Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Đừng mơ...!

Dẫu là áo ấm cơm no
Nhưng còn thiếu thốn tự do nhân quyền
Thử nhìn sang những nước bên
Biểu tình bày tỏ là quyền của dân
Ở mình sao lại cấm ngăn
Bất đồng chính kiến tra chân vào cùm ?
Bao nhiêu thức giả lo buồn
Nếu chưa dân chủ thì còn…tụt sau
Nghèo nàn lạc hậu còn lâu
Tiến lên nước mạnh dân giầu…đừng mơ…!
10/12/2014
Đỗ Đình Tuân

THẢ DIỀU LÊN TRÊN MÂY

                                                                 
 
Thả cánh diều lên trên mây
Ghé tai nghe dây
Thấy lòng ta rạo rực
Tâm hồn ta bay bay

Thả cánh diều lên trên mây
Tay ta cầm dây
Thấy đầu dây gió giật
Bao giận hờn quên ngay

Thả cánh diều lên trên mây
Tiếng sáo vi vút đó đây
Giữa đồng quê thanh bình
Hỏi ai người không say?
                 Nhân Hưng, ngày 10-12-2014
                               Tạ Anh Ngôi

Bà lo tết




Gà to nhỏ ngót trăm con
Tết đã gần tới bà còn lo chi








Khoai tây ba luống xanh rì
Món hầm cổ cánh bà thì lo xa





Cô ve một luống sai hoa
Đỗ cộng lòng gà món nhắm rất ưa




Bà còn trồng mấy luống dưa
Ớt hành xà lách lưa thưa kín vườn




                          


Chuối xanh bà giữ vài buồng
Tết về nhà sẵn có vườn rau tươi.....

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 28


Bài 21

Điệu quyên
Nguyên tác và phiên âm:

吊鵑

Điệu quyên

惆悵冬皇去未歸

Trù trướng đông hoàng khứ vị quy

悲啼夜夜血沾衣

Bi đề dạ dạ huyết triêm y

此心已不問生死

Thử tâm dĩ bất vấn sinh tử

當日何修論是非

Đương nhật hà tu luận thị phi

苦節暗宜鶄卫石

Khổ tiết ám nghi Tinh vệ thạch

青風長對首陽葦

Thanh phong trường đối Thú dương vi

啍声驚起為君泣

Thôn thanh kinh khởi vị quân khấp

墻外紛紛蜂蝶飛

Tường ngoại phân phân phong điệp phi

Dịch nghĩa: Viếng con cuốc

Bùi ngùi về nỗi Đông hoàng đi chưa về 1
Đêm đêm kêu gào thảm thiết máu chảy đầm áo
Lòng này đã không kể gì đến chuyện sống chết
Thì còn cần gì bàn đến lẽ phải trái lúc bầy giờ ?
Tiết tháo bền bỉ tưởng chừng như viên đá của chim Tinh vệ 2
Phong cách thanh cao sánh mãi với rau vi ở núi Thú Dương 3
Giật mình tỉnh dậy vì ngươi mà khóc nghẹn ngào
Đã thấy ở ngoài tường ong bướm dang bay rối rả

Dịch thơ:

Buồn nhớ Đông hoàng thảm thiết thay
Đêm đêm khóc máu lệ tuôn đầy
Lòng này đâu sá thân sinh tử
Lúc ấy bàn chi sự dở hay
Hòn đá chim Tinh bền chí rắn
Rau vi núi Thú rõ lòng ngay
Giật mình tỉnh giấc vì ai khóc
Ong bướm ngoài tường rối rả bay.
                           Đỗ Đình Tuân
                             (Dịch thơ)
 
Chú thích:
  1. Đông hoàng: vua phương Đông, tức là thần của mùa xuân (chúa xuân)
  2. Đá của chim Tinh vệ: Con gái Viêm đế, chết đuối ở bể, hóa làm chim Tinh vệ ngậm đá lấp bể.
  3. Rau vi ở núi Thú Dương: thực phẩm chính của Bá Di, Thúc Tề hai ẩn sĩ không thèm ăn thóc nhà Chu
19/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Nhớ mẹ

 

Thuở nghèo theo mẹ lon ton
Con cua, con ốc lom khom tối ngày
Chiều về ngồi bán đắng cay
Giỏ cua, đổi mấy củ khoai ấm lòng

Tháng năm lúa nghẹn đòng đòng
Lửa thiêu nắng hạ - cháy cùng khát khao
Tháng mười, sóng lúa lao xao
Lũ về trôi cả công lao tháng ngày

Bão dông xô dáng mẹ gầy
Gánh mưa, đội nắng vơi đầy gian lao
Một đời những khát cùng khao
Bây giờ hết khổ, mẹ đâu có còn.

Đường quê giờ loáng xe bon
Máy xay, thay cảnh sớm hôm giần sàng
Ti-vi phủ sóng khắp làng
Ngô lai - lúa mới - lợn đàn - gà siêu

Điện bừng sáng, nước máy reo
Nhà xây, đẩy những mái nghèo lùi xa
Tóc con giờ đã sương pha
Rưng rưng nhớ mẹ lòng sa bùi ngùi.

                              
Lê Đình Bút

MÙA ĐÔNG

Mấy hôm lạnh lẽo gió tràn về
Cái rét làm người cũng tái tê
Chiếc áo anh mua từ dạo ấy
Em còn mặc nó giữ lời thề

Khăn quàng ấm cổ đẹp si mê
Quá khứ tình ta nỗi vụng về
Vẫn giữ hình em trong nỗi nhớ
Lòng anh ấm áp mỗi câu thề

Bao cơn gió lạnh tràn xuống bãi
Khóm mạ vừa lên đã úa tình
Dẫu đã qua rồi thời mộc mạc
Thì nên phải tự dưỡng thân mình

Từng làn gió bắc vẫn làm thinh
Thổi mãi phương nào nỗi ủ ê  
Ruộng chỉnh trang chưa cày, đợi nắng
Đồng quê vắng vẻ cánh chim về .
                                VN

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Lại dịch thơ Nguyễn Khuyến 27



Bài 20

Xuân nhật liên nga
Nguyên tác và phiên âm

春夜憐蛾

Xuân dạ liên nga

羨爾纎纎一羽翰

Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn

投明而死死而安

Đầu minh nhi tử tử nhi an

若為倘悴臨宜易

Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị

到得逡巡辨亦難

Đáo đắc thoan tuần biện diệc nan

素賦知能猶未泯

Tố phú tri năng do vị dẫn

當前名利不相關

Đương tiền danh lợi bất tương quan

孤燈殺爾猶憐爾

Cô đăng sát nhĩ do liên nhĩ

待到成灰淚未乾

Đãi đáo thành hôi lệ vị can




Dịch nghĩa: Đêm xuân thương con thiêu thân

Khen mày là  loài có cánh bé nhỏ
Lại biết gieo mình vào chỗ sáng mà chết, chết rồi thì yên tâm
Nếu là thảng thốt mà xông vào chỗ chết thì còn dễ
Nhưng dùi dắng mà quyết chết, thực là khó
Trời phú cho mày có lương tri lương năng chưa đến nỗi mất 1
Cho nên danh lợi trước mắt cũng không vướng víu gì
Ngọn đèn le lói tuy giết mày như vẫn thương mày
Cho đến lúc thành tro mà lệ vẫn chưa khô.

Dịch thơ:

Bé như mày thật đáng khen
Lao vào sáng chết mới yên dạ mày
Phải đâu thảng thốt chết ngay
Quanh co dùng dắng chết này mới gan
Trời cho mày đủ lương năng
Cho nên danh lợi mày không vướng gì
Giết mi đèn vẫn thương mi
Thân tàn mà lệ đầm đìa không khô.
                          Đỗ Đình Tuân
                             (Dịch thơ)
Chú thích:
  1. Lương tri: hiẻu biệt tự nhiên; lương năng: khả năng tự nhiên. Mạnh Tử nói: “Cái mà người ta không phải nghĩ mà biết, đó là lương tri; Điều mà người ta không phải học mà làm được đó là lương năng”.
  2. Ngọn đèn (cô đăng): ở đây có thể là ngọn nến, tác giả mượn những giọt nến chảy xuống để hình dung như những giọt lệ khóc con thiêu thân. Đường thi có câu: “Lạp cự thành hôi lệ thủy can”(Ngọn nến đã ra tro rồi lệ mới khô). Có người nói bài thơ này tác giả làm khi nghe được tin cụ nghè Dao Cù bị giặc Pháp giết và nhân lúc ấy có con thiêu thân sa vào đọi dầu mà chết bèn mượn để ngụ ý.
Cụ nghè Dao Cù tức là cụ Vũ Hữu Lợi, người làng Dao Cù huyện Nam Trực, đậu tiến sĩ  khoa Ất Hợi đời Tự Đức (1875). Giặc Pháp lấy Nam Định, cụ mưu khôi phục, việc bị lộ, giặc Pháp xử chém cụ tại tỉnh lỵ Nam Định.
18/11/2014
Đỗ Đình Tuân

Đi tìm

 
 

 
Nỗi lòng rối tựa như tơ
Tôi đi tìm một quả mơ trái thì
Quẩn quanh bên một gốc si
Lên rừng xuống biển biết đi đường nào
Trời mưa thác đổ ào ào
Tôi đi vớt một trái đào đang trôi
Tìm tre vót đũa thành đôi
Xoay vung để chọn đúng nồi chẳng lâu
Tìm ai nghiêng nón bên cầu
Tuy không rực rỡ cũng màu hoàng hôn.
                                        Kim Cúc

Phiêu du


Ước sao anh cũng đa tình
Được như chúng bạn của mình vậy thôi…?
Người xưa anh khuất lâu rồi
Người nay anh gửi mỗi nơi một nàng
Thả hồn mây gió lang thang
Khi qua bể ái khi sang đò tình
Phiêu du trong cõi bồng bềnh
Dẫu đêm về chỉ một mình...nhớ em... !
8/12/2014
Đỗ Đình Tuân

THƠ TẶNG "TRĂNG QUÊ"

(Kính tặng hai thi sỹ cha con: Nguyễn Văn chuyền Và  Nguyễn Thị Thanh Huyền)

Chụp hình
Thanh Huyền* với bố** viết trăng quê
Thi hữu thi nhân tụ hội về
Hoa tặng quà mừng lời hữu ái
Miệng cười tay bắt nỗi say mê
Bích Nham chốn cũ lòng hòa mộng
Văn Đức hôm nào tiếng võng đưa
Đến dự lưu hình làm kỷ niệm
Ánh vàng vô tận điểm câu thơ
               Văn Nhã - 5/12/2014


Ngỡ
Vẫn nghĩ Văn Truyền chỉ viết thơ
Nào ngờ xuất bản sách Trăng Quê
Vầng dương khắp nẻo luôn ngời sáng
Trí tuệ muôn năm chẳng nhạt mờ
Lấp lánh tình ai soi vạn chốn
Ngời ngời sách đẹp vẫn mong chờ
Thi nhân nét chữ rồng bay lượn
Một áng văn chương thỏa ước mơ
                   Văn Nhã - 5/12/2014