Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

HỘI NGHỊ BAN CHẤP HÀNH (LÂM THỜI) CHI HỘI THƠ ĐƯỜNG LUẬT LỤC ĐẦU GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG( LẦN THỨ NHẤT)

Căn cứ quyết định số:08/2015-QĐ/HTĐ,ngày 14-3-2015 của chủ tịch hội Thơ Đường luật Việc Nam về việc công nhận chi hội thơ Đường “Lục Đầu Giang”tỉnh Hải Dương là chi hội thành viên,trực thuộc hội thơ Đường luật Việt Nam.Đồng thời,bổ nhiêm ban chấp hành (lâm thời) chi hội Lục Đầu Giang để điều hành chi hội từ nay đến khi đại hội toàn thể bầu ra ban chấp hành chính thức.
Sáng nay,ngày 2-4-2015,tại tư gia gia đình ông Tạ Anh Ngôi,khu Nhân Hưng,TT Nam Sách,tỉnh Hải Dương đã diễn ra phiên họp thứ nhất BCH (lâm Thời)chi hội thơ Đường Luật “Lục Đầu Giang”tỉnh Hải Dương.Toàn ban chấp hành chi hội đã có mặt đông đủ thống nhất một số công việc cần triển khai sớm trong thời gian từ nay đến ngày hội Thơ Đường toàn quốc được tổ chức tại tỉnh Bắc Ninh (27-4-2015) và những việc tiếp theo cho đến kỳ đại hội chính thức vào trung tuần tháng 9 năm 2015
Phiên họp thứ nhất ban chấp hành (lâm thời)chi hội thơ Đường “Lục Đầu Giang”tỉnh Hải Dương đã thành công tốt đẹp.Dưới đây là một số hình ảnh của buổi họp.Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc

 
 
 


Nhân Hưng,ngày 2-4-2015
Photo & Giới thiệu:Tạ Anh Ngôi

Thơ cũ đăng lại (7)



Hái thuốc

Mỗi sáng mặt trời mọc
Bác lại đi lên ngàn
Đội một chiếc mũ nan
Vận bộ quần áo cộc
Tay xách chiếc cuốc chim
Tay cầm con dao coắm
"Sách mẫu cây" dắt bụng
Len lỏi khắp rừng rậm
Bác chân đi mắt nhìn
Khi phát lá chặt cành
Khi đào cây cuốc củ
Khi cắt dây hái quả
Khi bóc lần vỏ xanh...

Một mình với một mình
Bác vui cùng hoa cỏ
Với tiếng chim gõ mõ
Với tiếng suối rì rầm
Đói ăn quả nắm cơm
Khát uống nước ngọn nứa
Những lúc người mết lử
Nhá một củ sâm mèo
Lại tỉnh và lại khỏe
Lại đi và lại leo...


              1982

Đăng lại
02/04/2015
Đỗ Đình Tuân 

LỜI GIÓ

'Em cùng múa nhé  ....'
Tháng ba khu mở hội chùa
Người về khấn vái...hương đưa ngát lòng
Mấy cô thôn nữ chưa chồng
Áo khăn nhung lụa thắm hồng múa vui
Lửng lơ câu hát ướm lời
Biết chăng non nước thề bồi có khi
Dùng dằng người ở người đi
Nghe câu quan họ gió thì xôn sao.
...
                                          VN

NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC

Ngày 02.4.1975

Chắc tình hình thành phố đã yên ổn rồi nên cấp trên cho chúng tôi về lại đội hình. Lúc này, Đại đội 3 cùng tiểu đoàn và Tiểu đoàn 1 đều đang ở bán đảo Sơn Trà. Vậy là buổi chiều muộn, cả đại đội hành quân qua cầu Trịnh Minh Thế sang bán đảo. Phải công nhận cây cầu khỏe thật. 4 chiếc xe tăng chạy với tốc độ cao mà nó chỉ hơi rung rung.
Ngày đó, cả bán đảo Sơn Trà là một căn cứ quân sự khổng lồ. Chỉ có các dãy nhà doanh trại và kho tàng, nhà xe... nối tiếp nhau chứ không hề có bóng nhà dân và người dân nào cả. Cả đại đội tôi vào ở một dãy doanh trại trống không chả biết của sắc lính gì. Đó là một dãy nhà cấp 4, trong lòng khá rộng- kê được 2 dãy giường sắt, một số còn cả đệm với vải bọc màu cỏ úa. Tường phía trước có cửa sổ rất rộng- chắc để đón gió biển. Phía sau là khu phụ dành cho bể tắm công cộng và nhà vệ sinh.
Đến nơi, sau khi nhận chỗ ở, dọn dẹp qua loa bọn tôi kéo nhau đi tắm một cái cho đã. Quần áo lúc này cũng mới được giặt giũ tử tế. Quên không kể chuyện mấy ngày nằm trong nội thành chúng tôi rất vất vả về khoản này. Trời thì nắng nóng, quần áo thì chỉ "nhất bộ" vì hôm 23.3- lúc dỡ cố định để đi đánh Núi Bông vội quá vứt cả ba lô xuống. Vì vậy, chúng tôi toàn phải đơi đến nửa đêm ra hứng nước ở vòi nước công cộng lau người qua loa thôi. Hôm nay ra đây mới được tắm cho ra tắm. Với lại chỉ có lính với lính nên giặt giũ xong quần đùi áo lót cũng được, thậm chí có tên còn tồng ngồng lên giường nằm chờ cơm vì giặt cả quần lót.






Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Dịch thơ Nguyễn Khuyến bài 122


Bài 122

Ngẫu thành 1
偶成
Ngẫu thành
擾擾江山一細塵
Nhiễu nhiễu giang sơn nhất tế trần
何為鼎鼎百年身
Hà vi đỉnh đỉnh bách niên thân
名夷利跖枯骸盡
Danh di lợi chích khô hài tận
歉朔盈侏俸祿均
Khiểm sóc doanh thù bổng lộc quân
翼趾角牙原有分
Dực chỉ giác nha nguyên hữu phận
夔蚿蛇目各相憐
Quỳ huyền xà mục các tương liên
細推運會知何極
Tế suy vận hội tri hà cực
當是鴻荒太古人
Đương thị hồng hoang thái cổ nhân
Ngẫu thành

Người ta như một hạt bụi nhỏ lởn vởn ở giữa núi sông
Cớ sao cái thân trăm năm cứ uể oải kéo dài mãi
Bá Di vì danh, Đạo Chích vì lợi, nắm xương 
                                                 khô đều không còn nữa (1)
Đông Phương Sóc thiếu, Thù nho thừa mà bổng  
                                                          lộc vẫn đều nhau (2)
Có cánh, có chân. Có sừng, có nanh mỗi loài
                                                             riêng một phận (3)
Con quỳ, con huyền, con rắn, con mắt vật nọ 
                                                          hâm mộ vật kia (4)
Xét kỹ vận hội biết rồi đến đâu cho cùng
Có lẽ lại trở lại thái cổ đời hồng hoang.
1.     Danh Di lợi Chích: Bá Di, con một vua chư hầu đời Ân. Chu Vũ Vương đánh Ân, giết vua Trụ. Bá Di cho là bất nghĩa, cùng với em là Thúc Tề vào ẩn ở núi Thú Dương hái rau vi mà ăn, không thèm ăn thóc nhà Chu. Sau cùng chết đói ở đấy. Bá Di điển hình cho tính trong sạch.. Đạo Chích là một tay trộm lớn ở đời Xuân Thu, đồ đệ đến 9000 người. Đi đến đâu cướp bóc trâu bò, bắt bớ phụ nữ, về sau chết ở gò Đông Lăng. Sách Trang Tử, chương Biền mẫu có nhắc đến hai người này và nói rằng: :Bá Di chết vì danh ở dưới núi Thú Dương, Đạo Chích chết vì lợi ở trên gò Đông Lăng, đều làm hại đến mạng sống, tổn thương đến chân tính”. Xét về mặt ấy, thì hai người như nhau không hơn kém gì.
2.     Đông Phương Sóc và Thù Nho: Đông Phương Sóc làm quan ở triều Hán Vũ Đế, đồng thời có thù nho là , (người bé nhỏ) cũng được ăn lương ngang với Sóc. Một hôm Sóc tâu với Vũu Đế rằng: “Thù Nho mình dài có ba thước, ăn lương một bì thóc và 240 đồng tiền. Sóc này mình dài chín thước, ăn lương một bì thóc và 240 đồng tiền. Thù Nho đến chết no mất, Soca này đến chết đói mất!”
3.     dực chỉ giác nha: thoát ý ở lời Đổng Trọng Thư (Đời Hán Vũ Đế), trong bài Thiên nhân tam sách ý nói trời phú cho vật có phân định; con có đủ răng thì bới sừng đi, (Loài trâu có sừng thì không có hàm răng trên); con có hai cánh thì chỉ có hai chân thôi (Loài thú bốn chân thì không có cánh).
4.     Quỳ huyền xà mục: Trang Tử, thiên Thu Thủy nói: Giống Quỳ (loài trâu quái) hâm mộ giống huyền (loài sâu). Huyền lại hâm mộ rắn, rắn hâm mộ gió,  gió hâm mộ mắt, mắt hâm mộ tâm, theo lời chú thích ở sách thì giống quỳ hâm mộ giống huyền  vì quỳ chỉ có một chân mà huyền có nhiều chân, sử dụng tiện lợi hơn. Huyền hâm mộ rắn vì  rán không cần đến chân mà vẫn đi được. Gió hâm mộ mắt vì gió còn phải đi mới đến , mắt ở một chỗ chỉ liếc là đến. Mắt hâm mộ tâm, vì tâm không phải vận động đến hình, chỉ nghĩ là đến.. Qui kết đoạn này muốn nói: các vật vận động bằng hình thì chỉ hơn kém nhau một cách tương đối, chỉ có tâm vận động bằng thần là hơn cả.
Đỗ Đình Tuân dịch thơ:

Vấn vơ hạt bụi giữa trời
Tấm thân uể oải sống dài làm chi
Di danh, Chích lợi đều “đi”
Thù no, Sóc đói lộc thì khác đâu
Mỗi loài một phận khác nhau
Quỳ, huyền, rắn, mắt nể nhau vì tài
Xét xem vận hội cơ trời
Khéo không lại trở về thời hồng hoang ?
22/12/2014
Đỗ Đình Tuân

Thơ cũ đăng lại (6)


Tình đại dương

- Em kể anh nghe tình đại dương
Hơn phần trái đất sáng như gương
Đố anh biết cái gì sáng vậy
Cứ long lanh suôt triệu năm trường ?

- Nguyên xưa có một nàng công chúa
Tuổi xuân thì yêu một chàng trai
Vua cha giận không ưng lòng gả
Đem đầy nàng ra tít đảo khơi

Thương nhớ người yêu nàng đau khổ
Tháng năm qua nàng chỉ khóc hoài
Cả xương thịt, tình yêu, tâm sự
Tan dần thành nước mắt anh ơi

Nước mắt dâng đầy thành đại dương
Để tình ai đó với muôn phương
Dưới ánh mặt trời long lanh sáng
Triệu năm rồi chẳng cạn nhớ thương...!


                                   1980

Đăng lại 
01/04/2015
Đỗ Đình Tuân

HỘI XUÂN


 
 
Vui sao ngày hội mùa xuân
Cả khu tấp nập vang ngân hát hò
Góp tiền mua áo sắm cờ
Câu ca quan họ miền thơ đợi tình
Má hồng cho dáng ai xinh
Nón quai thao để mái đình ngả nghiêng
Rộn ràng tưởng những nàng tiên
Từ trong quả thị đến miền làng quê
Vàng mơ lượn gió say mê
Cho lòng ước muốn trở về ...hội xuân.
                                      VN

CHÚC MỪNG SINH NHẬT




lang-hoa-dep


            TRIANCUOCDOI chúc mừng các thành viên sinh nhật trong tháng Tư: anh CÔNG VĂN PHÙNG  02/04, anh NGUYỄN VĂN THẾ 28/04. Chúc các anh sức khỏe, hạnh phúc và luôn gắn bó trong Xóm Tri Ân. 
         Trân trọng chúc mừng.

NGÀY GIẢI PHÓNG PHÚ YÊN

Hôm nay, 1/4, tỉnh Phú Yên kỷ niệm 40 năm giải phóng.
10 giờ sáng 1/4/1975, lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng tung bay trên đỉnh Tháp Nhạn, thị xã Tuy Hòa, mãi mãi là biểu tượng đầy tự hào của Đảng bộ và nhân dân Phú Yên, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc - giải phóng miền Nam - thống nhất Tổ quốc.


 Người cắm lá cờ trên đỉnh Tháp Nhạn là Nguyễn Sĩ Kỳ - Đại đội phó Đại đội Pháo cao xạ 22 Tỉnh đội Phú Yên (sau này là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam).
 Đại tá Nguyễn Sĩ Kỳ sinh năm 1950 (Canh Dần) ở thôn Nhân Hòa, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Cùng với cả thế hệ thanh niên thời ấy hừng hực khí thế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, vừa tròn 18 tuổi, vào tháng 9/1968, ông hăng hái nhập ngũ. Sau 3 tháng rèn luyện, đến tháng 12/1968, ông xung phong vào Nam chiến đấu. Tháng 3/1969, ông được điều động về chiến trường Phú Yên, được Tỉnh đội Phú Yên phân công về Đại đội 22 súng máy cao xạ 12,7 ly (còn gọi là Đại đội Pháo cao xạ 22 hay Đại đội Pháo phòng không 22).
Cựu chiến binh Nguyễn Sĩ Kỳ đã trải qua những năm tháng thanh xuân đẹp nhất ở chiến trường Phú Yên mà ông luôn tâm niệm là quê hương thứ hai với tất cả tình cảm Bắc - Nam thiêng liêng tha thiết. Lúc tại ngũ cũng như khi trở về với đời thường, ông thường xuyên về Phú Yên thăm lại chiến trường xưa gặp gỡ đồng đội cũ và đi về nhiều miền quê thăm hỏi bà con một thời nuôi dưỡng chở che bộ đội cách mạng để có ngày toàn thắng.


Trích bài "Người cắm cờ trên đỉnh Tháp Nhạn ngày 1/4/1975"
của nhà báo Phan Thanh   
đăng trên Phú Yên Online Thứ Tư, 01/04/2015

NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC

Ngày 01.4.1975

Chúng tôi vẫn nằm ở con hẻm nhỏ bên hông phải Bảo tàng Chàm. Đây là một khu nhà tạm bợ làm bằng đủ mọi thứ vật liệu- chắc là của bà con dân nghèo dưới quê chạy lên đây. Con chó Gấu vẫn ở với chúng tôi. Lúc thì nó nằm trong gầm xe, lúc trên đỉnh tháp pháo (thường là buổi tối), lúc chạy lung tung- chắc đi tìm bạn. Chúng tôi đã thử gọi nó bằng nhiều cái tên nhưng nó không tỏ ra phản ứng gì nên gọi nó vẫn chỉ bằng huýt sáo. May thằng Trực pháo hai có tài đút 2 ngón tay vào mồm làm cái còi rất to nên mỗi khi cần gọi nó về chỉ cần Trực huýt lên một tiếng thì chỉ lát sau nó có mặt ngay. Những ngày này cũng có chuyện vui vui:

Tình hình thành phố đã khá yên ổn, nhịp sống đã trở lại tương đối bình thường nên bọn tôi cũng đỡ căng thẳng hơn và bắt đầu được phép đi thăm thú thành phố- một thành phố vô cùng xa lạ đối với những người lính miền Bắc chúng tôi. Thế là cái ba lô vùi sâu trong góc tháp pháo được dịp lộn ra, và những bộ quần áo mới nhất còn “thơm mùi chính phủ” được bóc tem đem ra chưng diện. Cả những đôi quân hàm binh nhất, binh nhì cũng được nâng niu cài lên ve áo. Những đôi quân hàm gần như còn mới tinh vì từ khi nhập ngũ cánh lính xe tăng chúng tôi gần như suốt ngày đêm lấm lem trong bộ quần áo công tác sặc mùi dầu mỡ lăn lộn ngoài baĩ tập, riêng tôi đôi quân hàm mới chỉ được dùng đúng một lần cái hôm đi chụp ảnh để gửi về nhà.

Trang phục chỉnh tề rồi, vai khoác AK, cứ từng nhóm hai, ba người chúng tôi đi dạo phố. Thực ra cũng chẳng dám đi xa, chỉ loanh quanh vài dãy phố quanh đấy, trong khi đó tai cứ phải dỏng lên nghe ngóng tình hình.

Nhưng có một điều không bình thường là chẳng hiểu sao mọi người nhìn chúng tôi với một cái nhìn rất lạ, họ nem nép lánh xa mỗi khi chúng tôi gần tới rồi xì xào với nhau điều gì đó, nếu không thể tránh được thì cúi chào rất lễ phép. Tệ hơn nữa, bọn tôi đều làng nhàng hăm hai, hăm ba tuổi mà họ cứ một điều ông, hai điều ông, khác hẳn với thái độ mà chúng tôi đã biết mấy ngày trước đó. Bởi vì từ hôm vào giải phóng Đà nẵng đến nay đại đội tôi vẫn chốt giữ xung quanh khu vực này, mấy ngày đó bà con đến tìm hiểu, thăm hỏi rất đông và mỗi chiến sĩ của đại đội tôi đều trở thành một “tuyên truyền viên bất đắc dĩ”, phải giải đáp hàng nghìn câu hỏi của bà con về đủ thứ trên đời. Qua mấy ngày tiếp xúc đó bà con đã bớt nghi ngại và tỏ ra khá thân thiện với chúng tôi. Thế mà hôm nay tình hình lại khác hẳn. Thấy vậy, chúng tôi quyết định quay về. Về đến chỗ đỗ xe cũng thấy khang khác, bác chủ nhà mà mấy hôm nay xe tôi vẫn xin nước nấu cơm, vẫn vào nhà uống nước cũng tỏ ra khúm núm và xa lạ thế nào ấy.

Chúng tôi quyết tâm phải làm rõ vấn đề nên đi thẳng vào nhà, bác chủ nhà chắp tay khúm núm “ Mời các ông vào xơi nước”. Quái lạ, từ hôm vào đây đến giờ cả nhà bác vẫn gọi chúng tôi là các anh Giải phóng kia mà, sao hôm nay lại trịnh trọng thế. Chưa biết vào đề ra sao lại thấy bác xuýt xoa “ Nhiều tướng thế này Giải phóng làm gì chả thắng. Mà sao toàn tướng trẻ vậy.” Mắt thì cứ như dán vào ve áo bọn tôi. Chúng tôi ngớ ra nhìn nhau và chợt hiểu- đôi quân hàm binh nhất, binh nhì với ngôi sao bạc trên nền phù hiệu đỏ tươi trông quá giống, có khi còn oách hơn- quân hàm của tướng một sao, hai sao Quân lực Việt Nam cộng hòa. Chính vì vậy bà con tưởng lầm chúng tôi đều là tướng và điều đó giải thích tại sao họ có thái độ kỳ lạ vừa rồi. Nhưng làm sao đi giải thích với tất cả mọi người được. Thế là những đôi quân hàm lại được tháo ra và vùi dưới đáy ba lô