Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ

Đỗ Đình Tuân

                      Bài 4                               
Con người xương thịt và con người tinh thần


Con người xương thịt cần có cơm ăn, nước uống, khí trời … để duy trì sự sống. Mà bản chất của sự sống được Ăng ghen định nghĩa là một “quá trình trao đổi chất”. Quá trình trao đổi chất này cũng diễn ra giống như một phản ứng cháy. Nghĩa là cũng có sự nhận Ô xi - đốt cháy nhiên liệu - giải phóng năng lượng - và thải ra Các bô níc. Cái phần năng lượng giải phóng ấy được cung cấp cho các cơ quan trong cơ thể con người hoạt động. Khi “sự cháy” ấy không còn nữa thì cỗ máy cơ thể cũng “hết pin”. Quá trình trao đổi chất ngừng bặt. Đó là sự chết. Nhưng tùy địa vị xã hội của từng người, tùy thái độ của người nói đối với người chết mà tiếng Việt mình có rất nhiều chữ gọi: từ trần, tạ thế, khuất núi, về già, quy tiên, hai năm mươi, chầu giời, ngóm, toi, ngoẻo, ngoẻo củ tỏi…Đời con người thế là hết. Thế là đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng cũng chỉ là cách nói cho văn vẻ  thôi. Chứ cái xác ấy sẽ đứng trước hai khả năng: Thứ nhất, những người sống sẽ đem vùi xuống đất làm mồi cho thế giới vi sinh vật phân hủy. Mãi đến ba bốn năm sau họ mới lại móc lên. Đa phần thì hết thịt, chỉ còn có xương. Họ sẽ nhặt xương xếp gọn vào tiểu sành đem đi chôn chỗ khác. Hãn hữu, cũng có một đôi người, chẳng rõ là tội tình gì, mà các “ngài vi sinh vật” lại không chịu ăn thịt đi cho. Thì eo ôi, nhầy nhụa lắm! Khả năng thứ hai, họ sẽ đưa vào lò điện táng. Kiểu này nhanh hơn. Chỉ vài tiếng sau thôi,  hoặc sẽ thành xương khô, hoặc sẽ thành tro cốt. Cái con người xương thịt này, cả khi sống lẫn khi chết, đều có thể cân đong đo đếm được. Mà cái ông “thợ trời” cũng giỏi chế tác lắm. Trên 6 tỷ, gần 7 tỷ người rồi mà về cơ bản vẫn mỗi người mỗi vẻ. Ngay cả ở những người “giống nhau như đúc”, nhưng nếu cứ ở gần, sống quen, tiếp xúc với họ thường xuyên, ta vẫn nhận ra cái khác biệt giữa họ. Khác nhau, nhưng lại vẫn giống nhau, vẫn là người, chứ không thành hình nhân, không thành khỉ…Thế mới tài chứ. Cái tính chịu khó “luôn luôn làm mới mình, không chịu copy lại mình” của cái ông “thợ trời” này thật đáng nể. Các nhà nghệ sĩ nặn tượng, các ông nhà văn viết truyện, viết tiểu thuyết, phải miêu tả nhân vật có mà học bơi ra cũng chưa hết tài của cái ông “thợ trời”.
Cùng tồn tại với con người xương thịt, còn có một con người nữa, vô hình vô ảnh, không cân đong đo đếm được. Nhưng có thật. Đó là con người tinh thần, con người văn hóa. Ta yêu hay ta ghét, ta khinh hay ta trọng… đối với một con người nào đó, lý do chủ yếu là do cái con người tinh thần, con người văn hóa này. Nếu chỉ tính riêng phần thân xác, con người chúng ta thua xa nhiều loài động vật, cả về cân nặng và sức vóc. Vậy mà con người lại chỉ huy được tất cả, làm chúa tể được tất cả. Rõ là một nghịch lý? Cho nên thấy một con trâu to khỏe lại phải ngoan ngoãn vâng theo sự sai khiến của một anh nông dân, hổ ta  rất thắc mắc và hỏi trâu rằng: “ Sao anh to khỏe thế mà lại để cho con người bé bỏng thế kia sai khiến?”.  Trâu mới trả lời: “ Người bé nhưng người có trí khôn”. Hổ ta càng tò mò đẫy bèn ra hỏi anh nông dân: “Trí khôn của người đâu, cho ta xem được không?” – “Trí khôn ta để ở nhà. Hổ muốn xem thì hổ phải bằng lòng để ta trói hổ lại, ta sẽ về lấy trí khôn ra cho hổ xem”-“Nhưng sao lại phải trói ta?”- “Khi ta về, hổ bắt trâu ta ăn thịt mất thì sao, ai tin được?”. Thấy hợp lý hổ ưng thuận liền. Thế là anh nông dân lấy chão trói chặt hổ vào gốc cây, tháo bắp cày táng cho hổ một trận: “Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!...”. Đánh chán, anh ta mới đi lấy cỏ khô chất xung quanh mình hổ và cho một mồi lửa. Lửa cháy lèm lèm bắt cả vào lông hổ. Hổ vô cùng hoảng sợ cố vùng vẫy để thoát ra. Cũng may, lửa cháy làm chão đứt, hổ mới vùng chạy được. Còn trâu ta chứng kiến cảnh đó thì thích chí quá cười tít cả mắt lại. Không may, khuỵu chân ngã vập miệng vào một tảng đá, gẫy cả mất hàm răng. Người ta bảo sở dĩ bây giờ lông hổ vẫn còn những vết vằn đen và loài hổ rất sợ lửa chính là di chứng của cái trận đòn này. Còn trâu ta không có răng cũng là di chứng của cái trận ngã ấy. Đây chỉ là một câu “truyện ngụ ngôn” do con người bịa ra chứ đâu phải là sự thật. Nhưng “lẽ phải” gói trong câu chuyện thì lại là có thật. Đúng là sức mạnh của con người không nằm ở cơ bắp. Sức mạnh của con người nằm trong trí tuệ, là sức mạnh của “trí khôn”.
Trong câu chuyện “Tình yêu và Thượng đế” thì con người còn đi xa hơn: con người còn chiến thắng cả “đấng tối cao”, nắm trong tay “muôn phép lạ nhiệm mầu”  và sở hữu “tuổi thanh xuân vĩnh cửu”. Khác với khi sáng tạo ra muôn loài, khi sáng tạo ra con người, Thượng đế đã có ý ngầm thử thách đối với con người rồi. Ngài chỉ nặn ra một chàng trai và một cô gái, giao cho họ thêm một gói hạt giống, để họ giữa trần gian hoang sơ và bảo rằng: “Các ngươi phải tự tìm lấy cách duy trì nòi giống và nuôi sống các ngươi. Một năm sau ta sẽ xuống kiểm ta.”. Y hẹn, một năm sau, cùng với một vị tiểu thần tháp tùng, Thượng đế xuống trần gian thật. Chỉ thấy có một túp lều tranh, một đôi vợ chồng trẻ và một đứa bé sơ sinh đang nằm  trong nôi. Đôi vợ chồng trẻ vẫn nhìn say nhau không dời mắt. Từ trong ánh mắt ấy Thượng đế thấy toát ra một vẻ đẹp mà bản thân Thượng đế cũng chưa thể sáng tạo ra được. Thượng đế đánh giá rất cao vẻ đẹp đó coi là “Đẹp nhất cõi vô cùng / Hơn mọi vườn tiên bát ngát / Hơn cả vừng dương lúc hừng đông”. Thượng đế quá ngạc nhiên và choáng ngợp, hỏi vị tiểu thần thì vị tiểu thần ấy cũng khẳng định đó là vẻ đẹp của tình yêu con người. Thượng đế đã khẩn khoản đề nghị chàng trai truyền dạy cho ngài để ngài cũng “biết yêu”. Nhưng không rõ là vì  quá mải yêu vợ hay vì tình yêu là thứ không thể truyền dạy được mà chàng trai đã phớt lờ cái đề nghị của Thượng đế. Nhưng Thượng đế lại coi đó là một sự vô lễ và xúc phạm ngài nên ngài đã quyết định trừng phạt tình yêu bằng cách bắt con người phải già đi theo năm tháng “Để xem cái gọi TÌNH YÊU ấy / Còn đẹp được chăng mãi thế a?”.
Nửa thế kỷ sau Thượng đế mới lại xuống thị sát. Chiếc lều tranh khi xưa đã được thay thế bằng một “tòa nhà gỗ”. Đôi vợ chồng trẻ ngày xưa nay đã thành một đôi già da mồi tóc bạc. Xung quanh họ là một đàn cháu nhỏ, nội có, ngoại có, nô đùa vui vẻ “Ríu rít như bầy chim sơn ca”. Cảnh rừng núi hoang vu đã được thay bằng cảnh xóm làng trù phú giữa một mùa vàng bội thu: “Trên đồng thánh thót khắp nơi nơi / Trai gái vừa làm vừa hát vui / Lúa trải sắc vàng ra bất tận / Mênh mông như đến chạm chân trời”. Nhưng cái chính mà Thượng đế muốn kiểm chứng trong chuyến đi này là xem ngón đòn trừng phạt tình yêu của ngài từ năm mươi năm trước có hiệu quả gì không? Tiếc thay thời gian, tuổi tác và sự già nua lại không thể làm cho tình yêu lụi tàn. Trái lại nó càng đẹp thêm lên. Trong ánh mắt nhìn nhau của họ Thượng đế thấy ngoài vẻ đẹp của tình yêu nồng thắm, giờ đây còn ánh lên thêm một vẻ đẹp mới: vẻ đẹp thanh khiết của lòng chung thủy. Lòng ganh ghét của Thượng đế bị kích động, ngài lập tức ra đòn trừng trị tình yêu của con người bằng “cái chết”: “Thượng đế run lên vì giận giữ / Tuổi già chưa đủ hỡi con người / Ta sẽ bắt các ngươi PHẢI CHẾT / Phải xương khô mồ lạnh chôn vùi”.
Ba năm sau Thượng đế lại xuống. Bà già đã thành một nấm mồ. Ông già một mình đơn côi ngồi ấp mộ, mặt buồn rười rượi đăm chiêu nhìn xuống nấm mồ. Từ đôi mắt già nua và khổ não ấy thỉnh thoảng lại chắt ra một giọt lệ như sương rơi xuống . Qua những giọt lệ ấy, Thượng đế không những chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của tình yêu, của lòng chung thủy, mà bây giờ còn thấy ánh lên cả vẻ đẹp của SỰ VẸN TOÀN BẤT DIỆT. Bây giờ thì Thượng đế đã hết sách. Ngài run lên vì sợ hãi bèn đành cúi đầu quỳ gối trước ông già, đàm phán mà cả một cuộc trao đổi bán mua. Ngài chấp nhận mang toàn bộ gia sản mà ngài có từ “tuổi thanh xuân vĩnh cửu” đến “muôn phép lạ nhiệm mầu” chỉ cầu đổi lấy được “tình yêu của cõi người” mà ông già đang nắm giữ. Nhưng khổ thay cho Thượng đế,  trong gia sản của ngài không có cái gọi là “cái chết” vốn là thứ cơ hồ có thể ngang giá được với “Tình yêu ven toàn bất diệt của cõi người”. Đó là cái lý do khiến cuộc “đàm phán” của ngài với ông già đổ vỡ. Không còn cách nào khác Thượng đế đành phải trở về với cõi vô cùng, hoang vắng  và cô đơn, trả lại xứ TRẦN GIAN ấm áp, đông vui và diễm lệ cho con người cai quản.
Câu “Truyện dân gian” TÌNH YÊU VÀ THƯỢNG ĐẾ đâu chỉ đơn giản kể lại câu chuyện tình đầu tiên của nhân loại. Điều quan trong hơn là thông qua câu chuyện tình ấy, nó bổ sung thêm một nét lớn trong sức mạnh tinh thần của con người: ngoài “trí khôn” ra còn cần phải có “tấm lòng” nữa. Mà theo như diễn giải của câu chuyện thì nội dung của “tấm lòng” đó chính là tình yêu thương giữa con người với con người, là lòng thủy chung son sắt trước sau như một, là đức hy sinh vừa như một hệ quả, vừa như một điều kiện cần để đảm bảo cho tình yêu được thực hiện.

2/8/2011


ĐƯỜNG  THƠ
Ba vần tứ tuyệt học mà chơi,
Ý tứ thanh cao thật tuyệt vời,
Cú pháp gieo vần luôn chuẩn mực
Ngâm nga một khúc đẹp từng lời.
Đường thơ sáng mãi ở trên đời,
Đã mấy ngàn năm chẳng nghỉ ngơi
Bát cú đi vào trang sách quý
Thi ngôn rung động trái tim người./.

                              Hà  Nội : 2000
                                 Cẩm  Tú
  TÌM   LẠI   DÁNG   XƯA 
 
 
Ta về tìm lại dáng xưa,
Dẫu được một chút nắng mưa vẫn tìm.
Dáng xưa dù đã ngủ yên,
Cũng đánh thức dậy động viên tuổi già.
                                  
 Cẩm Tú 
 12-4-2010

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

HƯỚNG DẪN ĐĂNG BÀI - SỬ DỤNG YAHOO!

Hướng dẫn đăng bài - Sử dụng Yahoo để chat, gọi thoại, gọi video




Để xem toàn màn hình bấm vào nút  ở góc phải dưới cùng màn hình
Để quay lại chế độ thu nhỏ bấm phím ESC ở góc trái trên cùng của bàn phím

HƯỚNG DẪN SOẠN THẢO VĂN BẢN

THU
CHƠI CÂY CẢNH

Muôn đời xanh vẫn tươi xanh,
Cây ôm núi đá tựa hình non sơn .
Cây có gộc, nước có nguồn ,
Đứng trong bể cảnh, ngắm hình nước non .
“Bạt phong”vật lộn sống còn ,
“Hồi đầu”về cội bảo tồn tháng năm .
“Thế trực”đứng thẳng hiên ngang ,
Ung dung tự tại chẵng màng quan tham .
“Tam đa “phú quý giàu sang ,
Ươc mơ thành đạt,vẻ vang vẹn toàn .
“Ngũ phúc” con cháu quây quần .
Tình sâu nghĩa nặng muôn phần yêu thương .
“Cửu phẩm”gia tộc thọ trường ,
Lưu truyền trăm họ yêu thương muôn đời .
Cây cảnh nặng nghĩa, tình người…
 
“Cảnh nào, cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.”
(Truyện Kiều N.D)
 
M.T

NGẪU HỨNG ĐỌC VĂN TRI ÂN



                                                                       Thằng khổ nhận máy tính ở Đà Lạt

Thằng sướng viết về thằng khổ:
            HAY!
Thằng khổ viết về thắng sướng:
           TUYỆT!
Cứ viết được thế này
Đọc hay như TIỂU THUYẾT!

4/8/2011
Đỗ Đình Tuân

                              

NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ THƠ

Đỗ Đình Tuân
Bài 3
Hồn người trong thi ca

Tâm hồn con người là một thế giới trừu tượng và đầy huyền bí. Con người nhận ra nó nhưng không thể dùng ngũ giác để cảm nhận được. Không ai nhìn thấy tâm hồn mình hay tâm hồn người  khác to nhỏ, vuông tròn, xanh đỏ?. Cũng không ai sờ được tâm hồn mình hay tâm hồn bạn nhẵn nhụi, gồ ghề hay nóng lạnh? Tương tự cũng không ai có thể ngửi, nghe, hoặc nếm được tâm hồn của ai. Khi Tố Hữu viết: “Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu / Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng”, thì chữ “nghe” ở đây cũng đã được chuyển nghĩa đi rồi. Chẳng ai hiểu chữ “nghe” ấy theo nghĩa đen (sự nhận biết âm thanh bằng tai) mà chỉ hiểu nó theo nghĩa bóng: sự nhận biết bằng tâm thức. Trong truyện tiếu lâm ngày xưa cũng thế, đã từng có một anh chàng biết “ngửi văn” mà lại “ngửi” rất chính xác. Hàng xóm nhà anh ta có một anh “nhà văn”, viết văn thì rất dở nhưng lại hay khoe khoang, khoác lác. Một hôm nhà văn nọ quyết định thử tài “ngửi văn” của anh hàng xóm. Đầu tiên anh ta gói bộ Tam quốc vào một bọc rồi đưa anh nọ ngửi. Anh hít hít mấy cái rồi trả lời “Đây là bộ Tam quốc chí”. Sao anh biết? – “Vì tôi ngửi thấy mùi binh đao”. Anh ta lại gói bộ Hồng lâu mộng rồi đưa cho anh nọ ngửi. Anh cũng đưa lên mũi hít hít vài cái rồi trả lời “Đây là bộ sách Hồng lâu mộng”. Nhưng sao anh biết?- “Vì tôi ngửi thấy mùi son phấn”. Cuối cùng anh nhà văn gói bộ sách của mình vừa viết xong đưa cho anh nọ ngửi. Anh ta cũng hít hít vài cái rồi trả lời ngay tắp lự: “Đây là sách của anh, đúng không?”. Nhưng vì sao anh biết?-“Vì tôi ngửi thấy mùi thum thủm”!!! Tất cả những chữ “ngửi” rồi “mùi binh đao”, “mùi son phấn”, “mùi thum thủm” đều chẳng có một chữ nào mang nghĩa thật cả. Nó đều là những ẩn dụ của những ý tứ sâu kín trong cõi hồn người mà biến hóa thành. Nói tâm hồn con người gồm “thất tình” hay “cửu tình” thì cũng chỉ là phân loại một cách rất chung chung thôi chứ đi vào từng “chữ” còn có thể chẻ nhỏ ra thành rất nhiều “tiểu chữ”, và càng thành rất nhiều những biểu hiện cụ thể. Chẳng hạn như chữ “Ái” có thể chia thành “Luyến Ái”: tình yêu lứa đôi giữa một trai với một gái; “Nhân Ái”:tình yêu của một người với mọi người trong đồng bào, đồng loại; “Ái Quốc”: tình yêu của mỗi người với non sông đất nước mình…Ngay trong “Luyến Ái” thôi, cũng không biết bao nhiêu là trạng thái cụ thể. “Thân em như tấm lụa đào / Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”: mới chỉ là một trạng thái bâng khuâng chờ đợi của người con gái muốn được yêu. “Sáng đi bóng hãy còn dài / Trưa về bóng đã nghe ai bóng tròn” thì đã thấy trong đó sự ngỡ ngàng trách cứ với sự thay lòng đổi dạ rồi. “Thương anh em cũng muốn theo / Em sợ anh nghèo anh bán anh đi / Lấy anh em biết ăn gì / Lộc sắn thì chát lộc si thì già / lấy anh không cửa không nhà / Không cha không mẹ biết là cậy ai” là một nỗi băn khoăn giằng xé giữa “thương” và “sợ” đến tội nghiệp và đáng thương. Nhưng ở “Ba đồng một mớ trầu cay / Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không / Bây giờ em đã có chồng / Như chim vào lồng như cá cắn câu / Cá cắn câu biết đâu mà gỡ / Chim vào lồng biết thưở nào ra” thì sự “lỡ nhịp” đã để lại một nỗi xót xa tiếc nuối đến quặn lòng…Trong tình yêu nước “tình yêu” lại thường gắn với “nỗi lo”: “Lòng vì thiên hạ những lo âu / Thay việc trời dám trễ đâu / Trống năm canh còn đọc sách / Chiêng xế bóng chửa thôi chầu” (Lê Thánh Tông). Trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp, tại núi rừng Việt Bắc, Chủ tịch Hồ chí Minh cũng đã nhiều đêm thao thức vì lo việc nước như thế: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa / Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa / Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ / Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Xem thế thì chữ “Ái” với chữ “Ưu” cũng gần nhau lắm.
Thơ ca thường biểu hiên tâm tư tình cảm con người bằng nhiều cách khác nhau. Khi thì gọi tên trực tiếp: “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ / Nhớ ai ai nhớ bây giờ  nhớ ai?”. Nhưng cái tài, cái khéo của câu thơ này là ở chỗ tác giả dân gian chỉ nhấn nhá, điệp đảo có mấy chữ thôi mà vẫn làm hiện ra một nỗi nhớ dây dưa, đay dứt đến không thể thoát ra được. Đúng là nỗi nhớ của những người đang yêu. Cũng có khi thì lại vừa gọi tên vừa miêu tả “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi / Như đứng đống lửa như ngồi đống than” Nỗi nhớ ở đây vừa được gọi tên: “nhớ” lại vừa được  miêu tả: “bổi hổi bồi hồi”, “đứng đống lửa”, “ngồi đống than”. Chính nhờ sự miêu tả mà người đọc cảm nhận được cái trạng thái cụ thể của nỗi nhớ ở đây thật bồn chồn và bức xúc. Nhưng đa phần trong thơ ca các tác giả chỉ sử dụng những ngôn ngữ hình ảnh để gợi ra cho người đọc tự cảm nhận. “ Từ nay góc bể chân trời / Nắng mưa thui thủi quê người một thân” đủ gợi ra lòng thương con đến đứt ruột của Vương Ông. “Nàng thì bằn bặt giấc tiên / Mụ thì cầm cập mắt nhìn hồn bay” đủ gợi ra nỗi sợ hãi của Tú Bà khi Thúy Kiều tự sát. “Cánh hồng bay bổng tuyệt vời / Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm” gợi ra nỗi nhớ của Thúy Kiều đối với Từ Hải…Đến rất nhiều những trạng thái phức hợp khác của tình cảm, cảm xúc của con người cũng đều đã được nghệ thuật thi ca biểu hiện một cách vô cùng phong phú và đẹp đẽ:
-Lá phong đỏ như mối tình nhuộm lửa
Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa
                                         Tế Hanh
-Tâm hồn tôi khi tổ quốc soi vào
Thấy ngàn núi muôn sông diễm lệ
Con ngọc trai đêm hè đáy bể
Uống thủy triều bỗng sáng hạt châu.
                                        Chế Lan Viên
-Đành hanh cái nắng chớm thu
Nửa như nhớ hạ nửa như giận mình
Gặp thu cũng muốn ngoại tình
Lại e sen muộn đầu đình ngóng trông
Cốm xanh vương vít trái hồng
Xóm bên người ấy lấy chồng phố xa
Chớm thu nắng đổ về già
Bao nhiêu mắt mở vườn na dậy thì…
                                     Trần Nhương
Ta có thể đọc thơ bắng mắt, nghe thơ bằng tai, cũng có thể kết hợp cả nghe với nhìn, nhưng thực chất vẫn là cảm nhận thơ bằng tâm thức. Bởi lẽ ngôn ngữ chỉ là một loại tín hiệu, tai mắt chỉ là bộ phận nhận tín hiệu. Còn giải mã và làm hiển thị, hiển thính các tín hiệu ấy thành hình ảnh, âm thanh…lại là do tâm não. Người làm thơ  thì khai thác hồn người mà chế tác ra các thi phẩm. Còn người đọc thơ thì lại từ các thi phẩm mà chế tác ra hồn người. Đọc thơ là một quá trình hồi sinh và nảy nở của tâm hồn con người. Nói người đọc thơ cũng là người đồng sáng tạo là vì thế. Nghệ thuật thơ ca tuy không trừu tượng như âm nhạc, không khó hiểu như hội họa nhưng cũng không hề đơn giản. Những người có đời sống tinh thần phong phú thì mới dễ nhận ra và cảm thụ được những phần tinh diệu của thơ và ngược lại. Nói đọc thơ là tự đọc mình và làm thơ là tự vẽ mình là nói ở cái khía cạnh này. Bởi lẽ “ người làm sao của chiêm bao làm vậy”. Không ai dấu được bộ mặt con người tinh thần của mình qua các thi phẩm cả. Người cầm bút cứ luôn phải thận trọng, công phu và tự khắt khe với mình là vì thế. Nhưng nếu vì lẽ đó mà lại buông bút thoái lui thì lại hoàn toàn không nên.
31/7/2011

NHẬT  KÝ  TRONG  MÂY


Sừng sững hiên ngang đứng giữa trời,
Hoàng Liên* một giải ngắm muôn nơi,
Si pan* đỉnh núi cao vời vợi,               

Cưỡi gió đùa mây rất thảnh thơi.
Khách đến thăm nhà tạm nghỉ ngơi,
Xa xa phía dưới trúc xanh tươi,
Đỗ quyên thắm đỏ trong mây trắng,
Ngắm cảnh non cao thật tuyệt vời./.

* Si pan : Đỉnh Fansipan cao 3143
* Hoàng Liên: Dãy Hoàng Liên Sơn 

                      Cẩm Tú     7/2011
 
ĐƯỜNG  THƠ

Ba vần tứ tuyệt học mà chơi,
Ý tứ thanh cao thật tuyệt vời,
Cú pháp gieo vần luôn chuẩn mực
Ngâm nga một khúc đẹp từng lời.
Đường thơ sáng mãi ở trên đời,
Đã mấy ngàn năm chẳng nghỉ ngơi
Bát cú đi vào trang sách quý
Thi ngôn rung động trái tim người./.

                              Hà  Nội : 2000
                                 Cẩm  Tú