Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã
Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011
Lời cảm ơn
Kính thưa Các thầy cô giáo, cùng các anh chị em thành viên TRI ÂN CUỘC ĐỜI
Sau mấy năm chống chọi với bệnh tật hiểm ác, mẹ của chúng tôi Nguyễn Thị Chàng vĩnh viễn ra đi vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 05.01.2011 (tức ngày 02.12 Canh Dần) hưởng thọ 85 tuổi . Đó là một sự thiếu hụt rất lớn, không gì bù đắp được trong đời sống tình cảm và về mọi phương diện của đại gia đình chúng tôi.
Từ khi Mẹ chúng tôi lâm bệnh đến tận những phút cuối cùng và trong cả buổi tang lễ , chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự chia sẻ, của các thày cô và các anh chị em trong ngôi nhà TRI ÂN nặng tình người, tình bè bạn.
Không biết nói gì hơn, là xin được thay mặt gia đình nói lời cảm ơn vì tất cả. Trong lúc tang gia nếu có gì sơ suất, gia đình xin được lượng thứ.
T/M các anh chị em trong gia đình
Nguyễn Đức Bình
Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011
THÔNG BÁO

Cụ Nguyễn Thị Chàng - Phụ thân của anh Nguyễn Đức Bình đã từ trần vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 05.01.2011 (ngày 02.12 Canh Dần) hưởng thọ 85 tuổi.
Lễ viếng từ 13 giờ 30 ngày 06.01.2011 đến 13 h 30 ngày 07.01.2011 tại thôn Ngoại Đàm , Xã Phượng Hoàng, Huyện Thanh Hà, Tỉnh Hải Dương.
An táng ngày 07. 01, 2011 tại nghĩa trang quê nhà
Tất cả chúng tôi - Thành viên TRI AN CUOC ĐOI xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới anh Nguyễn Đức Bình , Thầy Nguyễn Văn Thịnh , Cô Nguyễn Thị Cẩm Tú và gia quyến.
TRIAN
Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011
Đỗ ĐìnhTuân
Phần một
Ảnh minh họa
Đúng là làng tôi nằm ngay cạnh một con Sông Đào. Các ông già bà cả trong làng thường vẫn kể về sự tích con sông này là do quân lính nhà Mạc đâo. Vua Mạc định đóng đô ở vùng núi thuộc Bình Giang-Phả Lại bây giờ, mới cho quân lính đào con sông này, cắt ngang qua cánh đồng, từ sông Kinh Thày vào, làm con đường thủy chuyển kinh đô từ Cổ Trai lên. Nhà vua lệnh cho quân lính phải đào xong ngay trong một đêm. Nhưng mới đào được đến nửa chừng thì có một vị thân núi hóa thành con gà trống cất tiếng gáy báo sáng. Quân lính tưởng là trời sáng thật nên cũng nghỉ không đào nữa. Con Sông Đào thành một con sông cụt. Ngọn nó lửng lơ ở giữa cánh đồng mà việc xây dựng kinh đô của nhà Mạc ở vùng này cũng bị hủy bỏ. Nhưng ở đây vẫn còn dấu tích của thành nhà Mạc ở Phả Lại. Gần thành nhà Mạc còn có một cái ao cạn khá to gọi là Đấu Đong. Không phải để đong thóc, đong gạo mà là để đong quân lính. Đặc biệt, còn cả một phòng tuyến bằng lũy đất nối dài đến hàng mấy cây số, vẫn gọi là Bờ Hào. Ngọn con Sông Đào có cái tên rất hình tượng: Đuôi Nheo. Cái tên này đã làm tôi luôn nghĩ con Sông Đào chính là một con cá nheo khổng lồ, đầu nó rúc vào sông Kinh Thày còn đuôi nó thì ve vấy quẫy ở giữa cánh đồng. Mà cái Đuôi Nheo ấy đang quẫy thật. Bởi nó nối liền với đầu của ba dòng suối chảy từ Chùa Sùng về, từ Càng Cua ra và từ Lễ Kễ xuống. Ba con suối ấy vòng vèo uốn lượn như ba dải lụa mềm vắt vẻo qua cánh đồng mà nối với Đuôi Nheo.
Đuôi Nheo chính là ngọn sông Đào làng tôi. Không biết có phải vì thế không mà người làng tôi những lúc ru con hay những khi làm cỏ trên đồng thường hay hát cái khúc hát này:
Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Hai tay vít lấy hai cành
Quả chín thì vặt quả xanh thì đừng
Cùng một lời hát thôi mà khi hát ru thì nghe rất thiết tha nhắn nhủ mà khi hát vui trên đồng nghe lại ngân nga, bay bổng, cứ như muốn khoe khoang cùng trời đất vậy. Tuổi thơ tôi đã từng được ru trong câu hát ấy và tôi cũng cứ đinh ninh rằng câu hát ấy là do chính người làng tôi làm ra, mặc dù cho đến tận bây giờ tôi vẫn chẳng có lấy một bằng cứ nào để chứng minh cho điều ấy cả.
Ngày chúng tôi còn bé, hàng năm, cứ đến mùa mưa rào là nước rừng theo các dòng suối ấy mà đổ vào Sông Đào. Nước con Sông Đào lại dâng lên cuồn cuộn chảy đổ ra sông Cái. Các loài thủy sinh, nhất là giống cá chép lại từ ngoài sông Cái được dịp ngược nước vào trong đồng tìm bãi đẻ. Đó là mùa người làng tôi thường rủ nhau đi úp cá giả. Toàn được cá thật thôi nhưng lại vẫn gọi là cá giả. Bởi ở mùa sinh nở, bao nhiêu tuyệt vị thơm ngon béo ngọt của con cái thì dồn vào trứng, con đực thì dồn vào tinh cả, nên cá gầy ăn nhạt nhẽo không ngon. Gọi “cá giả” là vì thế. Giống cá đẻ thường thích chọn những ruộng trũng, hoặc bãi cỏ ven sông. Con cái lao lên đấy, chạy vòng tròn quẫy đạp rồi đẻ trứng. Những con đực cũng bám đuôi theo, hễ thấy con cái đẻ trứng thì lập tức chúng cũng phun tinh dịch vào.
Làng tôi có ông Lý Tín quanh năm kéo vó bè và hay sờ mò cá mú đêm hôm nên rất thạo về cá. Tôi phải gọi “ông Lý Tín” bằng bác, vì là anh em thúc bá với bố tôi và là bác trưởng tộc dòng họ Đỗ nhà tôi ở đời thứ 6.Ngày ấy, chúng tôi chưa biết được tên tục của bác, chỉ biết “Tín” là tên cô con gái cả, mà tôi vẫn gọi là chị, còn “Lý" thì bố tôi bảo chỉ là một chức “Lý mua” chứ không phải “Lý làm”. Sau cách mạng tháng Tám, cũng như nhiều làng khác, làng tôi không còn “Tục hội đình”, “Tục giỗ hậu” và “Tục bán chức” nữa. Nhưng những ai đã làm, đã mua, tức là đã thành danh thì người làng gọi quen rồi không thay đổi được nữa: ông Lý Tín, ông Đội Nhân, ông Lý Khang, ông Hội Tùng, ông Hội Mậu, ông Cai Viêm, ông Lý Vỵ, ông Tiên Phác, ông Ký Đính, ông Trưởng bạ Thọ, ông Trương Hương, ông Nho Mại…
Bác lý Tín nhà tôi, có dáng người cao cao, cái đường ngôi cân ở giữa và một mái tóc mượt luôn được vuốt ngược về phía sau, trông khá ấn tượng. Chúng tôi thường thấy bác vận một bộ quân áo nâu bã bạc mầu nắng gió. Ống quần thường cộc chỉ chấm đến đầu gối. Ống tay cũng cắt cộc vừa chấm đến khuỷu tay. Những lúc đi cày ,đi bừa bác hay đội nón gủ và có cái dáng đi rất lững thững. Nhưng những lúc đi úp cá thì khác, bác thường để đầu trần hoặc chỉ đội một cái nón mê rất bé. Vì đã thông thạo những nơi cá hay đến đẻ nên bác thường đi “úp lảnh”, nghĩa là đi riêng một mình chứ không “quần tam tụ ngũ” như dân nghiệp dư. Bác cũng không úp bằng nơm mà úp bằng một cái dập. Dập là một công cụ úp cá trông giống như một cái “vó tôm”. Nó gồm có hai cái gọng tre và một vuông lưới gai được nối vào bốn chân gọng tre bằng những đường riềm sợi gai rất chắc. Úp bằng dập có cái diện tích úp lớn hơn nơm, nhưng vì mắt lưới thoáng nên lại nhẹ hơn nơm. Bác thường nép mình dưới một bóng tre, hay ngồi thu mình trên bờ, chăm chú theo dõi những đường cá chạy, y như một con thú rình mồi. Chỉ khi nào đàn cá cắn đuôi nhau đã thu vào thành một vòng tròn nhỏ và con cá cái ở giữa bắt đầu quẫy đẻ bác mới giương dập lên úp gọn. Có lần một mẻ dập của bác đã tóm gọn được cả một đàn cá có đến 12 con và cứ to đều như hòn gạch chỉ. Bác lễ mễ ôm cái bọc cá ấy về nhà trước sự trố mắt ngạc nhiên và thán phục của những người chứng kiến…
Bác Lý Tín có hai bà vợ. Bà vợ cả là kết quả của một mối tình đầu mãnh liệt. Hai người phaỉ lòng nhau, nhưng gia đình nhà gái không chịu gả cho bác vì chê nhà bác nghèo, mà lại đem ép gả cho người làng khác. Không chịu mất nhân ngãi, bác hẹn với nhân tình cứ để đúng đến đêm hôm cưới thì trốn đi. Âu cũng là duyên trời, ngay tối hôm cưới, khi người chồng bé con còn đang vòi ngủ với mẹ, thì “cô dâu” trốn được ra điểm hẹn và hai người rủ nhau đi biệt. Làng xóm lại ồn lên về một câu chuyện tình vừa ly kỳ vừa sốt dẻo. Người ta bàn luận, khen chê, phỏng đoán… nhưng cũng là để cho vui miệng thế thôi chứ ảnh hưởng gì? Mãi đến khi câu chuyện tình kia đã nguội và những người "rỗi hơi" cũng đã thấy mỏi mồm thì đôi “vợ chồng trẻ” mới dẫn nhau về. Lúc này thì bụng “cô dâu” đã lùm lùm, ván đã đóng thuyền và thuyền đã có lái, một tay lái vững vàng, chắc khỏe. Bấy giờ thì “nhà giai” bên “chồng cũ” chỉ còn cách thuân tình cho nhà gái giả lễ. Nhưng bác cả chỉ sinh được ba cô con gái: Tín, Ái, Phiếm. Bác càng ngày càng khát con trai. Giữa nạn đói năm 1945, cô Son-em gái bác, một lần ra chợ Bến, thấy một bà mẹ đói muốn cho con đi, cô son đã xin về cho anh chị mình nuôi. Vì xin ở chợ Bến nên cũng đặt tên luôn là Bến và cái tên đầy đủ của người nghĩa tử trưởng tộc này là Đỗ Đình Bến.
Về sau, trong làng lại có một bà góa chồng mà mới sinh được một mụn con trai, đặt tên là Chấp. Người ta cũng đang cần chỗ dựa mà bác cũng đang cần một người vợ biết đẻ con trai. Bác tìm đến và cả hai bên đều thuận tình vui vẻ. Không ngờ cái mối tình “rổ rá cạp lại” này lại sinh thêm cho bác đúng ba người con trai nữa: Sĩ, Cam, Tý.
Nhưng khi lũ rừng về, nước sông Cái lên to, thì nước lại chảy ngược con sông Đào mà vào trong đồng. Người làng tôi lại phải hò nhau ra lấp cống để ngăn nước sông Cái không cho chảy vào đồng. Qua mùa lũ lại phải đào lên tháo cống ra để lấy nước vào đổ ải cấy chiêm. Không rõ con đê được đắp lên từ bao giờ nhưng cái cống Kỳ Đặc nối sông Đào ra sông Cái thì có ghi niên đại xây dựng là năm 1922. Năm nào cũng thế cứ phải một lần lấp xuống, lại một lần đào lên tốn khá nhiều công sức.
Nhưng cứ đến mùa lũ sông Kinh Thày thì bắt buộc phải lấp, không lấp thì cả làng, cả huyện sẽ ngập trong nước lũ. Bởi con sông Kinh Thày có đến bốn nguồn cung cấp nước: sông Đuống, sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Cho nên cứ sau một trận mưa nguồn vài hôm là nước sông Kinh Thày lại dâng lên. Dòng nước đục ngầu cuồn cuộn chảy, và cuốn theo nó cơ man nào là củi rác ở trên rừng về. Những cành cây củi rác từ trên rừng núi Thái Nguyên theo sông Cầu mà đổ vào sông Lục Đầu. Những cành cây củi rác trên núi rừng Yên Thế theo dòng sông Thương cũng đổ vào sông Lục Đầu. Những cành cây củi rác từ vùng núi Chàng, Chũ theo sông Lục Nam cũng lại đổ vào sông Lục Đầu. Sông Lục Đầu gom chúng lại rồi đưa chúng về xuôi. Nhưng đến đoạn hợp lưu với con sông Đuống thì bị ngọn nước của dòng sông Đuống này đánh tạt sườn, đùn phần lớn củi rác ở sông Lục Đầu vào sông Kinh Thày. Con sông Kinh Thày thành một dòng sông chở đầy củi rác. Dân hai ven bờ cứ thấy lũ đem củi về thì lại đua nhau ra kéo củi về đun, và họ cũng đặt tên luôn cho con sông này là dòng Sông Củi . Có lẽ đây mới chính là cái tên khai sinh của dòng sông . Rồi từ tên Sông Củi, các nhà nho mới chuyển nó thành tên chữ: Sài Giang: sài là củi mà giang cũng là sông. Sau này Sài Giang lại được thay hình đổi dạng một lần nữa mà thành ra Kinh Thày: “thày” vẫn là củi mà “kinh” cũng chỉ là một dòng kênh, tức là sông. Cũng giống như Sài Sơn được gọi là Núi Thày, rồi từ Núi Thày mà có tên Chùa Thày vậy… Từ khi cống Kỳ Đặc bị lấp, nước sông Đào không có đường thoát ra sông Cái nữa. Chúng bị ứ lại và dìm làng tôi và hàng loạt các làng khác suốt một vùng trong đê của huyện Chí Linh vào mùa úng ngập. Cả cánh đồng dưới làng tôi bị ngập nước trắng băng, chỉ còn thấy nổi lên lác đác những gò đống: đống Cao, đống Mả Dậm, đống Quán Giáo, đống Cổng Chợ, đống Gốc Đề, đống Gốc Cậy, trại Phù Trang…Theo các bờ ruộng, giống cỏ nùng, cỏ môi ngoi lên nhanh chóng. Còn dưới chân ruộng thì tha hồ cho các loài rong rêu tự do mọc: rong đuôi chó, rong vẩy ốc, rau vậy, trang trang, súng…Vụ mùa, cánh đồng dưới làng tôi không cấy lúa được. Nó thành nơi thả trâu, đánh dậm, đánh sẻo và thả lưới bén…
(Còn nữa)
Thứ Hai, 3 tháng 1, 2011
THÔNG BÁO
Thay mặt nhóm khởi xướng và ban quản trị WEBLOG “ TRI ÂN CUỘC ĐỜI “ xin gửi đến tất cả thành viên và các bạn đọc lời Chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong công việc yêu quý của mình.
Xuất phát từ một ý tưởng ban đầu “ TRI ÂN “ nhằm lưu lại những khoảnh khắc của chuyến đi “ VỀ VỚI ĐỒNG LÚA TUY HÒA VÀ BIỂN ĐẢO NHA TRANG ” nhưng với lòng yêu mến của các thành viên, weblog “ TRI ÂN CUỘC ĐỜI “ đã vượt lên trở thành sân chơi trí tuệ .
Nhóm khởi xướng và ban quản trị xin được cám ơn sự cổ vũ tích cực của Thầy giáo Đỗ Đình Tuân, Thầy giáo Nguyễn Minh Tư, các bạn Nguyễn Minh Hương, Nguyễn Vân Anh và Nguyễn Khắc Nguyệt – Những người đã giữ ngọn lửa “ TRI ÂN CUỘC ĐỜI “ luôn cháy ấm.
Xin được chúc mừng Thầy Nguyễn Viết Cảnh, Thầy Cô Thịnh Tú sau thời gian thu xếp công việc đã trở vào sân chơi với vị trí của người chơi thực thụ.
Xin được cám ơn tất cả những ai đã ghé sân chơi này. Hy vọng một ngày không xa Bạn sẽ gia nhập sân chơi này với tư cách thành viên chính thức của chúng tôi.
Kính thưa các thành viên và quý khách
Căn cứ Nghị quyết cuộc họp chiều ngày 31/12/2010 của những người sáng lập về việc kiện toàn công tác quản trị Weblog “ TRI ÂN CUỘC ĐỜI “
Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố :
I. Ban Quản trị weblog “ TRI ÂN ” kể từ ngày 01/01/2011 bao gồm:
1. Nguyễn Tô Hà
2. Đỗ Đăng Biên
3. Nguyễn Minh Hương
II . Quyền lợi và nghĩa vụ
1. Các thành viên tham gia được đặt đường dẫn blog của mình và được đăng bài lên WEBLOG TRI ÂN CUỘC ĐỜI
2. Với các thành viên lớn tuổi được hỗ trợ mở trang blog cá nhân và hướng dẫn chi tiết.
3. Những thành viên đã tham gia trên 6 tháng, đủ điều kiện về độ tuổi, có nhu cầu hỗ trợ thiết bị, sẽ được Ban Quản trị đề xuất để hỗ trợ máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay…
4. Tham gia giao lưu các thành viên được tổ chức định kỳ hàng năm .
III. Thể lệ Đăng ký
Các thành viên mới cần hoàn tất bản đăng ký theo mẫu và gửi về hộp thư điện tử : nguyentoha_th@yahoo.com
BẢN ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN “ TRI ÂN CUỘC ĐỜI “
( Thông tin này của bạn do Ban quản trị lưu trữ )
Họ và tên :
Năm sinh:
Trú quán :
ĐT liên lạc :
Máy bàn :
Số máy cầm tay :
Nghề nghiệp hiện nay :
Đơn vị công tác :
Bạn đã tham gia viết blog chưa ?: bạn cho biết đường dẫn blog đã có của bạn ?:
Bạn biết đến weblog TRI ÂN khi nào ?:
Bạn đã biết mục đích của Blog này là gì không ?
Tất cả các thông tin trên của tôi là hoàn toàn đúng.
Hộp thư điện tử của tôi là :
Yahoomesenge của tôi là :
Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011
THƠ CHÚC ĐẦU XUÂN
Đầu xuân chúc xóm tri ân
Bình an vạn sự gieo vần thơ hay
Chúc toàn thi hữu năm nay
Gia đình hạnh phúc tràn đầy niền vui.
Thinh Tú 01/01/2011
Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2011
Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010
Tân Mão xuân sang sắp đến rồi,
Cầu chúc thầy cô khắp mọi nơi,
An khang sung túc bên con cháu,
Hạnh phúc gia đình mãi bền lâu.
Tân Mão xuân sang sắp đến rồi,
Cầu mong trò cũ khắp mọi nơi,
Tiền vô như nước đời hạnh phúc
Chớ có mon men "húc" với "MÈO"
Tân Mão xuân sang tết đến rồi
Bạn cũ trò xưa khắp mọi nơi
Cùng nâng ly chúc mừng năm mớii,
Vui sống bên nhau đến trọn đời
Viêt Cảnh - NT
31-12-2010

