Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2016

Diểmdiện nhà văn nhà thơ 56: Bùi Hiển

56. Bùi Hiển
     (1919-2009)

Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ an khô cằn
Bao nhiêu năm "nằm vạ"
Trước cửa hội nhà văn.
                      Xuân Sách
Hầu chuyện nhà văn Bùi Hiển
09:29 | 07/06/2010

ĐỖ NGỌC YÊN (Kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên Hiệp VHNT Thừa Thiên Huế)
 
       Vào một sáng đầu thu, tôi tìm đến khu tập thể Trung Tự, Hà Nội, nơi nhà văn Bùi Hiển đang sống cùng con cháu. Ông là một trong số những người đầu tiên tham gia thành lập Phân hội Văn nghệ Thừa Thiên tháng 10 năm 1950, tổ chức tiền thân của Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế hiện nay.

         Dù đi có hơi chậm và phải chống ba toong nhưng ở vào cái tuổi ngoại bát tuần như ông mà da dẻ vẫn hồng hào, khỏe mạnh thật là điều đáng mừng không chỉ cho con cháu, mà cho cả giới văn nghệ nước nhà. Khi vui bạn bè, ông còn có thể nhâm nhi đôi chút rượu ngon và trò chuyện rất rôm rả. Được hầu chuyện ông là một niềm vinh dự lớn đối với những người hậu sinh như tôi.

        Nhà văn Bùi Hiển tiếp tôi tại bàn làm việc của ông ở nhà riêng rất cởi mở và chân tình. Ông chậm rãi kể lại một cách say sưa những ngày ông đã sống và viết tại chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa cách đây vừa tròn nửa thế kỷ. Ngay khi vừa đặt chân lên đất Thừa Thiên, tháng 8 - 1949, đoàn cán bộ tuyên truyền Liên khu IV đã đi cùng chiếc ghe với bốn người thương binh. Tất cả họ đều nằm im, không rên rỉ hoặc trăn trở vật vã gì. Trên đường đi ông đã gặp ở đâu đó một làng quê bị giặc Pháp đốt trụi. Trên nền nhà cũ có năm nấm mộ dài đắp song song... Những năm tháng tiếp theo ông đã lần lượt đi khắp 6 huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc, sống chung với đồng bào Thừa Thiên ở các làng, len lỏi giữa các đồn bốt giặc. Thỉnh thoảng ông đi công tác với tiểu đoàn 319 thuộc trung đoàn 101, một đơn vị nổi tiếng đã từng đánh tàu địch chuyển quân ở Hói Mít. Ngay sau đó, Bùi Hiển đã viết hai bút ký Một cuộc hành quân Người tù binh Pháp. Trong chuyến đi này ông ghi chép được khá nhiều tư liệu cho truyện Ánh mắt, sau này đăng tải trên tạp chí Thép mới của Văn nghệ Liên khu IV. Đây là một trong hai tập truyện mà đến bây giờ ông vẫn tâm đắc nhất.

         Ông cùng một số anh em công tác ở Sở Tuyên truyền Liên khu IV đã được cử vào Thừa Thiên công tác, giúp anh em trong đó xây dựng phong trào văn nghệ, tuyên truyền các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đoàn gồm có nhà văn Bùi Hiển, các văn nghệ sĩ Phan Nhân, Nguyễn Hồng, Mặc Hy, Nguyễn Văn Thương, Trịnh Xuân An, Hồng Liên, Hoàng Tuấn Nhã, Hồng Chương, Đình Quang, Nguyễn Khắc Thứ, Chế Lan Viên, Dương Tường, Lương An, Minh Châu, Tấn Hoài, Hoàng Tài, Phan Giá, Minh Lương, Xuân Hoàng, Nguyễn Văn Dinh... các anh chị em văn công Thừa Thiên, cán bộ và chiến sỹ trung đoàn 101... tập trung tại một làng trồng mía và dệt vải ở xã Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc phía nam tỉnh Thừa Thiên theo chỉ đạo của cấp trên. Đến tháng 10/1950 một cuộc Họp Bạn anh em văn nghệ toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế đã được tổ chức, đánh dấu sự ra mắt của Phân hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Lúc đầu dự kiến khoảng 150 người về dự, nhưng vì bị địch càn nên số anh em ở phía bắc Thừa Thiên không vào được nên chỉ còn lại có 50 người. Ngay hôm khai mạc tiếng đại bác đì đùng nổ quanh những vùng lân cận. Mọi người một tai nghe Trịnh Xuân An đọc báo cáo, còn tai bên kia lắng nghe tiếng súng để đề phòng địch càn qua. Nhìn ra đường mọi người thấy đồng bào đang nháo nhác chạy. Nhưng chỉ một lát sự yên tĩnh lại trở lại. Hội nghị tiếp tục và diễn ra trong bốn năm ngày gì đó. Trong cuộc Họp Bạn này có trình diễn các tiết mục văn nghệ và diễn cả vở Nhật Xuất của Tào Ngu (Trung Quốc). Một cuộc tranh luận về thơ, văn, nhạc, kịch đã nổ ra, có chấm và trao giải thưởng cho những tiết mục xuất sắc. Sau đó tổng kết, đánh giá và bầu Ban chấp hành Phân hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Trịnh Xuân An đã được cử làm Phân hội trưởng.

         Ông đã từng chứng kiến một câu chuyện có thật có xảy ra ở Phú Lộc. Sau này, năm 1951, ông đã viết thành truyện Mấy hình ảnh vùng tạm chiến. Câu chuyện kể về đám cưới của một chiến sỹ công an tên là Hiếu. Đám cưới vào buổi sáng, thì buổi chiều bọn địch đóng ở đồn Truồi nã moóc chi ê vào làng. Vợ người chiến sỹ công an mới cưới đã bị mảnh đạn vạt hẳn một bên đầu, óc trắng, nhởn chảy tràn ra nhuộm lẫn máu đỏ tươi. Người ta đưa chị vào nhà người chú của Hiếu thì chị đã chết. Hai lọ hoa cưới hải đường trắng muốt trở thành hai lọ tiễn đưa người tân dâu về nơi chín suối. Cảnh chạy Tây mọi người chen nhau xuống ghe, tròng. Một chị nạ dòng không kịp mặc áo, hai vú thổn thện ra sức rướn người chèo ghe vắt cả vú trùm lên trên đầu mọi người mà không hay biết. Những ngày ở Dương Hòa chỉ toàn ăn cơm gạo hẩm với rau tàu bay chấm nơ rơ (nước ruốc). Thấy anh em ăn nơ rơ miết, chị cấp dưỡng không đang lòng bèn tìm cách bắt cá về kho mặn cho anh em ăn. Sau những bữa ăn ngon như vậy mọi người hỏi chị cấp dưỡng bắt cá ở đâu. Chị cho biết ở đoạn suối gần cuối bệnh viện người ta thường vứt chân tay hỏng và những miếng thịt xẻo ra từ những chỗ bị thương của anh em thương binh xuống suối khiến cho lũ cá tụ hội về đây rất nhiều. Biết chuyện, mọi người yêu cầu chị cấp dưỡng chấm dứt sáng kiến cải thiện ấy. Rồi chuyện ba thanh niên Quốc học Huế rủ nhau xung phong vào Vệ Quốc quân những ngày đầu khi Cách mạng vừa mới thành công. Họ rất hào hứng và lãng mạn. Đến thời kỳ vỡ mặt trận Huế, họ chạy lên chiến khu ăn đói, mặc rét, ghẻ lở mọc đầy người, cứng khớp gối, đi khệnh khạng, mắt mở trừng trừng và tư tưởng bắt đầu chao đảo. Một anh đêm ngủ nằm chết còng queo. Anh thứ hai nửa đường ra trận đã bỏ trốn. Còn anh thứ ba vào trận suýt nữa bị địch bóp cổ chết, nằm lại một mình ở sườn đồi. Đêm xuống anh ta trốn vào làng đi ăn xin... Tất cả là những chuyện có thật mà nhà văn Bùi Hiển đã từng mục sở thị hoặc được nghe những người cùng đơn vị kể lại từ những năm 1949 - 1950. Sau khi hòa bình lập lại ông kể lại những chuyện đó trong Ánh mắt in trên tuần báo Văn nghệ đã bị nhiều người phê phán rằng như vậy là không đúng sự thật, với truyền thống của quân đội và tình cảm quân dân (!?).

         Nhạc sỹ Mặc Hy và nhạc sỹ Nguyễn Hồng chỉ với cây đàn ghi ta và đàn măng đô lin đi khắp mọi nơi hát cho đồng bào và chiến sỹ nghe. Họ hát một cách say sưa và vô tư, không có bồi dưỡng thù lao, cũng chẳng cần sân khấu hay giới thiệu gì, thuộc bài nào hát bài đấy. Và nếu cần thì sáng tác ngay những ca khúc mới phản ánh cuộc sống và chiến đấu của quân và dân Thừa Thiên - Huế lúc bấy giờ. Sáng tác đến đâu biểu diễn đến đấy, vừa sáng tác, vừa biểu diễn. Nhạc sỹ Mặc Hy sáng tác khá nhiều nhưng đáng chú ý nhất là các bài Làng vui, Dưới cờ Đảng Lao động Việt Nam, Hò đẩy ca nông... Riêng bài Công nông liên minh của ông đã được giải thưởng. Bài thơ Thuyền em lên xuống Ba Lòng nổi tiếng của Lương An nói về người con gái chở đò trên sông Ba Lòng đưa người cán bộ đi công tác. Đấy chính hình ảnh lấy từ nguyên mẫu chuyến đi biểu diễn của nhạc sỹ Mặc Hy.

         Trong thời kỳ ấy nhạc sỹ Hồng Liên và nhạc sỹ Nguyễn Hồng đã anh dũng hy sinh trong một trận càn của địch. Nhà văn Bùi Hiển nhớ lại 5 người trong số anh em đoàn văn công Thừa Thiên - Huế cũng đã hy sinh. Cũng trong thời kỳ này nhạc sỹ Nguyễn Văn Thương đã bị địch bắt. Và sau đó nhiều anh em không tiếp tục hoạt động văn nghệ nữa. Nhưng cái buổi ban đầu ấy là một thời kỳ hào hứng sôi nổi. Tất cả họ chiến đấu và lao động vì lý tưởng Cách mạng, vì đồng bào Thừa Thiên - Huế thân thương. Sau nửa thế kỷ trôi qua, ngồi nhớ lại nhà văn Bùi Hiển và nhạc sỹ Mặc Hy còn cảm thấy tự hào về những ngày tuổi xanh. Họ đã sống những năm tháng thật sự có ý nghĩa vì đồng bào mình, cho dân tộc mình. Tuy điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng với sức trẻ họ không hề ngần ngại, sẵn sàng vượt qua để chiến đấu vì lý tưởng. Những bản nhạc, bài thơ, tập truyện,, bức tranh mà họ đã sáng tác trong những ngày Bình Trị Thiên khói lửa năm ấy mãi mãi là những di sản quí báu mà lớp cha anh đã để cho các thế hệ con cháu chúng ta hôm nay thật đáng quí biết nhường nào.

Hà Nội mùa thu - 2000
Đ.N.Y

NGHỀ

Kết quả hình ảnh cho nghề nghiệp

Kiếm tiền cũng lắm vẻ chơi
Trồng cây nuôi vật tô đời gấm hoa
Công nhân trí thức đậm đà
Doanh nhân cờ bạc hát ca binh đoàn
...
Muôn nghề đều đẹp vô vàn
Bởi mình bỏ sức bỏ lòng làm nên
Toàn nghề hữu ích sáng bền
Có nghề chân chính: đồng tiền tự do.

                                      VN

HỘI THẢO KHOA HỌC:TRẦN TẾ XƯƠNG VỚI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

        Sáng ngày 26-11-2016, tại Trung tâm Văn hóa thanh thiếu niên TP Nam Định, Trung tâm nghiên cứu, bảo tồn & phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam đã phối kết hợp với Sở Văn hóa -Thể thao & Du lịch, Hội VHNT, tỉnh đoàn TNCSHCM tỉnh Nam Định và Hội thơ Đường Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Trần Tế Xương với thơ Đường luật Việt Nam". Về dự có GS TS Hoàng Chương, GĐ Trung tâm nghiên cứ, bảo tồn & Phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam, Ông phó chủ tịch UBND tỉnh Nam Định, ông GĐ sở Văn Hóa - Thể thao & Du lịch tỉnh Nam Định, bí thư tỉnh đoàn TNCSHCM tỉnh Nam Định, các GS tiến sỹ nghiên cứu, giảng dạy ở các trường đại học chuyên ngành trong cả nước và đông đảo các tác giả có bài tham luận, các đại diện các chi hội thơ Đường toàn quốc và 150 thanh niên nam nữ tiêu biểu của tỉnh Nam Định.
   Cuộc hội thảo đã nêu bật được những đặc thù và phong cách viết của nhà thơ Trần Tú Xương, Cuộc hội thảo đã thành công mỹ mãn. Xin trân trọng giới thiệu với các bạn xa gần một số hình ảnh về cuộc hội thảo:
                                                                 
Tạ Anh Ngôi và ông Nguyễn Văn Thụ
Tạ Anh Ngôi và Lê Trọng Hồng
Tiết mục múa hát do HS trường TH Trần Đăng Ninh-TP Nam Định
Hát Văn-do nghệ sỹ TTVH tỉnh Nam Định thể hiện
Ca Trù-Tiết mục do nghệ sỹ TTVH tỉnh Nam Định thể hiện
Nhà báo Kim Quốc Hoa và Tạ Anh Ngôi
Hậu duệ nhà thơ Trần Tế Xương tặng 2 bài thơ Đường luật 
Của cụ Trần Tế Xương cho TTBT & PHVHDTVN
Ông Lê Trọng Hồng (Chí Linh ) đọc tham luận tại hội thảo
Bà bí thư Đoàn Thanh niên CS HCM tỉnh Nam Định phát biểu tham luận
Ông Lê Trọng Hồng và ông Phan Văn Thắng (TP Đà Nẵng )
Ông Tạ Anh Ngôi & ông Phan Văn Thắng (TP Đà Nẵng )
Ông Lê Trọng Hồng trên diễn đàn hội thảo
Tiết mục cuối cùng được tổ chức tại KS Vị Hoàng TP Nam Định
Nam Định, ngày 26-11-2016
Photos & Giới thiệu :Tạ Anh Ngôi

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

Bé Sam đi du lịch nè






26/11/2016
Đỗ Đình Tuân

CHUYỆN MỚI KỂ VỀ NÀNG CHÂU LONG

             
 (Từ xưa đến nay, xem chèo Lưu Bình Dương Lễ, người người đều tấm tắc khen tình bạn đẹp đẽ , cao cả và độc đáo đến có một không hai của Lưu Bình Dương Lễ cũng như đặc biệt ngưỡng mộ đức tính thủy chung của Châu Long và cảm phục hành động thay chồng nuôi bạn của nàng. Tôi cũng cứ mặc nhiên lĩnh hội tinh thần vở chèo này như thế. Vậy mà hôm nay, nhận bài thơ của một thượng tá công an đã nghỉ hưu (bạn của gia đình tôi), tôi bỗng giật mình vì một suy nghĩ khác về tình cảnh của Châu Long mà anh đã gửi gắm vào thơ. Tôi thích cách phản biện lại vấn đề qua thi phẩm nhỏ này nên đưa về đây khoe cùng mọi người )

Thương thay một ánh trăng vàng
Chàng ngồi đọc sách còn nàng se tơ
Ba năm... cho đến bao giờ
Ánh đèn xé ruột, đường tơ lệ trào

Ước gì trong giấc chiêm bao
Em bỏ khung cửi em vào với anh
Ước gì trong mái nhà tranh
Duyên tình oan nghiệt ta thành lứa đôi
Chàng Dương chối bỏ em rồi
Em không làm tượng cho đời ngợi khen

Một đêm thổn thức trước đèn
Châu Long hờn giận buồn ghen một mình
Trăng vàng khêu gợi duyên tình
Thế gian ai biết cho mình trăng ơi./.

 
               Phạm Xuân Vinh

NGÀY GIỖ..

.Hình ảnh có liên quan
 
Binh minh leo đỉnh Phượng Hoàng
Đền thầy rực rỡ cờ vàng tung bay
Hai nhăm tháng một giỗ thầy
Bốn phương tụ hội sum vầy nghĩa ân
Bắc Ninh quan họ điệu vần
Hải Phòng sóng vỗ xa gần lời ca
Hồng Gai thắm thiết đậm Đà
Bắc Giang gần gũi có ta có mình
Thành Đông xứ Hải hữu tình
Câu thơ tựa khóm trúc xinh đẹp lòng
Hà thành mấy bận cất công
Giao lưu tô chữ thắm hồng bạn ta
Muôn lòng kết một đóa hoa
Thằm tươi tình nghĩa đậm đà lương duyên
Giỗ thầy giáo của trăm miền
Muôn hương ngào ngạt giữa triền Phương Sơn

 
                                                                                                                           VN

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Lịch các ngày nghỉ lễ, nghỉ tết năm 2017



1-Nghỉ tết dương lịch, 3 ngày:

-31/12/2016 (03/12 âm)
-01/01/2017 (04/12 âm)
-02/01/2017 (05/12 âm)

2-Nghỉ tết Nguyên Đán Kỷ Dậu, 7 ngày:

-26/01/2017 (29 tết)
-27/01/2017 (30 tết)
-28/01/2017 (mồng 1 tết Kỷ Dậu)
-28/01/2017 (mồng 2 tết Kỷ Dậu)
-29/01/2017 (mồng 3 tết Kỷ Dậu)
-30/01/2017 (mồng 4 tết Kỷ Dậu)
-01/02/2017 (mồng 5 tết Kỷ Dậu)

3-Nghỉ giỗ tổ Hùng Vương, 1 ngày:

-06/04/2017 (10/03/Kỷ Dậu)

4-Nghỉ lễ 30 tháng 4 và 1 tháng 5, 4 ngày:

-29/04/2017 (04/04 âm)
-30/04/2017 (05/04 âm)
-01/05/2017 (06/04 âm)
-02/05/2017 (07/04 âm)

5-Nghỉ lễ quốc khánh 2017, 3 ngày:

-02/09/2017 (12/07 âm)
-03/09/2017 (13/07 âm)
-04/09/2017 (14/07 âm)
Đỗ Đình Tuân
(Sưu tầm)

Điểm diện nhà văn nhà thơ 55: Thu Bồn

55. Thu Bồn
    (1935-2003)

Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng cháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.
                             Xuân Sách
Nhà thơ Thu Bồn trong ký ức những người cùng thời

        Hà Đức Trọng có thơ đăng ở báo Quân đội Nhân dân và tạp chí Văn nghệ Quân đội từ 1957, nhưng phải đến cuối 1964, bút danh Thu Bồn, tên dòng sông quê hương, mới được chú ý, khi ký dưới Trường ca Bài ca chim Chơ rao. Báo Văn nghệ số 84 ra ngày 4-12-1964, đã trân trọng ra một phụ trương in kiểu tờ gập bản trường ca được nhà thơ Thanh Hải, trong Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam lần đầu ra thăm Miền Bắc mang ra. Gần ngàn câu thơ kể về cuộc chiến đấu hào hùng của đồng bào Kinh - Thượng ở Tây Nguyên đã thổi bùng lên một niềm tin lớn vào thắng lợi. Ngay trong cùng số báo có bài bình của nhà thơ Hoàng Trung Thông: Bài ca chim Chơ rao, một khúc hát trữ tình cách mạng, một bản trường ca về những con người chiến đấu của Miền Nam. Số báo sau, nhà thơ Nông Quốc Chấn có bài: Một bản hùng ca của những con người thép. Cũng năm 1964, Nhà xuất bản Văn học in thành sách, rồi được dịch sang tiếng Trung, cùng thời với Những bức thư từ tuyến đầu Tổ quốc, cho đến nay vẫn là một hiện tượng hiếm trong văn học hai nước.
        Từ đó, hành trình chiến đấu và sáng tạo của nhà thơ là một con đường lớn, với những tác phẩm có vóc dáng vạm vỡ, một nguồn cảm hứng giàu có bắt nguồn trực tiếp từ hiện thực cuộc chiến đấu mà nhà thơ vừa là người chiến sĩ. Trong văn học kháng chiến, hiếm có tác giả nào nhận được sự đánh giá và nhận xét của những người làm cán bộ quân sự và chính trị về con người và tác phẩm như Thu Bồn.
        Nhà văn Nguyên Ngọc, tác giả Đất nước đứng lên, Rừng Xà nu, người lãnh đạo trực tiếp của nhà thơ trong những năm chống Mỹ đã viết: Tất cả những ai từng gặp Thu Bồn đều có cảm giác như không phải cuộc sống lôi cuốn anh, mà chính anh lôi cuốn cuộc sống ào ào đi theo mình trong một cơn lũ sóng ào ào, vội vã, cuống quýt, cứ như lúc nào cũng sợ thiếu, cũng sợ muộn, lúc nào cũng sợ không đủ, không kịp… Ở chiến trường, Thu Bồn sống ào ạt, lao động ào ạt, viết ào ạt, yêu ào ạt. Ngay cả trong tình yêu nữa anh như lúc nào cũng sợ không kịp, không đủ. Trong lao động-lao động giữa chiến tranh và sau này, trong hòa bình, anh nổi tiếng mạnh mẽ và tháo vát. Có lần, anh một mình dựng một căn nhà giữa rừng, mà là một căn nhà hai tầng hẳn hoi, cứ như một căn biệt thự giữa Hà Nội!... Đi chiến đấu, Thu Bồn bao giờ cũng đòi có mặt ở mũi nhọn nhất… Và chính ở những ngày tháng khó khăn, gian khổ nhất ở chiến trường, anh viết Bài ca chim Chơ rao nổi tiếng. Xuân Mậu Thân, trước đoàn quân hàng ngàn người sắp bước vào cuộc Tổng tấn công, anh đọc như thét vang:
Đà Nẵng gọi ta như mẹ gọi con
Như người yêu gọi người yêu xa cách.
         Ông Phạm Đức Nam, nguyên Chủ tịch tỉnh Quảng Nam biết Thu Bồn qua mấy thời kỳ kháng chiến và xây dựng viết: Cuộc đời Thu Bồn luôn rực sáng, càng rực sáng hơn ở những bước ngoặt lịch sử đất nước, ở những thời điểm cam go nhất, quyết liệt nhất, hy sinh cao nhất của cuộc chiến tranh, nhất là thời kỳ đánh Mỹ và thời kỳ trước đổi mới của nước ta, cả thời Thu Bồn sống, chiến đấu ở nước bạn Campuchia. Chính ở những bước ngoặt đó, anh là người đi tiên phong mở đường và bao giờ cũng để lại những tác phẩm ghi dấu mốc lịch sử đó một cách chói sáng… Quảng Nam - Đà Nẵng thường là nơi bắt đầu những cuộc chiến đấu đẫm máu trong lịch sử giữ nước. Nơi đây luôn đi đầu, không dao động, không run sợ bất kỳ một thế lực độc ác lớn nào trên thế giới. Tôi nói điều này để nói lên tầm vóc con người Thu Bồn, tầm vóc thơ ca Thu Bồn. Không có những đối đầu dữ dội, quyết liệt ghê gớm đó, sẽ không có Thu Bồn, không có thơ Thu Bồn. Thu Bồn trở thành một biểu tượng anh hùng sáng đẹp của quê hương mình… Thu Bồn ngày nay vẫn y như Thu Bồn ngày xưa đánh Mỹ. Thơ Thu Bồn mạnh hơn một binh đoàn. Đó là bài thơ Đà Nẵng gọi ta, Thu Bồn viết trước cuộc xung trận vào Đà Nẵng Mậu Thân 1968.
         Bộ trưởng Hoàng Minh Thắng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, từng là Bí thư Quảng Nam - Đà Nẵng (QN-ĐN) kể lại: Được biết Thu Bồn trở vào chiến trường rất sớm. Nhưng mãi đến năm 1965, khi về Quân khu tổng kết phong trào du kích chiến tranh tại Đại hội chiến sĩ thi đua Quân khu, tôi mới gặp Thu Bồn ở vùng căn cứ Trà My. Chúng tôi quen nhau, thân nhau trong thời gian họp ở Quân khu, tối tối mắc võng nằm kể chuyện quê nhà tôi mới biết Thu Bồn sinh ra ở làng Thanh Quýt, thoát ly từ rất sớm, vào thiếu sinh quân lúc tròn 12 tuổi, vừa làm giao liên, vừa là chiến sĩ đánh giặc. Anh kể cho tôi nghe về anh, từ thời niên thiếu đến lúc trưởng thành, từ anh giao liên đến với viết văn, làm thơ, làm báo trong kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, đã trải qua những gian truân nhọc nhằn… và rồi ở anh, cái đọng lại nhiều nhất, âm vang lớn nhất: Một nhà thơ - Một Hiệp sĩ thơ tài hoa (Ông còn thuộc nhiều bài thơ của Thu Bồn). Quả nhiên đúng, Thu Bồn là nhà thơ lớn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ anh như tiếng kèn xung trận, có tác dụng động viên sức mạnh toàn quân, toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
         Ông Hồ Nghinh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, một lãnh đaọ kỳ cựu và có uy tín cao ở QN-ĐN thì tâm sự: Thu Bồn lạ lắm! Thơ Thu Bồn hay lắm! Mình ca ngợi Thu Bồn liệu có làm phiền ai không? Mình nhớ hồi 1962, mình và Thu Bồn tiếp giới học sinh, sinh viên nội thành Đà Nẵng do Lê Công Cơ đưa lên Ôray. Khi mới tới, họ thấy Thu Bồn không nói, mà chỉ làm liền tay mọi thứ, để hướng dẫn họ ổn định chỗ ở, họ tưởng anh là giao liên, hay nhiều lắm là trạm trưởng ở đây. Khi biết đó là nhà thơ Thu Bồn ở miền Bắc vào, họ ồ lên sung sướng, thán phục. Bởi khi còn ở trong thành, họ đã chép và chuyền tay nhau đọc bài thơ của Thu Bồn: Hôn mảnh đất quê hương. Họ coi Thu Bồn như một thần tượng. Mà coi Thu Bồn là Thần tượng là phải. Cao lớn, đẹp trai, nói dẻo, đọc thơ rất hay, con kiến dưới lỗ cũng bò ra nghe. Họ sống với nhau không nhiều nhưng đầy kỷ niệm. Họ bu quanh Thu Bồn. Họ chép thơ Thu Bồn. Họ học thuộc thơ Thu Bồn… Ảnh hưởng của Thu Bồn với lớp học sinh sinh viên cách mạng ngày ấy rất ghê gớm. Thu Bồn là số 1. Là số 1 đó nghe.
         Những năm tháng đó, thơ Thu Bồn cũng được tuổi trẻ đô thị chuyền tay nhau đọc, chép trong những cuốn sổ tay hồng của học trò bên cạnh thơ yêu nước của các nhà thơ trẻ đô thị… Bài thơ Tre xanh, Mẹ Việt Nam, và sau này bài Gửi lòng con đến cùng cha viết ngày Bác Hồ mất được chép chuyền nhau trong các dịp hội họp, mít tinh. Có khi là biểu ngữ trong các cuộc biểu tình, như hai câu: Cho con núi rộng sông dài/ Cho con lưỡi kiếm đã mài ngàn năm.
         Khẩu khí thơ Thu Bồn đặc biệt lợi hại khi xuất hiện trước đám đông, trước hàng quân, trong hội trường, hay cả những ngày hội thơ quốc tế ở nhiều nước sau khi Bài ca chim Chơ rao được trao Giải Bông sen của Hội Nhà văn Á-Phi, cùng đọc thơ với A. Nexto, Tổng thống Ăng gô la, các nhà thơ nổi tiếng hùng biện: K. Si mô nôp, Gam da tôp, trước bà Thủ tướng Ấn độ Indira Găngđi. Trường ca Campuchia hy vọng viết từ 1977, trước khi Campuchia được giải phóng khỏi bàn tay Khơme đỏ, được coi như có tính tiên tri, được Thủ Tướng Hun-xen đọc và đánh giá cao. Đặc biệt, trong một bài diễn văn quan trọng khi vượt đại dương, sang thăm Cu Ba, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã trích một đoạn thơ trong Trường ca này để nói về vị trí hai nước Việt Nam - Cu Ba:
Ngọn sóng qua đây thành lưỡi búa
Ngọn gió qua đây thành mũi lao
Cánh chim qua đây thành con tuấn mã
Tờ giấy qua đây thành trang sử đỏ
Quân thù nghe nói, mặt xanh như tàu lá
Chân ngựa vấp chân người, ngựa ngã
Bè bạn qua đây, con tàu nặng
Bè bạn qua đây, con sóng lặng.
         Đánh giá đúng mức vị trí và đóng góp của nhà thơ, trong điếu văn đọc ở tang lễ tháng 6-2003 tại TP Hồ Chí Minh, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam có nói: Nhắc đến Thu Bồn, người ta nhắc đến một tài năng vạm vỡ, một sinh lực tràn đầy, một người triệt để trong ý nghĩ và hành động, một người luôn phát quang để vượt lên phía trước… Thu Bồn là nhà thơ tài hoa, một người dồn đúc nhiều tài năng trong một tài năng… Thu Bồn là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của thế hệ các nhà văn chống Mỹ, là nhà văn hàng đầu của mảng văn học chiến tranh nhân dân và quân đội cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Thu Bồn là một mẫu mực về tấm gương chiến đấu, sáng tạo vì Tổ quốc, vì nhân dân. Những tác phẩm nổi tiếng của anh sẽ còn mãi với bạn đọc Việt Nam nhiều thế hệ.
         Mặc dầu được đánh giá cao như vậy, nhưng như bao người cựu chiến binh khác, cuộc sống Thu Bồn những năm cuối, nhất là sau mấy lần bị tai biến, gặp nhiều khó khăn. Không một lời than trách, nhưng khi đọc hai câu thơ: Hộ khẩu tôi nhập cuộc với tình yêu/ Thành phố hỡi! Đừng gọi tôi là “tạm trú”. Có đồng chí lãnh đạo địa phương đã rơi nước mắt. Không chỉ với riêng Thu Bồn, mà với bao nhiêu văn nghệ sĩ đã gắn bó máu thịt với chiến trường, đã viết nên bao nhiêu tác phẩm góp sức làm nên chiến thắng, làm rạng danh bao nhiêu chiến công của các chiến trường, họ chưa nhận được những hình thức khen tặng đúng mức, thiếu những công trình để lưu dấu những kỷ niệm về những năm gắn bó máu thịt với quân dân địa phương mình.
       Với nhà thơ Thu Bồn có lẽ xứng đáng với một Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội.
Nhà văn Ngô Thảo

MÙA ĐÔNG

 Kết quả hình ảnh cho mùa đông năm nay đến muộn


Cuối năm vẫn nắng chang chang,
Tìm đâu cho thấy cây bàng lá khô?
Mùa đông đâu? Mãi đợi chờ,
Lá bàng xanh, đến bây giờ vẫn xanh.
Đàn chim ríu rít chuyền cành,
Mùa đông hay hạ, làm anh ngỡ ngàng.
Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông,
Người xưa đã tính có trong bao ngày.
Có trong các tứ thơ hay,
Có trong tranh đẹp, làm say lòng người.
Mỗi mùa riêng một sắc trời,
Riêng hoa, riêng quả dâng đời ngát hương.
Năm nay nào thấy mùa đông,
Hay đang đi lạc, mà không thấy về.
Mùa đông xưa rét tái tê,
Có năm băng tuyết, làng quê trắng trời.
Mùa đông đâu, hãy về thôi,
Mùa đông đến chậm, lòng người chờ mong.
“Làm sao về được mùa đông…”
Bỗng nghe ai hát, não lòng người trông.
Về nhanh đi, hỡi mùa đông,
Cho em mặc đẹp thỏa lòng ước ao.

                             Nguyễn Đề Kháng           
                                25/11/2016

HOA DỪA CẠN

Hoa này cũng gọi Hoa Dừa
Nhưng là Dừa Cạn ; Ai chưa biết nào ?

Hoa Dừa Cạn đẹp làm sao
Bốn mùa chỉ một sắc đào dâng ta

Bốn mùa là bốn mùa hoa
Không cần tưới tắm, nhưng mà vẫn tươi

Phố Quê
25/11/2016
THANH DẠ