Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

Truyền thuyết và mẩu chuyện xung quanh Đền Cao (7)



                                Chuyện của một vị thủ nhang
 

          Theo tục lệ thì những người thủ nhang ở Đền Cao, nếu trong nội tộc có tang, đều phải tạm dời khỏi đền, về nhà chịu tang trong ba năm. Dân làng phải tìm vị thủ nhang khác để thay thế.
          Bấy giờ ông Dương Văn Diệm đang làm thủ nhang thì bà mẹ ông mất. Đúng ra theo lệ thì ông phải nghỉ ở nhà chịu tang mẹ đủ ba năm. Nhưng vì người thay thế ông công việc không quen, lại yếu đuối nên công việc sớm hôm hầu hạ Đức Ngài không được chu đáo. Thấy vậy ông Diệm rất áy náy trong tâm và suy nghĩ rất nhiều. Cuối cùng ông cứ mạnh dạn “phá lệ” xin làng cho được trở lại làm thủ nhang. Nhiều vị cao niên và chức sắc trong xã tỏ vẻ rất e ngại vì sợ rằng “phá lệ” như thế nhỡ bị các ngài quở phạt thì thật tội nghiệp.
          Riêng ông Diệm vẫn nghĩ rằng chẳng lẽ cứ phải bỏ việc “hầu hạ” các ngài về nhà “chịu tang” mới là có hiếu và ngược lại thì không? Ông thấy lý lẽ này không ổn lắm. Nhất là thấy khói hương trên đền tàn lạnh tình cảm ông bị cắn dứt nên ông cứ đánh liều “phá lệ” xem sao.
          Ông tắm gội sạch sẽ, ăn chay, tu luyện cho mình thật thanh thản , tĩnh tâm, rồi sửa lễ lên Đền kêu khấn:
          - Con một lòng thành cung phụng trước cửa Đức Ngài. Con vô cùng khắc khoải buồn rầu khi thấy cảnh Đền hương tàn khói lạnh, vắng vẻ quạnh hiu. Con xin tình nguyện trở lại hầu hạ cửa ngài - Nếu có bị quở phạt con xin chết trước cửa Ngài để tỏ lòng mình.
          Từ đó ông lại làm thủ nhang. Mọi người vẫn nghe ngóng chờ đợi nhưng không thấy Đức Ngài quở phạt. Có lẽ lòng thành của ông Diệm đã động đến cửa Ngài chăng? Riêng ông Diệm thì rất tin như thế. Ông vẫn thường nói với mọi người rằng “Cứ phải có lòng thành thì mới động đến Đức Ngài được”.
28/01/2015
Đỗ Đình Tuân 

TRƯỚC và SAU

TRƯỚC SAU DẪU CÓ THẾ NÀO . XIN ANH CŨNG CỨ TIN VÀO MÌNH EM !

XƯỚNG HỌA CÙNG BẠN BÈ BLOG

BUỔI TÀN ĐÔNG 

 (Bài Xướng)


 
Trắng đục ngàn sương ngọn gió bồng

Xa trông chiều quạnh buổi tàn đông

Tiết thời thoáng đã đùa mây bạc

Ngày tháng chừng đang kết nụ hồng

Đã biết cành trơ chờ nẩy lộc

Mới hay mai lạnh để thơm bông

Bên trời lãng đãng tình hoa cỏ

Thì đấy, hương xuân giữa vạn lòng.!
                           Louisiana, 12.01.2015,

                            MẶC PHƯƠNG TỬ

CẠN ĐÔNG
(Bài họa)
Lạnh giăng mây xám nổi lồng bồng

Ngày ruổi rong ngày cũng cạn đông

Lóe tóe phương mai ngời ánh bạc

Lơ thơ phía núi ửng tia hồng

Thầm trong rạo rực trời ươm nụ

Lặng giữa miên man đất trổ bông

Đĩnh đạc xuân về người đón hội

Nghe đời mở cửa phút giao lòng !
               
                                              Lý Đức Quỳnh_ĐN-24/1/2015
BUỒN TÀN ĐÔNG
( Họa nguyên vận 2 bài thơ : BUỔI TÀN ĐÔNG và CẠN ĐÔNG
 của các bạn Mặc Phương Tử và Lý Đức Quỳnh)
Từng cơn gió lạnh vẫn phiêu bồng

Xám ngắt hoàng hôn buổi tận đông

Chẳng thấy trời cao mây dát bạc

Mong chi hạ giới nắng tươi hồng
Lô xô núi trọc quang cây lá
Lởm khởm gò hoang vắng nụ bông
Non nước mùa tàn cô quạnh quá
Tìm đâu hơi ấm chút xuân lòng?!

28-01-2015

Song Thu

 
Ruông ải mênh mông nước đổ về
Niềm vui rộn rã cả miền quê
Người lồng tiếng máy nghe xao động
Kẻ hát say hồng khắp mé đê
Dưới lũy tre làng con sáo hót
Trong hồ thủy mạc lá sen che
Trên đường dạo gót mơ mười tấn
Lúa chin vàng đồng thật thỏa thuê 
                                       VN

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Truyền thuyết và mẩu chuyện quanh Đền Cao







                                    Thánh cũng công tâm
          Tin đồn Đức Thánh Đền Cao rất thiêng đã lan truyền đi khắp vùng. Ai bị mất trộm, hay bị vu oan sửa lễ lên đền kêu cầu thì thế nào cũng được thánh độ. Một lần có một anh nọ công tác ở Sở Điện lực tỉnh H.., cũng sắm lễ vật, phóng xe máy lên Đền Cao kêu cầu. Anh trình bày với ông thủ từ rằng:

          -Thưa ông, ngày mồng 8 tháng 4 này, tòa án mở phiên xét xử cháu. Cháu nhờ ông kêu giúp cho được tai qua nạn khỏi, mọi điều đều vô sự, công ăn việc làm đều đặn, xin đa tạ công ơn.

          Vị thủ từ đã trả lời rằng:

          -Tôi hầu hạ Đức Ngài đã mấy chục năm nay, tôi biết ngài rất thiêng nhưng cũng rất công tâm. Nếu quả anh có oan trái trong vụ án này thì tôi kêu giúp cho được giải oan, còn nếu anh có tội thì dù tôi có kêu giúp, Đức ngài cũng chẳng cho đâu!
            Nghe nói anh ta ra tòa và vẫn phải nhận hình phạt của pháp luật. 

27/01/2015
Đỗ Đình Tuân 

Chút em…?






Chút em như hoa pơ lang *
Tươi bên bờ suối lũ làng ước mơ
Chút em như một bài thơ
In trong tuyển tập đang chờ người ngâm
Chút em… ủ kín âm thầm
Sẽ tuôn như mạch nước ngầm trong veo.

*Hoa pơ lang: một loại hoa gạo đỏ như miền Bắc gọi
27/01/2015
Đỗ Đình Tuân

NHÌN NHAU THỞ DÀI


(Chuyện đời chéo ngoe)

Mình già, thì vợ cũng già
Mình yếu, vợ cũng bảo là “yếu hơn”
Hỏi ai giải được nguồn cơn
Hai thằng bỗng hóa cô đơn hai thằng !
Có cô hàng xóm bảo rằng :
- Cho Em giúp việc – gọi bằng Ô - SIN
giúp Anh, giúp Chị hai bên
ai cũng nhàn hạ, và Em được nhờ !
Vợ rằng : “Cô bảo gì cơ ?...
còn cái chuyện ấy, hãy chờ...kiếp sau !”
Thế là 3 đứa đều đau
Cả 3 bấm bụng, nhìn nhau...thở dài !
Phố Quê
Những ngày cuối năm Ngựa
(26/1/2015)
THANH DẠ

XUÂN MỚI

Tôi viết bài thơ dưới nắng xuân
Bầu trời trong trẻo, gió xanh ngần
Em thơ áo đẹp vui vào lớp
Xóm dưới say sưa hát điệu vần

Các cụ ra chùa say niệm phật
Cầu cho quốc thái với dân an
Thanh niên xuống đồng lo mười tấn
Xây dựng quê hương đẹp vĩnh hằng

Thiếu nữ mừng xuân chờ nắng mới
Trên đôi má thắm của nàng hoa
Đồi cây thắm đậm tình non nước
Tiếng hót muôn loài sao thiết tha

Trước ngõ nhà ai vừa mới dựng
Lâu đài tuyệt mỹ ấm tình thương
Vài đôi chim nhỏ đang xây tổ
Tiếng hót ngọt ngào mấy vấn vương

Mùa xuân náo nức của muôn lòng
Đẹp quá trong ai nỗi đợi mong
Thắm thiết nụ cười đôi mắt biêc
Bình mình rực rỡ bốn phương hồng
                                        VN

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2015

Dịch thơ Nguyễn Khuyến bài 81






Bài 81
Trung thu vô nguyệt…
中秋無月三後忽然
情感作
Trung thu vô nguyệt tam hậu hốt nhiên tình cảm tác
平野已無山水遊
Bình dã dĩ vô sơn thủy du
兼之瑟瑟西風愁
Kiêm chi sắt sắt tây phong sầu
不知何處隐明月
Bất tri hà xứ ẩn minh nguyệt
乃使此翁搔白頭
Nãi sử thử ông tao bạch đầu
唾罵文章來變雅
Thóa mạ vă chương lai biến nhã
萧條景色入清秋
Tiêu điều cảnh sắc nhập thanh thu
忽然晛出陰雲散
Hốt nhiên nghiễn xuất âm vân tán
竹影黄竿一小舟
Trúc ảnh hoành cannhất tiểu châu
Tết trung thu liền ba tối không có trăng
bỗng thấy trời tạnh cảm tác.
Ở đồng bằng đã không có núi sông để du ngoạn
Lại thêm gió tây hiu hắt làm cho người ta buồn
Không biết trăng sáng ẩn náu ở nơi nào ?
Để cho lão già tóc bạc này cứ phải gãi đầu đứng ngóng
Những câu văn chương mai mỉa thành ra thể biến nhã (1)
Cảnh tượng hiu quạnh đã bắt đầu sang thu
Bỗng thấy mây đen tan đi trời lại sáng
Trong khóm trúc có một con thuyền nhỏ với cái cần câu nằm ngang.
  1. Biến nhã: Nhã là một thể thơ ở Kinh Thi . Từ khi nhà Chu suy yếu, chính sự sai lầm, thể nhã biến thể đi thành Biến nhã. Thể thơ này có ý chê bai những sự sai lầm  để mong sửa đổi lại.
Đỗ Đình Tuân dịch thơ:
Đồng bằng không có núi non
Gió tây hiu hắt càng buồn lòng sao
Trăng đi ẩn náu nơi nào
Ông già tóc bạc đứng cào đầu mong
Thể thơ biến nhã thành dòng
Tiêu điều  hịu quạnh đang cùng vào thu
Bỗng nhiên nắng đuổi tan mù
Thuyền con cần trúc dưới bờ tre xanh
03/01/2014
Đỗ Đình Tuân

Truyền thuyết và mẩu chuyện xung quanh đền Cao (5)






                                          Hổ ở Đền Cao
          Từ những năm 50 của thế kỷ XX trở về trước, Đền Cao còn là một nơi rừng rú thâm nghiêm. Khách viếng thăm hoặc lên lễ đền không mấy ai dám bước bộ vào khu rừng quanh đền vì lau lách, vì gai góc rậm rạp, vì e sợ sự linh thiêng của đền và còn vì sợ hổ nữa.
          Tin Đền Cao có hổ đã lan truyền từ lâu. Người thì cho là các ngài hiện mình, người lại cho là hổ thật.
          Đầu năm 1960, một bà trung niên nhà ở chân đền, lên rừng bẻ cành gai về để “giữ vía” cho lợn đã gặp hổ. Con hổ to lớn đã chồm lên vồ bà. Bản năng tự vệ đã giúp bà chạy thoát. Dân quân và dân làng suốt ngày hôm đó đã quần nhau với hổ. Tiếng súng, tiếng chiêng trống, tiếng hò hét ầm ĩ. Vòng vây bắt hổ cứ khép  chặt  dần. Cuối cùng hổ chạy lên núi rồi chui vào một cái hầm. Người ta ném lựu đạn xuống, con hổ lại vọt lên...nó trúng thêm nhiều phát đạn nữa rồi cũng bị bắt. Mười một người giáp chiến với hổ đã bị thương nhưng sau đó đều khỏi cả. Từ đó mọi người mới tin đây là hổ thật.
26/01/2015
Đỗ Đình Tuân