằng khổ này khổ bấy nhiêu. Chẳng là ông nội tôi có mỗi một người con là bố tôi, mẹ tôi cũng con một. Các cụ sợ sau này con cháu thất bát nên mong muốn sống thảo hiền. Ông tôi vốn là thầy kí có chút vốn chữ nho nhưng lại sống với Tây (chuyên chụp ảnh ở tiệm dành cho Tây, đầm) Ước mong có bầy cháu là mười thằng cháu trai để ra sông kéo chuông vàng (Trời cho). Nên cụ đặt tên trước hết cả, mà không hiểu sao chỉ có chín cái tên được đặt trước là: Thảo, Hiền, Phúc, Lộc, Lưu, Truyền, Vạn, Triệu, Long. Vậy mà bố mẹ tôi sinh hạ chín anh em tôi thật, chỉ khác từ đứa thứ sáu mang tên khác là: Thoa, Nhung, Hợi, Hanh.
- Có một ông thầy phán rằng: Sai lầm của ông tôi là đứa cháu đầu lòng, đích tôn đem đặt tên là Thảo thì chẳng còn giữ được gì nữa, nghèo suốt đời. Thảo là con thứ thì tốt hơn, khá hơn. Lại thêm khi bố mẹ tôi sinh năm người con trai (ngũ quỷ) thì hạ sinh một cô em gái lại đặt tên là Thoa. Tôi nhớ khi ấy tôi còn nhỏ (12 tuổi) nhà nghèo lắm, bà nội tôi: Con độc, cháu đàn phải vào Đồng Châu xã Hoàng Hoa Thám phá rừng trồng sắn để chu cấp cho chúng tôi ăn học. Năm 1965 tôi 12 tuổi phải đi bộ từ ngoài xã Tân Dân vào Đồng Châu khoảng 30km để lấy sắn tươi về cho gia đình ăn (mỗi tuần một lần vào ngày thứ bảy và chủ nhật). Hôm đó tôi khoe với bà, mẹ cháu đẻ em gái rồi, đặt tên là Nguyễn Thị Kim Thoa. Bà tôi nói ngay "Sao không đặt tên nó là Nhàn lại đặt tên là Thoa. Kim Thoa Thúy Kiều, hồng nhan bạc mệnh". Không ngờ bà nói đúng, em tôi 21 tuổi đẹp như tranh vẽ vừa mới có chồng, có con chưa đầy 1 tuổi, em đã vĩnh viễn ra đi (1986).
- Chẳng biết ông thầy phán kia phán có đúng không, nhưng ngẫm cuộc đời tôi khổ thật. Nhà nghèo lắm, em đông, bố yếu mẹ hiền lành, chỉ biết ra đồng làm rồi về nhà theo tiếng kẻng của hợp tác xã nông nghiệp. Năm anh em trai chúng tôi lớn thằng nào ra chiến trường thằng ấy.Từ chống Mỹ đến chống bành chướng BK, có đâu giúp được mẹ cha. Năm 28 tuổi chưa lập gia đình, tôi đã phải lo ma cho bố, rồi năm sau tiếp lo ma cho ông nội. Dựng vợ gả chồng cho 3 người em xong tôi mới đi lập gia đình.
- Vợ tôi dân vùng Chi Ngãi xã Cộng Hòa quả là con người đầy can đảm và nghị lực. Không hiểu nàng yêu tôi đến đâu nhưng đúng là ghé vai gánh vác gần như toàn bộ cái bè sắp vỡ lại phải kéo ngược dòng cùng với tôi. Bây giờ nghĩ lại quá khứ cuộc đời tôi sợ lắm, mà cũng tự hào lắm. Muốn tri ân lắm: Những người như mẹ cha sinh ra mình, như thầy cô dạy bảo mình, như vợ yêu ghé vai gánh vác với mình, như bạn bè yêu quý, như đồng đội thân thương.
- Thật may mắn cho tôi có được trang: "Tri Ân Cuộc Đời" để dốc bầu tâm sự, gởi gắm yêu thương, trăn trở cuộc đời. Xin cám ơn "Tri Ân", cám ơn dự án 1044. Tôi thật sự xúc động khi biết mình không bị bỏ rơi. Ôi! thầy cô tôi, đồng đội tôi, bạn bè tôi những người tưởng như thánh thiện. Phải chăng cũng nhờ sự hướng thiện từ ban đầu ông nội tôi mong muốn mà cuộc đời tôi có hồi kết không tồi?. Cho dù chưa có tới đâu.
- Một lần nữa Thảo tôi xin biết ơn tất cả những tình cảm tốt đẹp đã ưu ái dành cho Thảo, đến với Thảo.

Xin chân thành cảm ơn!

Đồng Nai - 3/8/2011.

CHUYỆN BẠN BÈ TÔI

THÀY.. SỐ- 6

        Trở lại chuyện của hắn. Như đã kể, hơn một lần hắn đã từng than thở: “tao không có số làm quan”. Nhưng hình như không phải như vậy. Mà có lẽ số hắn phát muộn chăng?.
          Số là, sau lần phục viên thứ hai về quê, khi đang chúi mũi, chúi lái vào cái vườn rau thì hắn lại được bầu làm bí thư chi bộ và trưởng thôn Chi Ngại 1 (tức là khoảng 1/3 làng Ngái, trong đó có phố Ngái). Thực tình thì hắn cũng chẳng thích gì, song trách nhiệm đảng viên thì phải nhận thôi. Ấy nhưng hắn lại làm tốt chức trách và càng ngày càng có uy tín mới chết chứ. Chính vì vậy, sau một nhiệm kỳ thì hắn trúng cử vào đảng ủy xã.
          Thực ra, chất lượng ĐV ở nông thôn ngày nay thế nào thì không nói mọi người cũng rõ. Với một đầu óc, trình độ, kinh nghiệm như hắn thì việc hắn trở thành một ngôi sao sáng cũng là lẽ thường tình. Nhiệm kỳ tiếp theo, hắn được bầu vào Thường vụ ĐU, được phân công làm chủ nhiệm HTXNN. Chẳng biết làm cái chức này hắn có giúp gì được cho bà con nông dân quê tôi không nhưng tôi thấy hắn lại hay phải làm những việc tay trái. Mặc dù làm công tác này, nhưng vì có khả năng viết lách, ăn nói lại đâu ra đấy nên hắn còn được phân công giúp Ban tuyên giáo viết giáo trình “Lịch sử quê nhà” để đưa vào giảng dạy ở Trường tiểu học và THCS của xã nữa mới oách chứ. Những dịp trọng đại của địa phương, các xếp đầu lĩnh vẫn phải nhờ hắn viết hộ diễn văn, báo cáo. Còn các đợt học tập nghị quyết này khác thì hắn lại được phân công làm giảng viên chính nữa cơ v.v… nên càng oách
          Thế là hắn đã nên quan, dẫu chưa to nhưng cũng đã thấy suốt ngày sáng cắp cặp đi, chiều cắp cặp về, lại họp hành suốt. Xã tôi là xã cũng khá giàu có, nhiều nguồn thu nên chắc cán bộ cấc cấp cũng có tý màu nên thấy hắn cũng tươi tỉnh ra nhiều. Và có lẽ vì các con cũng đã có thu nhập nên giờ vợ chồng hắn nhàn lắm, cái vườn trước đây rau củ xanh tốt quanh năm thì giờ đây chỉ còn lèo tèo vài gốc cây ăn quả. Cho đến kỳ ĐH vừa rồi, vì cũng đã cao tuổi nên không “cơ cấu” vào ĐU nữa nhưng vẫn giữ chức Phó ban Tuyên giáo. Tôi lại thấy tiếc cho hắn.. Giá như là dân chính gốc, thành phần cơ bản, lại chịu khó dây mơ, rễ má…. Thì hắn trúng bí thư, chủ tịch như chơi.

13- Làm quan rồi, các con cũng đã lớn và có công ăn việc làm nên hắn nhàn hơn nhiều. Có lẽ vì vậy mà hắn bắt đầu trở lại với cái thú vui đọc sách từ ngày còn trẻ. Mặc dù ở nông thôn nhưng hắn là loại chịu khó mua sách và đọc sách. Hồi trước chủ yếu hắn tìm đọc là những sách hướng dẫn về chăn nuôi, trồng trọt. Sau này, hắn lại để ý và cực kỳ thích thú với những loại sách về tướng số. Trong các môn tướng số đó, hắn khoái nhất môn “Tứ trụ” .
          Còn theo hiểu biết của tôi (qua những lần được hắn chỉ giáo) thì đó cũng là môn xem tướng số dựa trên  năm, tháng, ngày, giờ sinh thôi. Mỗi dữ kiện đó được gọi là 1 trụ nên thánh Tứ trụ. Môn này cũng được gọi là “bát tự” nghĩa là “tám chữ”- gọi thế bởi vì mỗi trụ trên đều gồm 2 chữ: 1 là Thiên can và 2 là Địa chi. Chẳng hạn một người sinh vào giờ Quý Mão, ngày Tân Hợi, tháng Ất Tỵ, Năm Kỷ Sửu. Thế là cuộc đời của người ấy gói gọn trong 8 chữ trên. Cũng dựa vào ngày giờ tháng năm sinh song Tứ trụ khác với Tử Vi. Trong môn Tử vi thì là phải lập lá số dựa trên các dữ liệu trên rồi căn cứ vào vị trí cũng như tính chất các chính tinh, phụ tinh ở từng cung rồi phán đoán (như thày dkSG đã chỉ giáo) thì trong Tứ trụ chỉ quan tâm đến tương sinh, tương khắc ngũ hành giữa 8 chữ trên mà luận đoán. Nào là tương quan giữa Thiên can với Địa chi trong từng trụ, nào là tương quan giữa trụ này với trụ kia…. Và trên cơ sở đó suy ra số mệnh mỗi người. Thế là hắn mua ngay (nhờ cả tôi mua hộ) cả đống sách loại này về nghiên cứu. Thôi thì đủ cả: “Luận đoán theo tứ trụ”, “Thiên thời địa lợi nhân hòa”, “Mai hoa dịch số” v.v… Mà có vẻ như cái món này lại hợp với khả năng suy luận và tư duy của hắn thì phải. Cái năng khiếu toán học từ xưa giờ bỗng trỗi dậy và có đất dụng võ mới. Vì vậy hắn nhập tâm cũng nhanh, rồi phân tích đâu ra đấy và dự đoán nghe cũng thấy được được. Hắn nghiên cứu và thực hành một cách rất khoa học, có đối chiếu với người thật việc thật, ghi chép lại rồi tổng kết rút kinh nghiệm. Cái tài này dần dần cũng được nhiều người biết đến và nhờ hắn xem hộ (tất nhiên mới chỉ trong phạm vi hẹp).
          Mỗi lần gặp nhau, nói đến đề tài này thì tôi cứ hoa hết cả mặt mũi lên vì những phân tích thao thao bất tuyệt “rối tinh măng miến” của hắn. Nói cho công bằng là tôi chẳng hiểu gì cả nên chỉ cười và bảo: “Có khi mày lại trở thành một Thiệu Vĩ Hoa ( bậc thày trong môn này ở TQ) của VN đấy” thì hắn cười bí hiểm: “Biết đâu đấy, có khi thế thật!”.
           Ừ! Chả nói trước được. Biết đâu từ thày… số học ngày xưa hắn lại trờ thành một thày… tướng số thực thụ trong tương lai gần.
          Hắn đây ạ! Chắc nhiều người sẽ nhận ra:

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Tri ân

       
       Cám ơn thầy Đỗ Đăng Biên
Dày công chăm sóc thành viên xóm mình    
“ Suối nguồn tươi trẻ” dưỡng sinh
Dẻo dai thân thể, tuệ minh tâm hồn

       Ngày ngày luyện tập đều hơn

5 thức 7 nhịp lên dần 13

       Mỗi tuần thêm một khỏe ra

Hình như cũng có trẻ ba, bốn phần.

     Cám ơn Blog Tri ân

Cám ơn thầy giáo tận tâm xóm mình!

1/8/2011

VA


Ở BIỂN NHA TRANG

Dầm mình trong biển Nha Trang
Giật mình nghe sóng nhà giàn DK
Vẳng vần thơ CHẾ*xót xa
Thương người cứu nước không nhà ngủ hang **

thanhdalanghop 7-2011
--------------------------------------


*CHẾ LAN VIÊN:
** tôi đến Nha Trang ngắm trời biển đẹp
có hay đâu hang Pắc bó gió lùa

HÌNH ẢNH TRI ÂN TẠI ĐÀ LẠT









Những ngày cuối tháng 7/2011, cuộc gặp Tri Ân phía Nam diễn ra tại Đà Lạt nhân dịp đám cưới cháu Hồng Nhân - con gái anh Nguyễn Duy Nghị. Cũng trong dịp này, Dự án 1044 đã trao máy tính cho anh Nguyễn Xuân Thảo.
QUÊ HƯƠNG TUỔI THƠ !

Quê hương sâu thẳm cõi lòng,
Dẫu đi muôn dặm vẫn không xa rời.
Quê hương ấm áp tình người ,
Tuổi thơ gắn bó muôn lời yêu thương .

Quê hương hoài niệm vấn vương ,
Bờ tre, bến nước,con đường ven đê .
Bến đò ,quán chợ,đi về ,
Liêu siêu vách đất tình quê mặn nồng .

Đêm trăng đổ nước nghiêng đồng,
Hẹn hò đôi lứa một lòng thủy chung .
Trăng vàng vui bước đi cùng ,
Đêm về khắc khoải dầu lòng tương tư .

Quê hương ơi! Tuổi ấu thơ,
Bao năm xa cách vẫn chờ…đợi…mong…
Tuổi thơ dấu kín trong lòng ,
Mang theo nỗi nhớ đi cùng tháng năm !...
                        
                            M.T
                Đông Triều 8-2011

CHUYỆN BẠN BÈ TÔI

THÀY... SỐ- 5

       Tôi cũng không nhớ nổi là sau bao nhiêu lâu nữa nhưng có lẽ cũng phải mất hàng năm kiên trì chiến đấu hắn mới đóng được chừng gần hai ngàn viên gạch. Nhìn đống gạch cứ hàng ngày đày lên hắn hý hửng lắm: “Kiểu này đóng cố thêm vài trăm viên rồi bán đi cũng được ít tiền để mua ngói”. Tôi thì lắc đầu lè lưỡi: “Vừa vừa thôi không thì đóng gạch xong không còn sức mà làm gì nữa đâu”. Nói vậy nhưng khi thấy số gạch đã hòm hòm, hắn cũng thôi không đóng nữa. Chắc cũng “oải” quá rồi.
Vật liệu đã hòm hòm, hắn quyết định làm nhà. Và thế là huy động tất cả những gì tích cóp được cùng với sự giúp đỡ của anh em, bè bạn hắn đã xây được 2 gian nhà tường gạch ba- banh, mái ngói. Quãng cuối năm 80, có một ngôi nhà như thế cũng khá là “oách” rồi. Như các cụ đã nói “có an cư mới lạc nghiệp”. Ổn định được chỗ ăn, chỗ ở đàng hoàng rồi người ta mới có thể tích lũy và sắm sửa những thứ khác cho cuộc sống. Và đúng là thế thật. Không phải canh cánh lo về cái nhà, đồng lưong của hắn giờ để sắm sửa thêm vật dụng nên trong nhà dần dần cũng có thêm các vật dụng cần thiết. Các con- bây giờ thêm 1 đứa con gái nữa là 3- cũng đã lớn dần lên. Nhà dã có bát ăn, bát để. Giai đoạn lầm than nhất trong cuộc đời hắn dường như đã trôi qua. Hắn đã có thể mơ đến một tương lai tươi sáng hơn. Dạo này về gặp hắn đã thấy hắn bắt đầu có da, có thịt và cái cười cũng đỡ méo mó hơn.
          Cứ ngỡ cuộc đời một SQ “bộ đội xóm” cứ thế êm đềm trôi qua thì đùng một cái, hắn lại nhận được quyết định phục viên. Thật tình, tôi cũng khá bất ngờ khi biết tin này. Cứ tưởng với khả năng của hắn, hắn sẽ được trọng dụng, sẽ phát triển và biết đâu lại lên được huyện trưởng, huyện phó. Nhưng ai mà lường hết được mọi chuyện. Sau này tôi mới biết rõ hơn: hắn làm được việc nhưng cũng là cái thằng gai ngạnh. Giống đời, thằng nào mà cái đầu không chỉ để đội mũ thì thường đa sự, gặp việc không vừa mắt là phát biểu thẳng tưng rồi phê phán, góp ý này nọ. Tất nhiên là với mục đích hết sức trong sáng- muốn làm cho công việc được trôi chảy hơn, tốt đẹp hơn song vẫn bị đồng loại chụp cho cái mũ kiêu căng, gai ngạnh… Lại quá tự tin vào mình, không thèm “nhập” vào dây, vào rợ nào nữa thì ra đi sớm là phải. Hắn thì chỉ cười buồn: “Đúng là tao không có số làm quan”.

     Thực tình, lần xuất ngũ này cũng làm cho hắn cảm thấy hẫng hụt mất một thời gian. Nói gì thì nói, ở nhà quê có cái mác “thoát ly” hay sỹ quan nó cũng oai oai một tý, bọn quan xã nó cũng nể mặt hơn so với đám dân đen. Đã thế, thu nhập lại khá ổn định, dẫu rằng đồng lương có thấp một tý nhưng còn có đồng ra, đồng vào, muốn mua sắm cái gì cũng dễ dàng hơn bà con nông dân.
           Tuy nhiên, hắn cũng chẳng có nhiều thời gian để gặm nhấm nỗi buồn bởi cái đoàn tàu ở đằng sau còn khá nặng. Sự nghiệp xây dựng kinh tế vừa mới manh nha, bước đầu đi vào ổn định nay lại chuyển hướng nên có phần chung chiêng rất cần bản lĩnh của hắn. Thế là hắn lại lao vào công việc. Bây giờ thì hắn đã dứt hẳn nghề rèn rồi mà chỉ chuyên tâm vào làm ruộng mà thôi. Thực ra, các kỹ thuật của nhà nông VN ta cũng không có gì phức tạp lắm nên với đầu óc của mình, chỉ đôi, ba năm là hắn đã trở thành một lão nông tri điền. Ngoài làm ruộng, hắn còn chú trọng đến canh tác trên cái vườn nhà. Về vụ này, mặc dù chẳng biết mô tê răng rứa cái chi chi song tôi cũng nhiệt tình khuyến khích hắn, lại còn viện dẫn ra cái câu mình nghe lỏm được từ sách vở: “Các cụ bảo: “Thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên, thứ ba canh điền”. Mày có cái vườn đẹp thế này cứ chuyên tâm vào đó sẽ có kha khá tiền đấy”.
          Cũng may, khi xin chuyển đến chỗ mới hắn được một diện tích khá rộng (hình như hơn 2 sào) cho nên ngoài diện tích làm nhà, làm sân  thì còn một cái vườn khá rộng. Theo phương châm lấy ngắn nuôi dài, hắn quyết định trồng rau màu trước, mà chủ yếu trồng các loại rau có giá trị cao như súp lơ, cần tây v.v.... Đất tốt, chịu khó chăm bón, phân gio, bắt sâu, làm cỏ v.v… nên rau nhà hắn tốt lắm, trông rất thích mắt. Song cũng phải nói thật là trồng rau so với trồng lúa thì vất vả và tỷ mẩn hơn nhiều. Nhưng với động lực duy nhất là kiếm tiền thì có mệt cũng phải làm và hắn đã làm khá tốt. Trong vụ này phải kể đến công lớn của vợ hắn. Vẫn nhỏ bé, mảnh mai, lại dính bệnh hen suyễn sau ba lần sinh nở nhưng dường như sức lực ở con người này là vô tận. Hầu như lúc nào tôi thò mặt đến nhà hắn cũng thấy cô ta đang làm một việc gì đấy. Đúng là một hình mẫu điển hình của người phụ nữ nông dân VN.

          Nhờ tích cực, cần mẫn như vậy, mấy năm sau khi làm nhà cuộc sống của gia đình hắn đã mát mặt hơn nhiều. Nhưng hắn có phần không vui vì 2 thằng con trai của hắn không mặn mà lắm với việc học tập. Nói cho công bằng, về mặt IQ của chúng không đến nỗi nào, thằng thứ hai lúc hơn chục tuổi cũng đã đánh cờ ngang ngửa với bố. Nhưng có lẽ lúc chúng bắt đầu đi học và cả tuổi thơ của chúng là những tháng ngày gian nan, nghèo khổ nhất của gia đình nên sự học của chúng không được bố mẹ quan tâm. Ngoài ra, có lẽ cũng đã hình thành trong chúng tâm lý học giỏi cũng chẳng làm gì (bố chúng ngày xưa học giỏi có tiếng mà giờ thì cũng chỉ thế này. Vậy nếu chúng có học giỏi bằng bố thì cũng chỉ được như bố là cùng chứ gì!). Thế cho nên chúng không thích học mà chỉ thích chơi. Biét hắn buồn, tôi động viên: “Xét cho cùng, có học rồi thì cũng phải học một cái nghề gì đó. Vì vậy, bọn chúng không thích học thì cho chúng đi học nghề”. Có vẻ bọn trẻ cũng thích như vậy nên khi bảo cho đi học lái xe là chúng vỗ tay nhiệt liệt. Và định hướng đó cũng có kết quả không đến nỗi nào.
          Cho đến giờ, thằng lớn đã có 2 con, thu nhập cũng khá. Khi thấy con đi làm đã có tiền, hắn cắt ra một nửa khuôn đất chia cho nó. Ban đầu, nó cũng xây một gian nhà nhỏ- tất nhiên bằng các loại vật liệu tốt hơn ngôi nhà của bố mẹ nhiều. Dần dà, nó làm thêm và đến Tết vừa rồi tôi về thấy ngôi nhà cũ đã nâng tầng. Bên dưới thì nối ra thêm 2 gian làm phòng bếp và công trình phụ. Nói chung khá ổn.
          Thắng thứ hai cũng theo học nghề lái xe. Sau mấy năm ôm xe nay cũng đã lấy vợ, có 1 con và đang ở chung với bố mẹ.
          Riêng con bé con gái út thì hắn nuôi chí quyết tâm cao là sẽ cho con học hành đến nơi đến chốn. Thực ra, khi cháu nó bắt đầu đi học thì cuộc sống gia đình hắn đã dễ thở hơn nên hắn đã quan tâm hơn đến việc học hành của con. Ngoài giờ cày cuốc hắn đã dành thời gian phụ đạo cho con nên con bé học cũng được. Tuy nhiên, khi đi thi ĐH thì cũng chỉ đủ điểm vào cao đẳng. Sau khi tốt nghiệp một trường CĐ ở Quảng Ninh, hắn xin cho con về làm ở Cty Trúc Thôn ngay quê nhà. Con bé làm việc ở Phòng kinh doanh, có tháng bán được nhiều hàng, được công ty thưởng đến hàng chục triệu. Hắn bảo: “Con nhà nông. Được thế này cũng là tốt lắm rồi!”. 

         (Còn nữa)