Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2017

SỰ KIỆN 30.4.1975- LỊCH SỬ KHÔNG CHẤP NHẬN SỰ MÙ MỜ, NGOẮT NGOÉO (2)

Mặc dù cuộc Hội thảo đã đưa ra kết luận song cái kết luận này lại gây ra phản ứng dữ dội từ một số nhân chứng và sự không đồng tình, không "tâm phục, khẩu phục" trong dư luận chung.


Cuộc bút chiến, tranh luận vẫn tiếp tục
Ngay sau khi báo chí đưa tin nội dung kết luận của Viện LSQS, từ TP.HCM, đại tá Bùi Văn Tùng đã lập tức phản ứng. Ông cho rằng “kết luận” đó không khách quan, nghiêng về phía Trung tướng tư lệnh Quân khu I Phạm Xuân Thệ và yêu cầu phải tiếp tục làm sáng tỏ sự thật lịch sử.
Tương tự, những người lính trên chiếc xe tăng nổi tiếng 390 cũng đã lên tiếng có ý kiến về công tác tổ chức hội thảo và phản đối “thông báo” của Viện Lịch sử quân sự.
Về công tác tổ chức Hội thảo, các thành viên kíp xe 390 cho rằng ban tổ chức đã có phần thiên vị và để sót một số nhân chứng quan trọng. Cụ thể là: đối với đại diện Lữ đoàn XT 203 ban tổ chức chỉ mời 3 người: ông Bùi Văn Tùng- nguyên chính ủy lữ đoàn; ông Trần Minh Công- nguyên Lữ đoàn phó tham mưu trưởng và ông Bùi Quang Thận- nguyên đại đội trưởng Đại đội XT 4. Trong 3 đại biểu này thì vào trưa 30.4.1975,  ông Công bận chỉ huy việc bố trí lực lượng ở ngoài sân và xung quanh dinh đề phòng địch phản kích; ông Thận thì lên nóc dinh cắm cờ. Hai đại biểu này không hề biết những gì xảy ra trong dinh- đặc biệt là trong phòng khánh tiết nên không thể có ý kiến gì được. Chỉ có duy nhất ông Bùi Văn Tùng là ở trong dinh lúc ấy song đã bị tai biến mạch máu não một lần, trí nhớ giảm sút, nói năng khó khăn. Vậy có thể coi như Lữ đoàn XT203- lực lượng chủ công đánh chiếm và có mặt sớm nhất tại dinh ĐL đã không có đại biểu ở đó.
Trong khi đó, BTC lại bỏ qua những nhân chứng đã có mặt đầu tiên trong dinh ĐL, đã tiến hành những công việc đầu tiên để bắt giữ TT Dương Văn Minh cùng nội các- đó chính là các thành viên kíp xe 390.

Những chiến sĩ trên kíp xe 390 nói gì?
Trung úy Vũ Đăng Toàn


Hãy nghe trung úy Vũ Đăng Toàn- nguyên chính trị viên Đại đội xe tăng 4, đồng thời là chỉ huy xe 390- chiếc xe đã húc đổ cổng chính dinh ĐL kể lại: “Tôi xin khẳng định, sau khi xe tăng 390 húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập và tiến sát bậc thềm lên xuống của Dinh rồi dừng lại, tôi thấy anh Bùi Quang Thận (đại đội trưởng Đại đội xe tăng 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203, trưởng xe 843) cầm cờ chạy tới nơi. Biết đồng đội vào Dinh làm nhiệm vụ cắm cờ, tôi vội xách khẩu AK (bên hông vẫn đeo súng ngắn) chạy theo để yểm hộ.
Hai chúng tôi vừa vào tầng 1 của Dinh đã gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh - Phụ tá Tổng thống Dương Văn Minh. Tôi nhớ rõ lúc ấy ông Hạnh mặc quân phục, đội mũ hơi lệch, đeo quân hàm chuẩn tướng.
Ông Hạnh chào rất lễ phép và nói Tổng thống Dương Văn Minh đang đợi quân Cách mạng. Lên đến lầu 2, anh Bùi Quang Thận định lên cắm cờ nhưng không biết đường. Ông Nguyễn Hữu Hạnh cử người đi theo và có một người mặc chiếc áo trắng cộc tay nhận dẫn anh Thận đi lên nóc Dinh bằng thang máy. Còn lại một mình với khẩu AK vẫn lăm lăm trên tay, tôi thấy Nội các của Dương Văn Minh nhốn nháo với thái độ khá sợ hãi.
Lúc này Ngô Sĩ Nguyên (nguyên pháo thủ số 1 xe 390) cũng lên tới nơi. Hai anh em chúng tôi đã dồn Nội các của Dương Văn Minh vào một chỗ, sau đó Nguyên ra đứng gác ở cửa.
Thấy ổn, ông Nguyễn Hữu Hạnh mới vào phòng trong mời ông Minh ra chào. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh chi tiết: Lúc chúng tôi lên, ông Minh không phải đã ngồi sẵn cùng nội các trong phòng khánh tiết, mà ngồi ở phòng bên cạnh.
Khi ông Minh vừa ra thì đại úy Phạm Xuân Thệ (lúc đó là Trung đoàn phó Trung đoàn 66- PV) cùng 2 trợ lý cũng bước vào phòng.
Anh Thệ có nói với tôi anh là trung đoàn phó trung đoàn 66, sau đó bắt tay Dương Văn Minh bằng tay phải, tôi cũng bắt tay Dương Văn Minh bằng tay trái.
Khi mọi người chưa kịp làm gì tiếp thì trung tá Bùi Văn Tùng (sau là đại tá, hiện đã nghỉ hưu- PV) Chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 tới. Ông Minh thấy anh Tùng người to cao thì lễ phép chào: “Thưa ông, chúng tôi đợi các ông vào lâu rồi để bàn giao chính quyền”.
Anh Tùng nói: “Các ông là người bại trận. Các ông không còn gì để bàn giao mà chỉ có đầu hàng vô điều kiện”.
Còn pháo thủ Ngô Sĩ Nguyên thì kể: “Khi anh Bùi Văn Tùng bước vào, anh Thệ chào và nói: “Báo cáo thủ trưởng, tôi là đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó Trung đoàn 66, sư 304”.
Anh Bùi Văn Tùng hỏi: “Ngoài anh ra còn ai nữa không”. Anh Thệ nói: “Không”. Anh Tùng nói: “Vậy thì mời anh vào đây cùng làm việc với 203”.
Lúc này, trong Nội các có người báo phòng bên có đường phát thanh, nhưng kiểm tra thì thấy bị hỏng. Ông Vũ Văn Mẫu nói: “Nếu đưa chúng tôi sang Đài Phát thanh Sài Gòn thì phải có xe bọc thép đưa đi, nếu không phe đối lập sẽ gây nguy hiểm cho chúng tôi”.
Anh Bùi Văn Tùng nói luôn: “Bây giờ không còn phe đối lập nào ở Sài Gòn nữa, mà toàn là quân giải phóng”.
Pháo thủ Ngô Sĩ Nguyên

Như vậy, trái ngược hẳn với kết luận của Viện LSQS, những người lính đầu tiên có mặt trong dinh ĐL đã khẳng định chính ủy Bùi Văn Tùng đã có mặt tại đây từ khá sớm và đã trực tiếp xử lý các vấn đề cốt yếu nhất để nhanh chóng đưa TT Dương Văn Minh sang đài phát thanh tuyên bố đầu hàng.
Những ý kiến trái chiều
Sự kiện ông Bùi Văn Tùng có mặt tại dinh ĐL và đã tổ chức đưa TT Dương Văn Minh sang đài phát thanh cũng được Thượng tướng Nguyễn Hữu An- nguyên tư lệnh Quân đoàn 2 lúc đó xác nhận trong hồi ký của mình: “... Một cán bộ bảo vệ dẫn chúng tôi tới nơi tập trung nội các ngụy. Nhìn những gương mặt sượng sùng, không thấy Dương Văn Minh, tôi hỏi anh cán bộ bảo vệ, anh cho biết: Phạm Xuân Thệ trung đoàn phó Trung đoàn 66 và Bùi Văn Tùng chính ủy Lữ đoàn 203 đã dẫn Minh đến đài phát thanh kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền đầu hàng. Công Trang (đại tá phó chính ủy quân đoàn- TG) sợ sổng mất Dương Văn Minh, anh nổi nóng hỏi: “Ai giao cho các cậu làm việc đó?”. Tôi phải giật áo Công Trang: “Đằng nào anh em cũng làm rồi, bình tĩnh đợi xem sao...” (Chiến trường mới- NXB QĐND 1995, tr 321).
Thế còn ý kiến của các nhân chứng có mặt tại Đài phát thanh Sài Gòn vào trưa 30-4 thì cũng chia làm hai. Các đồng đội cũ ở trung đoàn 66 bộ binh của trung tướng Phạm Xuân Thệ là thiếu tướng Hoàng Trọng Tình, đại tá Phùng Bá Đam... vẫn cho rằng chính ông Thệ đã tổ chức soạn thảo và chấp bút bản tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh. Còn các nhân chứng khác cũng có mặt trong khoảnh khắc lịch sử đó như: nhà báo Kỳ Nhân (lúc đó làm việc cho Hãng AP, người chụp bức ảnh duy nhất tại đài phát thanh), sinh viên Nguyễn Hữu Thái, sinh viên Huỳnh Ngọc Chênh… lại khẳng định người làm việc đó là chính ủy Bùi Văn Tùng.
Và cuộc “bút chiến” đã nổ ra khi tạp chí Xưa & Nay (thuộc Hội Khoa học lịch sử VN) thực hiện một chuyên đề dài 12 trang về diễn biến ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn. Trong đó, ông Dương Trung Quốc và các tác giả khác đã đưa ra nhiều tư liệu và luận cứ khác, nhằm gián tiếp chứng minh rằng “thông báo” của Viện Lịch sử quân sự là không đầy đủ, không khách quan và chính xác. Không lâu sau đó, tạp chí Lịch Sử Quân Sự (cơ quan của Viện Lịch sử quân sự) “đáp trả” cũng bằng một chuyên đề nhiều trang về sự kiện này.
Mọi chuyện không chỉ dừng lại ở hai tạp chí chuyên ngành. Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc 2007, Đài truyền hình TP.HCM (HTV) đã tung ra bộ phim tài liệu lịch sử đáng chú ý, với tựa đề Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4 của đạo diễn Lâm Thành Quí. Với những tư liệu và nhân chứng mới, bộ phim này đã gián tiếp phủ nhận “thông báo kết quả nghiên cứu” của Viện Lịch sử quân sự. Bộ phim được các thành viên giám khảo đánh giá rất cao. Sau đó HTV đã chiếu bộ phim này trên kênh HTV 9 và được dư luận rất đồng tình bởi những lập luận sắc xảo của đoàn làm phim cùng sự thuyết phục của các chứng cứ.
1- “Dinh Độc Lập trưa 30.4.1975” của HTV9
Và gần đây nhất- năm 2016, đài truyền hình VTV1 đã phát bộ phim tài liệu “Nhân chứng thứ ba”. Trong đó kể lại những gì mà những người thuộc “lực lượng thứ ba”- không thân bên nào kể lại. Tất cả các nhân chứng, vật chứng đều cho thấy vai trò của chính ủy Bùi Văn Tùng tại dinh Độc Lập và Đài phát thanh Sài Gòn trưa 30.4.1975. Các chứng nhân này cũng gián tiếp phủ định nội dung “Thông báo của Viện LSQS”.
2- “Nhân chứng thứ ba” của VTV1:

 Tuy nhiên, chưa thấy Viện LSQS có động thái gì phản ứng lại trước những luồng dư luận trái chiều đó!
NKN

Vườn mưa








27/04/2017
Đỗ Đình Tuân

ANH LÍNH MỘT CHIỀU BÊN VỢ


Sương pha nhạt nắng bên giòng sông
Chiều ngả chơi vơi phía cánh đồng
Chồng tốt đệm đàn ngồi cạnh vợ
Vợ hiền tập hát ghé vai chồng
Xanh xanh quân phục, xanh màu lá
Trăng trắng áo dài, trắng sắc bông
Lời hát, tiếng đàn xao xuyến gió
Âm thanh trầm bổng vọng thinh không.

27/4/2017
Nguyễn Đức Hưng

NGƯỜI NĂM ẤY


Cứ ngỡ quen nhau tự thủa nào
Nhìn em anh bỗng thấy nao nao
Tóc vương hương lúa đồng chiêm trũng
Má thoảng mùi cây đất bãi cao
Manh áo bà ba thời kháng chiến
Chiếc quần thâm đất thủa chênh chao
Bây giờ hai đứa yên gia thất
Thì cứ mến nhau cũng đã sao.

27/4/2017
Nguyễn Đức Hưng

VIẾNG MỘ ĐẠI THI HÀO

  


Mộ đại danh nhân ở xứ Hà
Vượt sông Lam sóng cuộn vô bờ
Nghi Xuân núi dựng trùng trùng biếc
Vạn ánh mây hồng nhịp sóng thơ
Biển rộng dăng buồm thuyền lướt gió
Rừng xanh mải miết cánh chim vờn
Dòng La ánh mắt người thôn nữ
Nhớ bóng nhà thơ cụ Nguyễn Du.

26/4/2017
Văn Nhã

VỤ ÁN OAN

Cảnh hỗn loạn ở buổi xin lỗi công khai. Ảnh: Đức Phạm.



Hàn Đức Long quê tỉnh Bắc Giang
Hàm oan kết án tử bao lần
Dù căn cứ liệu không căn cớ
Vẫn kết quan tòa hỏi thế gian?
Viện kiểm sát nghe chừng đuối lý
Công khai xin lổi giữa công đàng
Hiềm khi nạn chủ không nguôi giận
Vấn kéo ùa vào phá hét vang

26/4/2017
Văn Nhã

KIẾP NGƯỜI

 Ngày nào còn là trẻ con,
Nay thành ông lão sắp tròn bảy mươi.
Bạn bè từ thuở thiếu thời,
Có người thôi đã về nơi vĩnh hằng.
Người đời ai cũng biết rằng,
Mấy ai đi hết trăm năm kiếp người.
Trần gian ta ở trọ thôi!
Vĩnh hằng ai cũng ở nơi suối vàng.
Cuộc đời-một chuyến đò ngang,
Thời gian ai cũng phải sang thôi mà.
Buồn, vui ai biết cho ta?
Giàu sang, nghèo khổ cũng qua một đời!
Đã là số kiếp tại trời,
Lúc nào còn sống cứ cười hát ca.
Đừng lo nghĩ để chóng già,
Cảm ơn trời đất cho ta làm người.

7/1/2016
Đề Kháng

TIẾNG RỪNG

 Ở rừng các bạn hãy lắng nghe,
Điệu nhạc rừng xanh tiếng tắc kè.
Tiếng vang xa như lời sông núi,
Gọi hãy về nhanh hỡi mùa hè.
Người đếm tiếng kêu xem chẵn, lẻ
Để đoán xem mưa nắng mai về.
Ai đã từng sống trong rừng vắng,
Tắc kè kêu rộn một vùng quê.

1979
Đề Kháng

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

SỰ KIỆN 30.4.1975- LỊCH SỬ KHÔNG CHẤP NHẬN SỰ NGOẮT NGOÉO, MÙ MỜ (1)

Mới chỉ xảy ra 40 năm mà sự kiện “Ai là người bắt và thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh- Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 30.4.1975” vẫn còn rất mù mờ và tốn không biết bao giấy mực của báo chí, đồng thời cũng tạo nên một dư luận rất không hay về độ chân thực của lịch sử nước nhà.


Tuy vậy, cho đến giờ vẫn chưa có một kết luận cụ thể, rõ ràng về sự kiện này. Ai là người bắt giữ Tổng thống (TT) Dương Văn Minh và nội các? Ai là người đã đưa ra quyết định đưa TT Dương Văn Minh ra Đài phát thanh? Ai dẫn giải TT Dương Văn Minh ra Đài? Tại Đài phát thanh, ai là người soạn thảo văn kiện tuyên bố đầu hàng cho TT Dương Văn Minh?...  Đó là ông Bùi Văn Tùng- nguyên Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 hay ông Phạm Xuân Thệ- nguyên trung đoàn phó Trung đoàn BB 66 hay là một ai khác? Nếu cứ để thời gian trôi qua và các nhân chứng sống lần lượt qua đời thì sự việc chỉ càng thêm mù mờ, rối rắm mà thôi. Trong lúc vẫn còn một số nhân chứng sống sự việc này cần được làm cho sáng tỏ ngay! Không lẽ để đến hàng trăm năm sau con cháu chúng ta sẽ phải tốn rất nhiều công sức và tiền của nghiên cứu để tìm ra sự thật mà câu trả lời không quá khó với chúng ta ngay bây giờ?

Theo dòng sự kiện
 Giở lại những trang báo sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 cùng rất nhiều hồi ức, ghi chép... về các sự kiện xảy ra tại dinh Độc Lập (ĐL) cũng như Đài phát thanh Sài Gòn ngày đó đâu đâu cũng chỉ thấy nói: “Trung tá chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng đã tổ chức bắt Dương Văn Minh tại dinh ĐL, đưa ông ta ra Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng và chính ông là người thay mặt Quân giải phóng tiếp nhận đầu hàng của Tổng thống VNCH. Chính quyền VNCH từ trung ương đến địa phương nhanh chóng tan rã, các đơn vị quân đội VNCH cũng lần lượt buông súng đầu hàng”... Với những thành tích đó, ngày 17 tháng Năm năm 1975 tại Phòng khánh tiết dinh Độc Lập ông đã được thay mặt đại diện 5 cánh quân đón nhận cái ôm hôn thắm thiết của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ôm hôn chính ủy Bùi Văn Tùng.

Mọi chuyện tưởng như đã rõ như ban ngày nhưng không phải vậy! Năm 1985, trên một số báo đài xuất hiện các bài trả lời phỏng vấn của ông Phạm Xuân Thệ- nguyên đại úy trung đoàn phó Trung đoàn BB 66 (năm 1975) cho rằng chính ông mới là người bắt giữ TT Dương văn Minh, đưa ông ta sang Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Chỉ đến khi việc đã gần xong ông Bùi Văn Tùng mới xuất hiện và tham gia vào đoạn cuối của câu chuyện.
Hãy nghe ông Thệ kể: “…Tôi đến cửa, toàn bộ nội các của họ đứng dậy chào. Vẻ mặt ai cũng bồn chồn lo lắng, có người lúng túng sợ sệt. Tổng thống Dương Văn Minh chậm rãi: “Biết quân giải phóng đã vào thành phố, nội các chúng tôi đang chờ các ông để bàn giao”. Tôi nói dứt khoát: “Các ông phải đầu hàng vô điều kiện. Yêu cầu tất cả xếp hàng đôi ra khỏi ngôi nhà này”. Tổng thống Dương Văn Minh khẩn khoản: “Chúng tôi xin được ở đây. Ra ngoài bây giờ không an toàn”. Tôi ra lệnh: “Các ông phải ra ngay đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện”. Sau đó tôi đưa ông ta ra đài phát thanh.
Phạm Xuân Thệ
Tôi thảo bản tuyên bố: “Tôi – Dương Văn Minh – tổng thống chính quyền Sài Gòn, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước sức mạnh của quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi kêu gọi chính quyền từ trung ương đến địa phương giải tán toàn bộ, trao lại cho quân giải phóng miền Nam Việt Nam”. Ông ta phản đối chữ “tổng thống”, đòi đổi thành “đại tướng”, tôi không chịu: “Đã nhận chức tổng thống mới một ngày hay một giờ ông cũng là tổng thống”.Văn bản đang được soạn thảo thì trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng mới xuất hiện, và sau đó cùng tiếp tục thảo và hoàn chỉnh lời tuyên bố đó.
Tiếp đó là một loạt cuộc tranh luận, đối chất và dư luận bị phân hóa thành 2 luồng trái ngược nhau. Sự căng thẳng đến mức Ban Tuyên giáo TƯ phải chỉ đạo Viện Lịch sử quân sự (LSQS) tổ chức nghiên cứu để kết luận về vụ việc này. Sau một thời gian nghiên cứu tư liệu, gặp gỡ nhân chứng, tổ chức hội thảo... Viện LSQS đã đưa ra một bản kết luận có rất nhiều khác biệt so với những gì người ta từng biết trước kia.
Trích kết luận của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Cuộc Hội thảo về Sự kiện 30.4.1975 tại dinh ĐL đã được Viện LSQS tổ chức ngày 19.10.2005 với sự tham gia của một số nhân chứng. Kết thúc Hội thảo, Viện LSQS đã đưa ra kết luận với các nội dung chủ yếu như sau:
...
2 – Về việc bắt Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các chính quyền Sài Gòn ở dinh Độc Lập và áp giải Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng:
Trong mũi tiến công thọc sâu bằng sức mạnh tổng hợp của quân đoàn 2 (gồm Lữ đoàn xe tăng 203, Trung đoàn bộ binh 66 và các lực lượng phối hợp) vào sào huyệt cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, Đại đội 4 xe tăng (thuộc Lữ đoàn 203) là đơn vị tiến công, đột nhập vào dinh Độc Lập đầu tiên và đồng chí Bùi Quang Thận là người thực hiện việc kéo cờ giải phóng trên nóc Dinh.
Cùng lúc đó, một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chỉ huy tiến vào dinh Độc Lập, lên tầng 2 bắt Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các ở phòng họp và áp giải Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng.
3 – Về việc thảo lời tuyên bố đầu hàng và tuyên bố chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh:
Tại đài phát thanh đồng chí Phạm Xuân Thệ cùng các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Văn bản đang được soạn thảo, thì Trung tá Bùi Văn Tùng – Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 xuất hiện. Từ đó, bộ phận cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Bùi Văn Tùng tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm để phát trên đài phát thanh.
Riêng lời Tuyên bố chấp nhận đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh do đồng chí Bùi Văn Tùng soạn thảo và trực tiếp đọc trên đài phát thanh”.

Với kết luận này thì ông Phạm Xuân Thệ là nhân vật chính xử lý mọi việc ở dinh ĐL và cả ở đài phát thanh, còntrung tá Bùi Văn Tùng thì không hề có mặt tại dinh Độc Lậpvà chỉ như một người vô tình ghé qua Đài phát thanh nhưng chỉ do có quân hàm cao nên được tham gia vào đoạn cuối của sự kiện mà thôi!

Lịch sử cũng được viết lại
Sự thay đổi không chỉ diễn ra trên mặt báo mà còn đi vào chính sử, làm thay đổi cả sách lịch sử của một số đơn vị liên quan.Xin mời các bạn xem 2 đoạn văn mô tả sự kiện trưa 30.4.1975 của cùng một cuốn sách viết về lịch sử Lữ đoàn xe tăng 203 song được in ở 2 thời điểm khác nhau: 1990 và 2000 thì sẽ rõ người ta đã viết lại LS thế nào. 

Cuốn in năm 1990 viết: “... Lúc ấy là 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cùng thời gian đó Phó trung đoàn trưởng 66 Phạm Xuân Thệ cùng đồng chí trung tá Bùi Văn Tùng Chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 và một số cán bộ, chiến sĩ xe tăng, bộ binh, công binh, pháo binh, vệ binh của binh đoàn, một số chiến sĩ biệt động Sài Gòn tiến thẳng vào phòng họp bắt toàn bộ bọn đầu sỏ ngụy quyền trung ương...
Dương Văn Minh và toàn thể nội các ngụy hiểu rất rõ sức mạnh áp đảo của CM, chúng chỉ có một con đường đầu hàng vô điều kiện”(Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2 xuất bản 1990, tr 132).
Cũng cuốn này còn trích từ cuốn “Binh đoàn Hương Giang”- NXBQĐND in năm 1985, tr 201: “Các đồng chí Nguyễn Tất Tài lữ đoàn trưởng, Bùi Văn Tùng Chính ủy Lữ đoàn 203 xe tăng và cán bộ chiến sĩ binh đoàn vinh dự là những người trong đội hình của lực lượng thọc sâu tiến vào dinh Độc lập đầu tiên, thay mặt anh em bắt TT Dương Văn Minh đến máy ghi âm đọc bản tuyên bố xin hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện QGP miền nam Việt Nam. Quân đội ta lập tức công bố đã chiếm dinh ĐL, bắt sống toàn bộ nội các và TT ngụy”(sách đã dẫn- tr 133).
Song vẫn sự kiện trên trong cuốn Lịch sử Trung đoàn xe tăng 203 in năm 2000 thì viết: “Lúc ấy là hơn 11 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng. Cùng thời gian đó trung đoàn phó Trung đoàn BB66 Phạm Xuân Thệ cùng một số  trong lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 và biệt động thành tiến vào phòng họp bắt TT Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật chủ chốt của nội các chính quyền SG. Ngay sau đó đồng chí Phạm Xuân Thệ cùng một sốcán bộ, chiến sĩ áp giải TT Dương Văn Minh đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng.

Trong lúc đồng chí Phạm Xuân Thệ và các đồng chí cán bộ Trung đoàn 66 soạn thảo nội dung Lời tuyên bố đầu hàng thì đồng chí Bùi Văn Tùng chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 đến. Mọi người cùng tham gia soạn thảo tiếp để Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh. Vì chữ đồng chí Thệ khó đọc. Dương Văn Minh không đọc nổi, đồng chí Thệ Phải đọc cho Dương Văn Minh chép lại” (Lịch sử Trung đoàn xe tăng 203- NXB QĐND- 2000, tr145).

Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm mà lịch sử của một đơn vị đã được thay đổi rất nhiều. Vậy đâu là sự thật?

            (Xin lưu ý, từ năm 1995 ông Phạm Xuân Thệ là tư lệnh Quân đoàn 2, phó bí thư  đảng ủy quân đoàn và Chủ tịch Hội đồng KHQS của quân đoàn)

NKN

Mùa hoa sưa




26/04/2017
Đỗ Đình Tuân