Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2023

KHAI BÚT ĐẦU XUÂN




Hôm nay thêm nhành lan tỏi
Mai sau leo tết cổng chào
Bạn bè lại qua ai hỏi
Thì hoa vẫy gió mời vào.


Mồng một tết Quý Mão
(22/01/2023)
Đỗ Đình Tuân





CUỐI NĂM TÂN SỬU






Hàm răng rời khỏi lợi
Tóc xanh biệt mái đầu
Cái miệng cười đầy đặn
Cũng đã chuồn đi đâu ?

Một cảnh nhà đạm bạc
Quanh vườn hoa và rau
Nếu sức già mòn mỏi
Liệu có còn bền lâu ?


23/01/2022
Đỗ Đình Tuân

VỤ XUÂN



Giá lạnh băng về thật khổ ghê
Người ra chợ tết bận muôn bề
Hàng rau quắt ngọn người mua hỏi
Quán thịt tăng tiền lắm kẻ chê
Vàng mã muôn nhà đang gửi gắm
Nghĩa trang vạn thưở khói hương thề
Trên đồng ải trắng chờ xuân đến
Rắc hạt gieo mầm lại mải mê.


15-1-22
Văn Nhã


 

BỘ ĐỘI XUẤT NGŨ TRỞ THÀNH
 NÔNG DÂN SXKD GIỎI



Xưa ngày xuất ngũ về quê
Nhà tranh vách đất tứ bề trống hoang
Lên đồi vỡ đất vô vàn
Ra công trồng sắn khoai lang đỡ lòng
Gian nan khởi nghiệp long đong
Không sao thoát khỏi cái vòng quẩn quanh
Vài cây nhãn thóc xếp thành
Cả vườn xoan để lá xanh rợp nhà
Nhỏ nhoi con lợn con gà
Hết năm cũng chỉ vài ba triệu đồng
Làm sao thành chủ nhân ông
Biết thu trăm triệu tỷ đồng là đây
Tổ chức lại cách làm này
Tinh thần xóa đói hăng say tiến vào
V - A - C với tầm cao
Ruộng 3 vụ lúa, vườn đào thắm hoa
Trăm tấn cá chính ao nhà 
Chuồng nuôi rắn sản giao thoa nước ngoài
Nỗi buồn nghèo khổ nguôi ngoai
Bộ đội xuất ngũ vui hoài nghề nông
 
15-1-22
Văn Nhã

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2023

HẢI DƯƠNG-CHIẾC NÔI THI CA CỦA THI HỘI ‘’THƠ CA ĐẤT VIỆT ‘’

     Tỉnh Hải Dương (xứ Đông ngày xưa) vốn là một vùng " Địa linh Nhân kiệt" rất giàu truyền thống khoa bảng. Trong các khoa thi từ năm 1076 - 1919, nơi đây đã có 616 người đỗ tiến sĩ và 8 người đỗ trạng nguyên. Hải Dương là tỉnh có đơn vị cấp phủ huyện và cấp làng xã có số người đỗ tiến sĩ cao nhất cả nước. Làng Mộ Trạch (xã Tân Hồng, huyện Bình Giang) có 36 người đỗ tiến sĩ được vua phong là Làng Tiến Sĩ hoặc Nhất gia bán thiên hạ. Làng Vạn Niên (Nay là khu Nhân Hưng, Thị Trấn Nam Sách) có 2 người đỗ trạng nguyên đồng triều được vua phong là: Ấp Trạng Nguyên. Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ đều là người tỉnh Hải Dương và rất nổi tiếng trong lịch sử Văn Học nước nhà.
     Tỉnh Hải Dương còn là nơi trấn giữ, đất phên giậu phía đông Thăng Long xưa, Thủ Đô Hà Nội ngày nay. Hàng nghìn năm chống giặc phương Bắc, nhân dân Hải Dương đã góp phần viết lên trang sử vẻ vang của dân tộc.
     Hải Dương có con sông Thái Bình là con sông lớn duy nhất ở miền Bắc nước ta bắt nguồn từ nội địa. Với sáu con sông đổ vào thượng lưu nên sông Thái Bình có lượng phù sa lớn đứng thứ 3 sau sông Hồng Hà và sông Cửu Long. Chính vì thế mà đồng ruộng của Hải Dương luôn mỡ màu, vùng châu thổ luôn trù phú, trên bến dưới thuyền và hun đúc nên tính cách của người Hải Dương như: Cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên cường anh dũng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm; Lịch lãm văn minh trong giao tiếp ứng xử. Đất Hải Dương không chỉ là vùng đất dụng võ mà còn là một vùng văn chương nổi tiếng tài hoa sáng tạo, bảo lưu và gìn giữ các loại hình văn hóa dân gian, mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ của nhiều thế hệ sống và gắn bó với nơi đây. Bởi thế, thời nào Hải Dương cũng có người hay chữ và hay thơ. Thời nào cũng có nghệ nhân đàn giỏi hát hay. Có thể nói Hải Dương là một trong những cái nôi văn hóa dân gian của nước ta từ ngàn xưa đến ngày nay.
     Với bề dày truyền thống và vùng văn hóa văn nghệ rộng lớn như vậy, nên người Hải Dương rất yêu Thơ Ca và có nhiều người làm thơ, nhiều người ca hát. Hiện nay, tỉnh Hải Dương có rất nhiều CLB Thơ hoặc CLB Văn Nghê. Có thể nói, ở hầu hết các xã phường trong tỉnh đều có CLB Thơ hoặc Ca Múa Nhạc. Tiếng thơ tiếng hát ngày xưa trong chiến tranh đã át tiếng bom thì ngày nay lại là nguồn động viên tinh thần rất lớn trong lao động sản xuất và phổ biến các chủ trương chính sách của nhà nước tới mọi người dân. Thơ Ca đã thực sự đi vào cuộc sống và là nhu cầu, là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với nhiều người, nhiều tâng lớp dân cư của tỉnh Hải Dương.
Đáp ứng nguyện vọng và mong mỏi của người yêu thơ ca, sáng tác thơ ca ở tỉnh Hải Dương. Ban Đại Diện TTNCBT&PHTCĐV tỉnh Hải Dương đã vận động, tập hợp những người sáng tác thơ, những người sáng tác và trình diễn ca hát văn nghệ ở các phường xã thuộc TP Hải Dương, TX Kinh Môn và huyện Nam Sách thành lập nên THI HỘI THƠ CA ĐẤT VIỆT TỈNH HẢI DƯƠNG. Đây là một Thi Hội cấp liên huyện và trực thuộc TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BẢO TỒN & PHÁT HUY THƠ CA ĐẤT VIỆT. Thi Hội Thơ Ca Đất Việt Tỉnh Hải Dương hiện có gần 150 cán bộ hội viên, sinh hoạt trực tiếp ở các CHI HỘI THƠ CA ĐẤT VIỆT cấp Thành phố, Thị xã hoặc huyện. Hiện nay Thi hội TCĐV tỉnh Hải Dương đã bắt đầu hoạt động và dần đi vào ổn định.
     Trong ấn phẩm THƠ CA ĐẤT VIỆT này, Thi hội TCĐV tỉnh hải Dương xin trình làng một số tác giả sáng tác thơ. Nếu điều kiện cho phép, trong buổi ra mắt tới đây chúng tôi sẽ trình làng các tiết mục Văn Nghệ trên tinh thần :
« Tự ta làm lấy Văn Công
Tự ta son phấn má hồng cho vui »
     Do hạn chế về thời gian nên việc biên tập còn nhiều thiếu sót. Tuy nhiên những bài thơ của các tác giả Thi Hội TCĐV tỉnh Hải Dương sẽ là những bông hoa đồng nội nhiều hương sắc, đóng góp một phần vào vườn hoa THƠ CA ĐẤT VIỆT rộng lớn và rực rỡ sắc màu.

Hải Dương, ngày 22-12-2022
Tạ Anh Ngôi

NHÀ NÔNG

Bát vị đồng âm



Nhà nông đến vụ phải gieo trồng
Gửi trọn tin người giỏi việc nông
Chị gắng tròn cây khi gió lộng
Anh vui thửa ruộng lúc cày lồng
Bao ngày nguyện thỏa trao kỳ mộng
Vạn buổi mơ màng gửi nhớ mong 
Vất vả ngày dài cùng tháng rộng
Mong sao thu hoạch bõ công trồng.

CL 9/1/2023.
Văn Nhã


 

TẾT QUÝ MÃO




Chào xuân Quý Mão quê mình
Trẻ già trai gái thị thành gần xa
Tưng bừng khỏe mạnh thêm đà
Dân dồn sức để lời ca rộn ràng
Màu hoa thắm vẻ kiêu sang
Đào; mai; cúc; huệ... khoe vàng sắc xuân
Trẻ mừng đón bạn ân cần
Già khoe áo mới trong sân lễ chùa
Bánh chưng giò lụa cùng đua
Đường làng ngõ phố vui đùa mến yêu
Cờ sao đỏ rực mỹ miều
Băng rôn khẩu hiệu càng siêu nghĩa đời
Hân hoan khách ở muôn nơi
Dự ngày hội mới tuyệt vời biết bao 
Kết đoàn sản xuất dâng trào
Xuân về vụ lúa ước ao thắng ròn

12.1.22
Văn Nhã

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

TỰ CẢM NGÀY CUỐI NĂM




Bóc đi tờ lịch cuối cùng
Bỗng dưng lại thấy trong lòng chơi vơi
Đời người như bóng câu trôi
Vừa sương sớm đã ngậm ngùi hoàng hôn
Qua bao đắng ngọt, vui buồn
Mưa tuôn nắng trải đã mòn tấm thân
Dặn lòng luôn sống nghĩa nhân
Chan hòa thương mến nơi gần, chốn xa
Cứ uống rượu, cứ ngắm hoa
Cứ thơ phú, cứ hát ca tưng bừng


31-12-2022
Song Thu

Viết ở Thành phố sông Kỳ Cùng



Tôi ngẩn ngơ tìm nàng Tô thị
Bế con đi đâu từ ấy đến giờ
Con đường bụi cứ mờ lau cỏ
Ai chở mía về gió bấc tím biên khu

Ta dừng lại cầu Khánh Khê chiều vắng
Thương Mế già bán quýt ngó về xa
Có một thủa quân qua sông trăng sáng
Tiếng súng rền sườn núi buốt sương sa

Hoa lau trắng sao mà hoa hiền thế
Sông yêu ơi sao tên gọi Kỳ Cùng
Những chợ phiên tìm đâu Si và Lượn
Đêm buông sương Phai vệ lúng liếng cười

Chưa kịp cùng nhau lên pháo đài cũ
Đã thấy lòng thổn thức gió trùng xưa
Mấy ngàn năm gan góc hồn biên ải
Lạng Sơn ơi chàm sẫm áo đến giờ

Thành phố lẫn những hoa và đá
Những chợ đêm giọng cũ giọng Kì Lừa
Ai hát Lượn mía Tam lung ngọt thế
Một khoảng rừng hoa sở trắng ngày xưa

Ta gặp bạn mấy chục năm xa cách
Tiếng Lạng Sơn cười vang cả rừng già
Người của núi ngực vồng như lửa bếp
Soi nhìn về phía những ngày xa

Đêm xứ Lạng cứ như là cổ tích
Dấu cha ông đuổi giặc ống đồng
Con đường kẻ thù khiêng nhau về biên giới
Lau trắng buồn bụi vẫn trắng chiều hôm

Ơi thành phố dựa lưng vào vách núi
Dang tay ngăn cho tiên tổ yên bình
Sông vẫn chảy ngàn năm quanh bờ cõi
Cánh áo chàm hiền như thể bình minh

Anh bỗng thấy mình thành con trẻ
Khi cùng em về thành phố có Kỳ Cùng
Giờ mới hiểu tổ tiên mình là thế
Yêu đến cùng ngọn núi dòng sông

Một chiều rất lạnh ở TP có sông Kỳ Cùng

16/12/14
Trọng Luân
 

NHẮN VỚI BẠN HIỀN

Về quê ở đó vợ chờ
Mâm cơm đang nóng,vần thơ còn nồng
Về quê có vợ có chồng
Có ao thả cá có đồng lúa xanh
Về quê không khí trong lành
Tự do tự tại tranh giành làm chi?
Đời người đến lúc ra đi
Chức quyền tiền bạc chả gì mang theo
Về quê cuộc sống dẫu nghèo
Vô lo vô nghĩ,con reo vợ mừng
Tiến lui cũng phải có chừng
Thông minh cần biết điểm dừng ở đâu(1)
Những ai bạc ác cơ cầu
Quyền dầy đức mỏng mưu sâu hại mình
Ở đời gianh giới nhục vinh
Hoàn toàn do ở tay mình vẽ ra
Thực tâm không dối người ta
Đấy là quả thực,là quà tặng con
Khi vui nước nước non non...


Nhân Hưng,ngày 26-12-2022
Tạ Anh Ngôi

 
(1):"Khôn cũng chết/Dại cũng chết/Chỉ biết là sống"(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

DẠO CẢNH ĐẦU NĂM

 

Đầu xuân dạo cảnh phố quê nhà
Thắm dọc đường, sông lướt chạy qua
Đồng Lạc Văn An tình nghĩa trước
Chí Minh Văn Đức cõi sơn hà
Chung trường chung sách từng gian khổ
Một khóa rèn thân luyện sắc hoa
Chiến trận giảng đường lòng dũng cảm
Giờ hưu rộn rã bước giao hòa.


3-1-23
Văn Nhã

 


NHỚ XƯA TAO MÀY

(Kính tặng các bạn học hy sinh trong  cuộc chống mỹ cứu nước)

  

Mày tao nhập ngũ một ngày
Lên vùng Yên Lạc đắng cay ngọt bùi
Mày làm liên lạc niềm vui
Tao làm chiến sỹ ngậm ngùi gió mưa
Bài thơ Nguyễn Bính đâu thừa
Trên đồng lúa gọi mến ưa tấm lòng
Khát khao điều vẫn ước mong
Em ơi chớ vội theo chồng gắng chăm
Trồng dâu với lại chăn tằm
Anh dù tận nẻo xa xăm hướng về
Trăm năm tính chuyện say mê
Quyết khi thắng lợi trọn thề với em
Mày ở Kỳ Tây đi nam
Còn tao trở bắc học làm đặc công
Gian nan vẫn phất cờ hồng
Mày sang Gia Nghĩa, Mê Kông tao vào
Tây Ninh Bù Đốp mày lao
Cần Đăng Sa Mát hôm nào tao lên
Mày hi sinh đất trong miền
Tao bom khoét mảng lưng thiên nhói lòng
Năm tư năm sắc trời trong
Đường sang mày đã trải vòng nhựa trơn
Làng tao đẹp ánh mây vờn
Quê mình giờ đã sáng hơn trăm lần
Bức tranh mới tạo thiều vân
Nén hương tao thắp muôn ngần thiết tha.

2-1-23
Văn Nhã

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2022

ANH BẠN VONG NIÊN

     Anh hơn tôi ngót hai chục tuổi lại là giáo viên cùng tổ chuyên môn với tôi trong một trường cấp 3 suốt mấy năm trời nên tôi coi anh là anh bạn vong niên quả không sai. Tuy nhiên tôi và anh chẳng hề thân thiết với nhau.
     Ngày đó, tôi chẳng thân thiết với bất kì người khác giới nào dẫu họ có đẹp trai, ga lăng hay tài hoa cỡ nào đi nữa huống hồ anh, một người vừa già vừa không đẹp. Là sau này tôi mới tự nhìn lại và thấy thế chứ hồi đó tôi tuyệt nhiên không quan tâm đến ai nên cũng chẳng để ý và bình giá xem ai xấu ai đẹp làm gì. Không phải tôi kiêu căng hay vô cảm đâu mà chỉ vì một lẽ thật giản đơn là tôi đã có người tình lý tưởng của tôi rồi. Tôi chết mê chết mệt chàng đến độ coi chàng là tất cả, không gì có thể so sánh nổi. Tôi có thể mất tất cả: gia đình, bầu bạn và nghề nghiệp cũng không có nghĩa lý gì nhưng nếu mất chàng thì chắc là tôi chết thật chứ chẳng chơi. Cố nhiên là chàng cũng yêu tôi như thế. Chúng tôi lại ở cách xa nhau gần 50km. Hễ có cơ hội là chàng lại đạp xe đến thăm tôi nhưng tôi vẫn thấy nhớ chàng đến se thắt ruột gan. Trừ những khi lên lớp, họp hành hay soạn bài còn lại bao nhiêu thời gian tôi đều viết thư hoặc ghi nhật kí về chàng. Chẳng thế mà chưa đầy hai năm trời xa cách, tôi đã ghi hàng mấy trăm trang nhật kí. Cho đến tận bây giờ, sau mấy chục năm trời chung sống chúng tôi vẫn gắn bó cùng nhau và chàng rất quý tập nhật kí đó nên giữ gìn cẩn thận lắm. Sở dĩ phải nói dài dòng như thế là vì tôi muốn khẳng định với mọi người rằng tôi và anh bạn vong niên kia không hề có chút thân mật nào. Vậy mà cho đến nay tôi vẫn nhớ tới anh, thuộc nằm lòng những câu thơ anh đọc thuở ấy và luôn mong một ngày nào đó sẽ gặp lại anh.
     Chắc mọi người sẽ nghĩ, tôi thuộc thơ của người ta thế chắc là thơ anh ta tán tỉnh tôi hay đọc riêng cho tôi. Xin thưa ngay là ngàn lần không phải thế. Tôi gặp anh ấy lúc anh đã có hai vợ và bốn con rồi. Còn sở dĩ tôi thuộc thơ anh ấy một phần vì tôi là kẻ nhanh thuộc thơ và rất lâu quên. Nhưng phần khác vì thơ anh toàn viết về những con người, những sự việc nơi chúng tôi công tác lại có chút hài hài hom hóm, rất vui và rất duyên nữa. Chẳng hạn như khi ăn cơm nhà bếp, chị Nhiều, cấp dưỡng nấu canh trai, vừa ăn anh vừa đọc luôn:
Ăn canh cứ thấy dai dai
Nghĩ ra mới biết có trai bà Nhiều
     Một lần khác, nhân việc cổng vào trường bị ngập, đi qua cứ phải sắn quần tới bẹn rồi vác xe trên vai mà lội bì bõm (ngày ấy hầu như chưa thầy cô nào có xe máy, chỉ toàn đi xe đạp thôi). Cánh con gái chúng tôi cứ gọi là cấm cung tại chỗ, đố có dám đi đâu. Các đấng mày râu cũng chỉ quanh quẩn trong trường chứ rất ngại ra ngoài. Chỉ khổ nhất là các em học sinh và các thầy cô ngoại trú. Anh cũng là một trong số những người ngoại trú đó. Khi vừa qua chỗ lội, gặp thầy hiệu trưởng và mấy thầy cô khác, anh nói vẻ gấp gáp: “Thầy cho tôi mượn chiếc bảng nhỏ”. Thầy hiệu trưởng ngỡ ngàng: “ Anh cần bảng làm gì” ? Anh nói ngay: Để tôi đề vào đó mấy câu:
Nếu ai muốn đến thăm trường
Xin mời tháo dép, cởi truồng vác xe. Mọi người ai cũng phì cười! Có lần, chị Sinh, người khá to béo phốp pháp, bị mệt nhờ anh coi hộ hai tiết làm văn. Lúc về, anh vừa ôm khệ nệ chồng vở làm bài của học sinh vừa nghê nga đọc :
Dạy hộ Sinh có một hôm
Khi về anh được một ôm đẫy đà, làm cho không chỉ mọi người mà ngay cả chị Sinh đang ốm cũng phải cười và mắng anh là ông nỡm. Còn anh thì mặt cứ tỉnh bơ vậy thôi.
     Dẫu tôi với anh chẳng hề thân thiết và tôi cũng chẳng nhờ anh dạy giúp tiết nào, thế mà anh cũng vẫn làm thơ trêu chọc tôi nữa kia đấy. Số là thế này: Hồi đó cả nước đều nghèo túng, thiếu thốn và nhà trường càng nghèo. Mấy chục giáo viên nam, nữ chỉ có hai phòng tắm mà cửa chỉ là tấm phên che tạm. Một hôm tôi đang tắm thì có cơn giông ập tới , tấm phên che đổ ập vào. Tôi bất ngờ hét toáng lên và vội vàng dựng nó lên. Anh đang rửa chân tay ở bờ ao gần đó thì phải. Khi tôi tắm xong, vừa bước ra, gặp anh, anh tưng tửng đọc luôn:
Nếu như cánh cửa đổ ra
Mình đang đứng đó biết là làm sao
Một là phải nhảy xuống ao
Hai là phải quyết xông vào một phen
Để mà dựng cánh cửa lên... Rồi anh cười cười mà nói với tôi rằng: "sau cụm từ (dựng cánh cửa lên) là dấu ba chấm đấy nhé; và khi đã dựng cửa lên tớ chả dại gì đứng ngoài đâu". Tôi còn trẻ nên xấu hổ lắm chẳng dám đùa chi mà chỉ lý nhí nói rằng : "nhưng cánh cửa đổ vào chứ có đổ ra đâu". Tưởng thế là thôi, ai ngờ đến sáng hôm sau anh lại làm một bài khác :
Tắm xong đang lúc thay quần
Nào ngờ gió giục mây vần đến nơi
Làm cho cửa đổ quần rơi
Thế là cả cái sự đời trơ ra. Và đọc luôn cả hai bài khoe với mọi người rồi còn thuật lại cả cái sự tình dẫn tới hai bài thơ đó nữa khiến tôi ngượng chín cả người mà chẳng biết thanh minh thanh nga làm sao nữa. Thế đã yên đâu, hồi đó ở nhà tập thể, tôi và một chị dạy toán ở phòng đầu, phòng thứ hai là anh và một giáo vên nữa, phòng thứ ba là của hai cô nữ khác… Anh vốn là dân ngoại trú, ít khi ở lại trường. Tối đó họp chi bộ hơi khuya, anh ngủ lại và sáng hôm sau cứ nhìn thấy ai trong số bốn người nữ chúng tôi ở cạnh phòng anh, anh đều nháy mắt và đọc:
Phòng nàng ở cạnh phòng tôi
Cách nhau một bức tường vôi mỏng tèo
Đêm nào tôi cũng muốn trèo
Nhưng sợ thiên hạ eo sèo lại thôi
Chém cha cái bức tường vôi. Thế thì có khổ cho bốn chị em chúng tôi không cơ chứ. Hồi đó còn ít tuổi nên tôi có cảm giác là bị xúc phạm và khá mất cảm tình với anh. Các chị khác lớn tuổi rồi nên họ chẳng ngại ngần gì mà không trêu lại anh. Tuy nhiên họ không trêu lại bằng thơ. Còn tôi thì cứ im thin thít. Thấy vậy anh càng hay trêu tôi. Có lần anh bảo: cô Thu ơi, tôi yêu đã nhiều lại lấy vợ hai lần rồi nhưng chưa ai yêu tôi như cô yêu chàng T. Nếu gặp ai yêu tôi như thế thì tôi sẽ bỏ lại tất cả để trao cuộc đời tôi cho nàng. Lần này thì tôi phản pháo ngay: "Tại anh có yêu ai hết lòng đâu mà anh đòi hỏi người ta đáp lại hết lòng? Gieo nhân nào gặt quả ấy mà anh". Có lẽ không chấp với trẻ con nên anh không nói gì cả và từ đó cũng ít trêu tôi hơn.
     Không chỉ làm thơ trêu chọc mọi người, anh còn làm thơ tự trào chính bản thân mình nữa. Ngày ấy thiếu thốn lắm nên các anh chị có gia đình riêng rồi thường hay nhặt nhạnh các thứ lặt vặt của trường về cơi nới thêm cái bếp của gia đình mình hoặc đóng thêm chiếc giường, chiếc bàn hay cái tủ con chẳng hạn. Anh ở ngoại trú nên chẳng nhặt nhạnh những thứ đó bao giờ. Nhưng nhiều khi có giờ cả ngày nên phải ở lại trường ăn cơm trưa. Tiếc tiền, không muốn báo cơm nhà bếp anh thường mang gạo ở nhà với chút muối vừng hoặc miếng cá kho đi rồi tự nấu cơm ăn. Đã nấu ăn thì phải đun nhờ bếp than của trường. Thế là anh đọc thơ:
Người bảo ông tham, ông chăng tham
Tre ông không lấy bếp không làm
Nhà không bàn ghế không giường tủ
Ông chỉ đun nhờ mỗi tý than
Người bảo ông tham, quả có tham
Không tham sao gái cứ theo tràn
Lấy vợ hai lần mà chửa chán
Bốn con rồi còn tắt còn ngang
     Nghe xong mấy câu thơ tự trào này, quả thực là tôi có cảm tình với anh hơn, nói đúng ra là đỡ ghét anh hơn. Bởi khi đó tôi nghĩ anh chỉ cười cợt trêu đùa mọi người cho vui thôi chứ không có ác ý gì. Đến chính bản thân mình anh còn cười nhạo nữa kia mà. Vả lại qua những vần thơ tự trào này tôi thấy anh trung thực lắm ý. Bởi vì chuyện anh đã có hai vợ và bốn con thì ai cũng biết rồi. Nhưng chuyện anh "ngang tắt " thế nào thì ai mà biết được. Thế nhưng anh dám công khai thừa nhận đấy thôi. Ngày ấy, chuyện ngang tắt này bị coi là xấu lắm chứ chẳng nhẹ nhàng như bây giờ đâu.
     Sau này tôi không dạy ở trường đó nữa, nghe người ta kể lại rằng: Anh đã có thêm một cậu con trai nữa là 5 con trai của hai đời vợ đầu, rồi lại bỏ vợ và lấy chị cấp dưỡng của trường. Nhưng đó là chị Tản chứ không phải chị Nhiều, người mà anh từng làm thơ trêu về bữa canh trai thuở nào. Họ còn kể rằng tính anh vẫn lếu tếu như thế. Ngoài chị Tản cấp dưỡng, trường còn hai cô giáo nữa cao tuổi mà chưa lập gia đình, anh lại trêu:
Cô Hiếu , cô Tản, cô Trình
Ba cô rập rình cùng muốn lấy tôi
Cô Tản tôi đã lấy rồi
Cô Trình, cô Hiếu là tôi để dành
     Giờ thì anh có tất cả bảy người con. Lại nghe đâu cháu nào cũng trưởng thành và khá giả cả. Thôi cũng mừng cho anh. Một người vui tính, có tài ứng tác, "xuất khẩu thành chương" nhưng lại thật long đong lận đận về chuyện tình duyên”. Mỗi lần kể chuyện về anh , tôi thường chép miệng và nói như vậy. Nhưng những đấng tu mi nam tử, (kể cả ông xã tôi) thì lại bảo : “ Long đong cái nỗi gì?. Ông ấy thật là đào hoa đấy chứ!” hoặc: “ Tôi cũng thích được long đong như ông ấy đây”!

23/11/2022
Song Thu

TIỆC CƯỚI TRÊN QUÊ HƯƠNG



...Gió lạnh đêm trường
Nửa chăn nửa chiếu
em chờ đợi ai...
...anh còn nhớ mái trường xưa
lòng anh ngẩn ngơ
đăng nỗi nhớ....
Câu quan họ sao gia riết thế
Tiệc cưới vui dào dạt làng quê
Trẻ hớn hở, già cười rung ghế
Loa vang nhạc vọng gọi ai về
Chiều nay dự tiệc cưới say mê
Nhắn nhủ tình em giữa bộn bề
Xuân thắm đang chờ mùa hái lộc
Tặng người quán giốc hãy cùng nghe.


23-12-22
Văn Nhã