Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Năm, ngày 08 tháng 12 năm 2016

Mê mẩn với bộ tranh vẽ Hà Nội “đẹp như thật”

Nhìn tranh ca hàng cho thuê sách ph Thi Sách, mình li nh hi bé vn thường đến đây thuê truyn đ đc. Thnh thong đi ngang ph Thi Sách, mình vn nhìn li ca hàng này. 
Hi bé mình đc truyn nhiu lm, c sáng hôm nay đến thuê, sáng mai li đưa tr và thuê truyn khác. Nhng b tiu thuyết rt dài 
như Chiến tranh và Hòa bình, Anna Katerina, Gia đình Camarop... thường ch đc 2 ngày là xong. Ti
Tiếc rng bây gi không còn thi gian đ đc truyn na.
         Những hình ảnh quen thuộc của Hà Nội như ngõ nhỏ, phố cổ, cây bàng, quán nước… đều hiện ra vô cùng chân thực và đẹp đẽ trong bộ tranh này. Chắc hẳn bạn sẽ cho rằng đây là ảnh chụp Hà Nội, chứ không phải tranh vẽ bởi sự chân thật và tuyệt đẹp của nó
Một cửa hàng cho thuê sách ở phố Thi Sách. 
Tác giả của bộ tranh này là họa sĩ Phạm Bình Chương (1973). Anh là cái tên tiêu biểu của nhóm nghệ sỹ có tên gọi Nhóm hiện thực – chuyên theo trường phái hiện thực. Họa sĩ Phạm Bình Chương tốt nghiệp khoa hội họa Trường ĐH Mỹ Thuật năm 1995. Hiện anh đang là giảng viên của trường. Anh từng nhận được rất nhiều giải thưởng của Hội Mỹ Thuật Việt Nam trong các năm 1997-1999.
                                   Một buổi sớm Hà Nội sau cơn mưa.

Dù từng vẽ qua rất nhiều chủ đề, nhưng Hà Nội phố luôn là chủ đề bất tận và tâm huyết nhất của anh. Có thể nói, Phạm Bình Chương chính là chàng thi sĩ của Hà Nội trong mảng hội họa. Dù sử dụng lối vẽ thực, nhưng tranh của Phạm Bình Chương vẫn rất thơ và bay bổng, vẽ Hà Nội hiện đại nhưng vẫn yên bình, phảng phất nét cổ kính. Không ép uổng theo một lối Hà Nội phải cổ, hay Hà Nội phải thế này, thế kia. Hà Nội trong tranh của Chương đúng như Hà Nội hiện đại mà chúng ta vẫn yêu thương, nhung nhớ.
                                            Gầm cầu Long Biên thanh bình mà nhọc nhằn
                              Một góc rất lạ trong tranh của Phạm Bình Chương.
                                 Một cảnh thường thấy trên hè phố Hà Nội.
    Nhng gánh hàng rong.
Nắng trong tranh của Phạm Bình Chương rất tài tình và vô cùng chân thật.

                    Xe đạp luôn xuất hiện trong cuộc sống của người Hà Nội. 
                                               Khung cảnh thường thấy của mùa thu Hà Nội.
                                    Bên trong những ngõ nhỏ của Hà Nội. 


Theo Trí thức trẻ

LŨ CHỒNG LŨ


Miền Trung lũ lại chất chồng
Đổ nhà, Ngập lút, cánh đồng lúa ngô
Trôi luôn gà, vịt, trâu, bò
Trẻ già sơ tán biết về nơi đâu
Trận hai ba* cuốn hết màu
Trận mồng ba** lại đổ sâu đất bùn
Ngập đường chia cắt làng thôn
Ngồi bên đổ nát khóc buồn nát tan
Hôm qua tráng lệ, huy hoàng
Tối còn đêm lũ liếm nhằng sạch trơn.

                                                                                                            VN
* 23/10/2016
** 3/12/2016

Thứ Tư, ngày 07 tháng 12 năm 2016

Điểm diện nhà văn nhà thơ 62: Giang Nam

62. Giang Nam
   
"Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm"
"Có những ngày trốn học bị đòn roi"
Nay tôi yêu quê hương về có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.

                                   Xuân Sách
Nhà thơ Giang Nam và sự thật về “cô du kích”
09:27 27/05/2013  
ANTĐ “Giặc bắn em rồi quăng mất xác/Chỉ vì em là du kích em ơi…”. Những câu thơ ấy trong bài thơ “Quê hương” của Giang Nam đã được viết ra hơn nửa thế kỷ trước, năm 1960, tại vùng căn cứ Đá Bàn của tỉnh Khánh Hòa. Ít ai biết rằng, đã có một sự nhầm lẫn - cô du kích khi ấy vẫn còn sống. Và sự nhầm lẫn ấy đã để lại cho những thế hệ yêu văn học Việt một bài thơ cảm động cũng như một mối tình son sắt đồng hành cùng sức sống của bài thơ suốt hơn 50 năm qua. 


Giang Nam đoàn tụ với “cô du kích” Phạm Thị Triều
và con gái ở Củ Chi năm 1973

Bà Phạm Thị Triều, nguyên mẫu của “cô bé nhà bên” trong bài thơ “Quê hương” sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng tại Vĩnh Trường, Nha Trang. Chị em bà lớn lên đều lần lượt tham gia kháng chiến. Chưa đầy mười tuổi nhưng Phạm Thị Triều đã theo chị gái hoạt động tích cực ở căn cứ Đồng Bò, gia đình cho người nhắn gọi cũng không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, bà được điều lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy.

Còn Giang Nam lớn lên từ huyện Ninh Hoà, Khánh Hòa. Bỏ ngang trường Quốc học bậc cao đẳng tiểu học Quy Nhơn, ông về hoạt động tại xã. Xã Vạn Thắng của ông ngày ấy trong tình trạng “ngày địch đêm ta”. Ba anh trai đều đã lên căn cứ hoạt động cách mạng, cha ông khi đó đã nói với các con rằng “chúng bay đi đi, nhưng để lại cho tau một thằng lo hương khói tổ tiên”. Và cậu con trai út, em của Giang Nam được giao trách nhiệm đó. Nhưng khi tình hình nguy cấp, cha ông đành gạt nước mắt đồng ý để đứa con trai cuối cùng vào cứ với các anh.

Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng nên Giang Nam và bà Triều quen biết nhau, tuy “tình trong như đã” nhưng chẳng ai dám ngỏ lời. Chuyện yêu đương trong tổ chức ngày ấy là một cấm kỵ. Khi ông có tên trong đoàn sĩ quan liên bộ đình chiến vừa thành lập sắp lên đường ra Bình Định tập trung để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Geneva giữa ta và Pháp, tổ chức mới gợi ý để ông bà làm đám cưới. Ở với nhau được hai đêm thì ông lên đường ra vùng tự do, bà từ căn cứ trở về Nha Trang hoạt động.

Khi chia tay, ông bà và đồng đội hi vọng rằng chỉ hai năm sau sẽ được đoàn tụ theo tinh thần hiệp định, không ai nghĩ đó là cuộc chia ly không hẹn ngày về. Ông được tổ chức đưa về lại Nha Trang, sau đó vào Sài Gòn làm giấy tờ hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bề hoạt động. Dù sống ngay trên thành phố quê hương mình nhưng ông bà vẫn hoạt động ở 2 tuyến khác nhau không được gặp mặt, ông luôn phải cảnh giác giữ bí mật, ngoài lính tráng, mật vụ nhan nhản thì còn mối lo bị người quen bắt gặp sẽ lộ. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang, dưới vỏ bọc một công nhân xưởng cưa, ông đều đặn viết bài tuyên truyền cho cách mạng, định hướng lý tưởng cho thanh niên...

Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. Đây cũng là lần đầu tiên sau 4 năm cưới nhau ông bà mới có điều kiện ở bên nhau. Hai vợ chồng thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo, ông làm công cho một tư sản thầu khoán người Việt, bà buôn bán lặt vặt, nắm bắt tình hình chờ lệnh của trên. Nhiệm vụ lúc này là dựa vào quần chúng để tồn tại hợp pháp, không để bị bắt. Đó cũng là thời gian bà sinh cô con gái đầu tiên và cũng là duy nhất của ông bà.

Một thời gian sau, tình hình lắng xuống, tổ chức quyết định rút ông về Khánh Hoà. Bà ở lại một mình nuôi con, con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà phải lấy chiếc áo của ông để đắp cho con đỡ khóc theo lời khuyên của bà chủ cho thuê nhà tốt bụng. Một đêm, địch ập vào bắt mẹ con bà giải đi, dù lúc đó đứa con gái đầu còn đỏ hỏn, đó là năm 1959.

Sau khi vợ con ông bị bắt, tổ chức đã cho người dò la tung tích của bà nhưng không tìm ra manh mối. Một buổi tối của năm 1960, ông được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin dữ: vợ và con gái ông đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi, Sài Gòn.

Đau đớn đến bàng hoàng, ngay đêm hôm đó, tại căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hoà đóng dưới chân núi Hòn Dù phía tây thành phố Nha Trang, bên ngọn đèn thắp bằng nhựa cây, trong xúc cảm của niềm đau đớn tột cùng ông đã viết nên bài thơ “Quê hương” như vẽ nên một sự thật đau xót: Giặc bắn em rồi quăng mất xác. Chỉ vì em là du kích em ơi. Đau xé lòng anh chết nửa con người… Sau này bài thơ đoạt giải nhì giải thưởng thơ năm 1960-1961 của Tạp chí Văn nghệ và đã trở thành một dấu mốc trong cuộc đời ông.

Tưởng rằng vợ con đã bị địch giết hại, nhưng bất ngờ, năm 1962, sau 3 năm bị bắt, bà và con gái được thả về do không tìm ra căn cứ kết tội. Gia đình nhỏ được đoàn tụ trong nước mắt. Thế nhưng ngay sau đó lại có điện của Khu ủy khu 6 gửi Tỉnh ủy Khánh Hoà điều ông lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. Ông bà vừa gặp mặt lại phải một lần nữa chia tay để Giang Nam về cơ quan mới đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Đức.

Về Khu chưa được bao lâu ông được cử đi học Trường Đảng do Trung ương cục miền Nam mở ở Tây Ninh, sau đó Giang Nam được giữ lại công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng với chức danh Phó Tổng Thư ký Hội. Từ đó là quãng thời gian ông gắn bó với hoạt động văn nghệ giải phóng. Nhưng một lần nữa ông lại phải chia ly với vợ con, năm 1968 bà lại bị bắt lần hai vẫn với cô con gái nhỏ do sơ suất của người giao liên nên bị lộ. Mãi đến năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, bà mới được phía bên kia trao trả. Sau bao năm ly biệt, lúc này cô con gái cũng đã mười lăm tuổi, còn ông bà tuổi cũng đã cao nên không sinh thêm được người con nào nữa.

Đất nước thống nhất nhưng ông lại được điều ra Hà Nội làm Tổng biên tập Báo Văn nghệ vào năm 1978 nên ông bà lại tiếp tục xa nhau. Mãi đến khi ông được điều trở lại Khánh Hòa công tác thì gia đình nhỏ mới thực sự đoàn tụ.

Con gái trưởng thành, tuy  vẫn gần gũi bố mẹ nhưng cũng bận rộn với gia đình và công việc, còn ông bà sống bên nhau trong căn nhà nhỏ số 46, đường Yersin, thành phố Nha Trang. Cuộc đời đã cho ông bà chữ “Thọ” để được ở bên nhau hưởng những năm tháng cuối đời an lạc. Ở tuổi ngoài tám mươi nhưng ông vẫn mạnh khỏe, vẫn có mặt tại Hà Nội tham dự các sự kiện văn học lớn của đất nước.

Tháng 4-2013, cuối cùng thì bà phải rời xa ông ở tuổi 82 để về với tổ tiên. Sống với nhau được đến chừng ấy tuổi cũng đã là một sự ban ơn của trời đất, cũng là sự đáp đền sau bấy nhiêu mất mát, đau thương.

Giờ đây, bên hiên nhà có những giò lan đu đưa, còn mình ông ngồi đó, dáng vóc cô đơn như kể cho những người từng đọc “Quê hương” câu chuyện về “em tôi”… 
Nguyễn Xuân Thủy

THƯƠNG.

..
Hương tình thưở ấy quyện vòng tay
Níu mãi yêu thương những tháng ngày
Nhớ lúc đào mương lời khích lệ
Ân hoài buổi gặt vác mê say

Vui đùa sớm nắng câu hoan hỷ
Chọc ghẹo chiều mưa nỗi hứng đầy
Nhắc mãi vô tư trên núi mộng
Đôi mình quyến luyến hái sim đây 


Đôi mình quyến luyến bởi yêu thương
Đã bước cùng nhau một đoạn đường
Cấy lúa trồng khoai làm thủy lợi
Ươm cây rắc hạt với đào mương 


Tâm hồn phảng phất ngày thơ bé
Ký ức vui buồn vẫn vấn Vương
Mãi mãi trong nhau niềm hạnh phúc
Nồng nàn lóng lánh một màu gương
.
                                     VN

Thứ Ba, ngày 06 tháng 12 năm 2016

Cựu Học sinh


Lớp 8A, Khóa 1974-1977
                                                                              
Ngũ, lục tuần cứ nghĩ mình 18
Vẫn trong veo cái lửa xuân thì
Về họp lớp lại mày-tao, tớ-cậu
Trái thị vàng ươm ngát một niềm mơ!
 
VA

MỪNG BÁC

(Họa thơ Tạ Anh Ngôi)



Bao năm mới có một ngày chen
Đáo để niềm vui được gắng lèn
Phụ nữ gồng mình lên phía trước
Thanh niên gắng gỏi lạ cùng quen
Người leo khoảng dốc chân hoan hỷ
Kẻ tụt đằng sau gắng bước chèn
Cứ vậy đoàn đông xô đẩy nhịp

Cầu mong phật tổ độ phần...hen
                                                                                                     VN

BQT THÔNG BÁO

       Được sự thống nhất của Xóm trưởng các khu vực, TRIANCUOCĐƠI dự kiến sẽ hội ngộ vào sáng ngày 17/12/2016 tại khách sạn Sao Đỏ thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương. BQT trân trọng kính mời các thành viên thu xếp thời gian vềdự đông đủ. Các Xóm trưởng thông báo thêm bằng điện thoại cho các thành viên trong Xóm.
        BQT chân thành cảm ơn và mong Hội ngộ TRIANCUÔCĐƠI 2016 thật đông vui. 
 

Thứ Hai, ngày 05 tháng 12 năm 2016

HOÀNG NGỌC HIẾN- TRIẾT HỌC ẨN DẬT TRONG VĂN HỌC

Chu Văn Sơn
Nhà văn, nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến (nguồn Internet)

       Đoàn chúng tôi gồm những nhà văn, nhà lý luận và giảng viên đại học, phần lớn vào từ Hà Nội. Tôi nhớ những ngày ở khách sạn Chương Dương Mỹ Tho, cứ dạy về, đoàn lại tản thành từng nhóm nhỏ, vừa tản bộ trong hoa viên trước sảnh, vừa nói đủ thứ chuyện trên giời dưới biển. Một chiều, khi chỉ còn hai chúng tôi, chuyện vãn thành tâm tình, tôi mới nói nhận xét của mình. Đại ý rằng tôi đã đọc ông hồi còn là học trò chuyên văn, từ cái Triết lý Truyện Kiều, có khi đó là cái đầu tay của ông cũng nên. Và sau đó, bất cứ cái gì ông viết tôi đều đọc hết. Rằng hồi ông còn dạy ở Nguyễn Du, tôi cũng đến nghe ké rất nhiều. Rằng tôi đã cố hết sức để định danh cho mình Hoàng Ngọc Hiến là ai. Rằng tôi thấy các danh xưng quen thuộc mà người ta vẫn dùng gọi ông: nhà lí luận văn học, nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn học… đều không hợp, không ra. Riêng tôi, tôi thấy dù văn học là điểm nhấn, nhưng hoạt động của ông chả bó riêng gì trong văn học, mà ra nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoá, và tôi luôn thấy cảm hứng bao trùm mọi cái viết của ông là triết học. Cái tạng ấy dường như đã được phát lộ ngay từ cái đầu tay đó. Vì thế phải gọi ông là nhà triết luận mới đúng, mới đủ, chứ các danh xưng kiểu kia chả đâu vào đâu. Ông gật gù và chỉ nói “có lẽ thế”. Khi ấy tôi nghĩ: vẻ tán thưởng này chỉ là giao đãi để làm hài lòng người trò chuyện, chứ ông chả để tâm, chắc sẽ quên ngay thôi. Nào ngờ, mấy tuần sau, khi ra Hà Nội rồi, một hôm ông gọi điện rủ tôi ra chơi. Cách tiếp trịnh trọng khiến tôi ngỡ ngàng. Ông bảo: sau khi cậu nói, mình mới xem xét toàn bộ những gì mình viết và thấy cậu rất có lí, cậu đã giúp mình hiểu rõ mình hơn. Tôi quá bất ngờ. Làm sao ngờ được nhận xét của mình lại được một người như ông lưu tâm đến thế. Rồi ông rủ luôn đi ăn cháo vịt Vân Đình. Phải nói là tôi sướng rơn, cả hãnh diện nữa. Nhất là, chỉ ít lâu sau, ông cho xuất bản một cuốn sách, mà những khái niệm tôi trao đổi cùng ông đã được đặt làm nhan đề: Triết lí văn hoá và triết luận văn chương. Kể từ bấy, viết bài gì ông cũng chuyển cho tôi qua đường mail, in cuốn nào ông cũng dành cho tôi. Và tôi vẫn đọc ông chăm chỉ bằng tâm thế một học trò như thế. Sau cái lần làm xong Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh, tôi tỏ ý muốn làm Tuyển tập Hoàng Ngọc Hiến. Thế là ông liền cung cấp cho tôi tất cả những tài liệu tôi cần. Đến nay, công việc đã hòm hòm, dù chưa xong hẳn.
         Người khởi đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt
         Tìm hiểu một tác giả nào đó, người ta thường ngược về quá khứ để tìm những mầm mống dự báo thiên hướng và tương lai của tác giả, đặng lí giải sự nghiệp ông ta. Khỏi phải nói là tôi cũng tuân theo lề lối ấy. Tôi tin hôm nay ông trở thành người khởi xướng và đứng đầu giới nghiên cứu Minh triết Việt là một tất yếu. Cái xu hướng này dường như đã nằm sẵn đâu đó trong tố chất của ông. Tôi đã được nghe kể về bệnh ham lí giải của cậu học trò Hiến. Gặp cái gì cũng muốn giải thích ngay, giải thích bằng được, dù chả phải lúc nào cũng thuyết phục, cứ lí giải cốt để tư duy được khởi động, vận hành. Mà lí sự thì rặt bằng những phạm trù nọ, phạm trù kia, do vận dụng nhanh cũng có, do vừa lóe ra cũng có. Tôi cũng được biết thuở còn học trung học phổ thông, cuốn sách mà cậu học trò này ôm cả vào trong giấc mộng chính là cuốn triết của trường dòng, mà trong đó triết học còn bao gồm cả mỹ học, lô gíc, đạo đức chứ chưa phân hoá chuyên ra như bây giờ. Và tất nhiên, cậu cũng chưa ý thức đầy đủ đó là triết. Tôi cũng biết sau này khi theo học đại học, không phải ngẫu nhiên mà trong các giáo sư thời bấy giờ, ông phục Trần Đức Thảo và Cao Xuân Huy hơn cả, dù có lúc chưa phải lắm với họ. Tư duy triết học của các bậc thầy này đã mê hoặc ông cũng như ảnh hưởng đến thiên hướng tư duy của ông không ít. Tiếc rằng, thời ấy, tư duy triết học ở ta không được khuyến khích lắm. Nếu khác đi, con đường học thuật của ông hẳn đã khác nhiều…
        Nhưng, xem ra, cái mầm sau này mọc thành cây, chính là nếp nghĩ theo triết học, sống theo khoa học kiểu riêng của ông. Tôi rất ấn tượng về câu chuyện của ông Lâm, một bác sĩ kì cựu, từng được học Hoàng Ngọc Hiến những ngày tò te làm cậu giáo giữa đám trò quê. Chuyện rất vui. Thuở ấy tụi họ tuổi đều sêm sêm, cả học lẫn chơi đều chung chạ tất. Có lần cùng nhau tắm truồng, đang tồng ngồng từ dưới sông lên, thì gặp một toán phụ nữ. Đám học trò đứa nào đứa nấy cứ cuống cuồng lấy tay che phần dưới, dúi dụi vào nhau, bước không nổi. Chỉ riêng cậu giáo Hiến thì úp hai bàn tay che mặt và bước rất thản nhiên. Cả bọn ngơ ngác. Hỏi, thì cậu giáo trẻ bảo: cái dưới thì ai chả giống ai, nhìn nó làm sao nhận ra đứa nào, chỉ có cái mặt mới khác nhau thôi, có bị lộ mặt thì mới lộ mình… Ra thế, cả bọn lại ồ lên, ngớ ra. Cái pha ngộ nghĩnh thời cận thành niên ấy mách bảo tôi một điều nghiêm túc: biết đâu từ cái triết lí “truổng cời” đó Hoàng Ngọc Hiến đã là nhà minh triết rồi.
Ai đã tiếp xúc với ông chắc sẽ ấn tượng ngay về một thói quen kì kì. Đó là giới thiệu những trải nghiệm về sức khoẻ và thuốc thang của mình một cách rất khoa học và… li kì. Thường những cuộc như thế đều y như một bài thuyết trình công phu và tâm huyết. Tôi đã được biết về tính năng nhiều thứ thuốc từ ông. Cái lần ông quảng bá cho hoạt huyết dưỡng não là thế. Ông kể rất đinh ninh: có một dược sĩ cao cấp của ta nổi tiếng về các công trình nghiên cứu nhân sâm đã được hội những người nghiên cứu nhân sâm quốc tế mời tham gia một dự án lớn. Họ đã đem tất cả những loại sâm thượng thặng như nhân sâm Trung Quốc, Triều Tiên, nhân sâm Xibêri… đến để nghiên cứu. Còn nhà dược sĩ ta thì đem theo củ đinh lăng. Họ cùng nhau làm một thí nghiệm, đó là cho chuột bạch ăn, mỗi con ăn một thứ trong cùng một khoảng thời gian. Đến kì hạn, họ quẳng tất lũ chuột xuống bể nước và quan sát. Kết quả là: tất cả những con ăn các loại sâm khác cứ dần dần theo nhau chìm hết. Duy có một con vẫn chống chọi cầm cự, hàng tiếng đồng hồ sau nữa mới chịu chìm. Cậu biết con nào không, thật bất ngờ, đó là con ăn đinh lăng. Rồi hăng hái: hiện nay, đinh lăng là một bí mật, một dược liệu chiến lược của ta. Hoạt huyết dưỡng não được chế từ đinh lăng theo một công thức bí truyền. Vô cùng hiệu quả. Cậu nên dùng, nên dùng. Còn ông thì nghiện hẳn rồi. Tôi chắc, nếu chỉ đọc nhãn thuốc không thôi, ông chả mê thế đâu, dù nó hay ho đi nữa. Ông bị cám dỗ chỉ bởi cái thí nghiệm rất chi là khoa học kia thôi. Phần mình, tất nhiên là tôi bị đánh gục và bắt đầu xài luôn từ trưa hôm ấy.
        Thế mà có lần, đang ở khách sạn Sóc Trăng, ông gọi lễ tân mang cho một chai nước. Cô phục vụ mang lên thì thấy một ông già trên giường, đầu cắm xuống gối, chân chổng ngược lên trần nhà, mặt đỏ gay, tay lẩy bẩy chống đỡ thân mình, cặp giò lúc nghiêng phải, lúc ngoẹo trái, cứ chực đổ. Cô ta hoảng quá, chẳng hiểu ra làm sao. Còn ông, cứ nguyên tư thế ấy mà ra hiệu đặt nước lên kệ, ra hiệu cám ơn, ra hiệu tạm biệt. Mặt rất căng thẳng. Té ra, ông trồng cây chuối. Một bài tập cho máu dốc lên não. Ô hay, đã có hoạt huyết rồi mà. Bài tập dồn huyết này muốn phủ định bài thuốc hoạt huyết kia chăng? Đâu có. Cái này đâu phủ định cái kia. Quan hệ của chúng là cộng sinh. Nhà triết luận của chúng ta hoàn toàn tin thế.
        Người ta vẫn kháo rằng đằng sau người đàn ông thành công bao giờ cũng có bóng dáng một người phụ nữ. Tôi cũng nghĩ thế. Và tin rằng: Hoàng Ngọc Hiến đi vào triết, chắc chắn là nhờ cả công… vợ. Bà Tố Nga là một phụ nữ thật đặc biệt. Bà có cái thú rất nổi tiếng là “nói xấu chồng”. Hễ có khách đến, bà thường ra tiếp trước. Và, trong lúc đợi ông xuống, thể nào bà cũng tố với khách đủ cái “ngu dại” của chồng, chì chiết say sưa, giọng thì đầy hứng khởi, lời lẽ thì đến là đáo để, gai góc. Thế nhưng, ai lại dại mồm vào hùa với bà để kể xấu ông thật, thì bà tống ra cửa ngay lập tức. Lần sau thì đừng có mà vác mặt đến. Thì ra, “tố Hiến” là một cái thú lạ, là tiết mục độc quyền của “tố Nga”. Ấy là cách yêu chồng độc nhất vô nhị của bà. Người hiểu thì thấy rất thú vị, và chả dại gì mà chêm vào hay xía vào. Vì thế, lần nào đến chơi, nghe chuyện bà, tôi cũng thầm nhớ đến cái câu chuyện cổ Hy Lạp ấy. Chuyện một cậu học trò định lấy vợ đã đến xin thầy mình là nhà hiền triết một lời khuyên. Nhà hiền triết đã khuyên rằng: con cứ kết hôn đi, đằng nào thì con cũng được, nếu được vợ hiền, con sẽ là người hạnh phúc; còn gặp phải vợ dữ thì con sẽ thành… một nhà triết học!
         Triết lý sống độc đáo của một triết nhân
        Một người có “máu” triết học thì tất phải có một thái độ triết học trong đời sống. Thiếu điều này, triết nhân sẽ chỉ là một thường nhân thôi. Là một học giả có cỡ được không ít nơi trên thế giới biết đến, nhưng đến nay nhiều người vẫn cứ băn khoăn vì sao ông Hiến không có những học hàm như Giáo sư, danh vị như Nhà giáo nhân dân giống bao nhiêu vị khác. Ông chỉ có một hàm vị duy nhất là Tiến sĩ. Thực ra là Phó tiến sĩ. Bảo vệ ở Nga hồi còn Liên Xô. Mà thấy ông chả có vẻ sốt ruột hay bất mãn gì. Lúc nào ông cũng thản nhiên. Dù quanh ông, người ta cứ nhao lên, nhộn nhạo lên với những danh này vị nọ. Lạ. Giữa cái thời chủ nghĩa duy lợi lên ngôi, thói cầu danh áp đảo thế này, sống được thế, tất ông phải có một quan niệm, một triết lí sống độc đáo nào đó ? Đoán vậy, có lần tôi đã hỏi. Thì ông cũng chả giấu diếm gì: điều mình tâm đắc và lấy làm phương châm sống suốt đời là ý tưởng ở câu cuối cùng trong Đạo đức kinh của Lão Tử: Thánh nhân chi đạo vi nhi bất tranh. Đạo của thánh nhân là làm mà không tranh giành với ai. Ngẫm ra, tôi thấy ông đã sống trong đời đúng như vậy, không riêng gì thái độ đối với danh vị.
        Nhưng quả là cuộc đời này vẫn có những công bằng riêng của nó. Nó vẫn luôn biết ai là ai. Lần vị hiệu trưởng trường Nguyễn Du là Huỳnh Khái Vinh được phong học hàm giáo sư đã diễn ra một việc thú vị. Đám học viên Nguyễn Du hồi ấy toàn những cây bút, những nhà văn đã thành danh cả. Họ đã chuẩn bị sẵn hai bó hoa để chúc mừng. Khi lễ mừng tặng diễn ra, họ đã mời cả Huỳnh Khái Vinh và Hoàng Ngọc Hiến cùng lên sân khấu. Người đại diện tặng hoa cho thầy Vinh trước với lời chúc mừng “Đây là vị giáo sư do nhà nước phong”. Rồi quay sang tặng hoa và ôm hôn thầy Hiến thật hoan hỉ : “Đây là vị giáo sư do nhân dân phong”. Cả hội trường vỗ tay ầm ĩ. Thầy Vinh ôm hôn thầy Hiến đầy phấn khích. Còn thầy Hiến sau một phút ngỡ ngàng, vẻ vẫn rất thản nhiên. Lạ hơn, bây giờ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mỗi khi giới thiệu ông, bao giờ người ta cũng cứ kèm danh vị giáo sư. Công chúng chẳng ai ngạc nhiên. Còn ông thì vẫn thản nhiên.
        Tôi cứ ngỡ ông là người thờ ơ, hoàn toàn không để ý gì đến những chuyện ồn ào vặt. Nhưng không hẳn. Một lần đang trò chuyện vui vẻ, mặt ông bỗng đỏ gay, lời lẽ hết sức bức xúc, chỉ vì nhớ ra hôm qua xem ti vi, bắt gặp Nguyễn Đình Thi trên hình. Tôi chắc, trong cảnh đó, Nguyễn Đình Thi đã nói một điều gì đó đại loại như cao giọng quá đà trước anh em hay hạ giọng quá mức trước bề trên chăng. Nghe ông kể, thì không phải. Té ra, chỉ bởi Nguyễn Đình Thi đã đi đi lại lại bên hồ Gươm, rồi làm bộ làm tịch đang suy tư xa xăm cho camera ghi hình, thế thôi. Vậy mà, ông thất vọng không thể chịu nổi: vì sao một người như Nguyễn Đình Thi mà lại đi diễn trò, một thứ trò vớ vẩn như thế. Tôi còn nhớ, không kiềm được phản ứng của mình, ông đã văng tục ra nữa. Cứ như vừa bị mất một cái gì rất lớn. Thoạt tiên, tôi rất buồn cười, vì thấy phản ứng của ông có vẻ thái quá. Trò diễn ấy cho qua được mà. Ngẫm lại, thì hiểu ông hơn. Là người chân thật đến … kì cục, ông ghét cay ghét đắng thói diễn. Bậc cao nhân lại càng không nên diễn. Thì ra, ông luôn có một nguyên tắc sống, một quan niệm về giá trị sống nào đó, chứ đâu phải ơ hờ.
        Khi hình dung về một triết gia, ta có cái thói đòi hỏi người ấy phải là tác giả của một triết thuyết nào đấy; nếu không sản sinh được một hệ thống triết học nào, thì khó mà được thừa nhận là nhà triết học. Điều này xem chừng có thể trở thành một đòi hỏi vô lối ở thời đại chúng ta. Hãy nghe Foukault - một triết gia lớn của thế kỉ XX - nói: “Thời đại chúng ta chẳng thể sinh ra được một hệ thống triết học lớn nào cả” và chỉ nhất nhất hiểu theo cái nghĩa xa xưa của nó, thì xem chừng “triết học đã “chết” rồi”. Nhận xét của đại gia này khiến chúng ta phải xem lại cách hiểu về triết học và triết gia đương đại. Hình như, không phải lúc nào triết thuyết cũng hiện diện như một hệ thống kinh viện, không phải lúc nào nó cũng tồn tại lộ thiên. Và không phải cứ nói thẳng chuyện triết học và say sưa xây dựng các triết thuyết thì mới là triết gia thì phải.
        Trong một lần sang hội thảo về triết học tại Hà Nội, Francoi Jullien có đưa ra một nhận xét rất tinh: ở Việt Nam, triết học lẩn vào văn học. Không hẳn là nhận định về tình trạng sơ khai của triết ở ta, mà có lẽ là về cách tồn tại đặc biệt (cũng là thân phận ?) của triết Việt. Điều này trước hết ứng với Hoàng Ngọc Hiến, nếu như không muốn nói rằng nó được rút ra từ chính ông.
        Sự khốn đốn của một số triết gia là bậc thầy gần gũi hồi Nhân văn Giai phẩm và Xét lại đã khiến cho nhiều người ham mê triết học đã chùn bước. Trong khi tuyên truyền Mác Lê thành chuyên nghiệp và hùng hậu, thì tư duy triết học lại thưa thớt và nghiệp dư. Không ít mầm non triết học đã phải âm thầm nảy nở trong bóng đêm, thành một thứ triết học du kích, hoặc rẽ sang hướng khác, hoặc bứng trồng vào mảnh đất khác (ví như Trần Đình Hượu bỏ triết học sang nghiên cứu văn chương). Hoàng Ngọc Hiến cũng thế chăng? Nhưng, nếu hoàn cảnh hoàn toàn thuận lợi thì Hoàng Ngọc Hiến có thể trở thành một triết gia không nhỉ? Hình như cái tạng của ông cũng không phải là một triết gia thuần túy. Có lẽ ông thuộc “tạng hai trong một” - tạng “văn triết bất phân”. Nghĩa là một nhà nghiên cứu văn học, văn hoá trên tinh thần triết học, hoặc một nhà triết luận suốt đời bấn bíu với văn hóa, văn học. Điều này ở ông khiến triết lẩn vào văn vừa như một thân phận vừa như một định mệnh.
        Tuy nhiên chính điều này đã làm nên đặc sắc Hoàng Ngọc Hiến. Ông sẽ đi vào các lĩnh vực văn hoá với cảm hứng triết học, sẽ nhìn nhận các vấn đề từ văn học đến văn hoá bằng con mắt triết nhân, ông sẽ đem những công cụ của tư duy triết học để tường giải những vấn đề của văn hoá, văn học. Đây chính là nét khác biệt của học thuật Hoàng Ngọc Hiến so với nhiều hiện tượng khác cùng thời. Có thể nói triết luận Hoàng Ngọc Hiến là một dạng triết học lui về ở ẩn trong văn học.
         Đắc đạo sau những cuộc chơi triết học
       Ai biết Hoàng Ngọc Hiến đều thấy ông say mê các triết thuyết và đã miệt mài suốt đời mình với triết Tây, triết Đông. Ông đã đọc và khảo hầu khắp các triết gia cổ kim đông tây. Mà đâu chỉ có triết theo nghĩa hẹp, ông còn đam mê triết theo nghĩa rộng nhất. Tức là say mê cả đạo đức học, tâm lí học, mỹ học nữa. Ông dịch “Đạo đức học” của Banzelatde, ông giảng “Phân tâm học” của Freud, ông nói về “các phạm trù mỹ học của Đông Á cổ”, ông dịch “Những phạm trù văn hóa trung cổ” của Gurêvich… Một thời ông rất say mê Mác. Từ năm 1949, ông đã trở thành hội viên trẻ của hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở khu IV mà đứng đầu là Nguyễn Chí Thanh rồi. Có lẽ người được ông trích nhiều hơn cả trong các công trình của mình là Mác. Mác thực sự đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nhỡn quan của ông cho đến mãi sau này. Cái hồi ông viết bài “Phải đạo”, nhiều người không hiểu lòng ông đã qui kết ông là phi Mácxit. Nhưng chính trong cái buổi hội thảo nghiêng hẳn về qui kết ấy, sau một hồi lắng nghe ý kiến của ông và những người phản bác ông, chính Lê Đức Thọ đã tỏ ra rất tỉnh đời khi kết luận: “Anh Hiến là người Mácxit”. Và nhờ kết luận này mà các ý kiến công kích hăng tiết đã… ngãng dần ra.
        Hoàng Ngọc Hiến rất tâm đắc với nhận xét này của Robert N. Bellah về một sử gia, đồng thời là chính trị gia và là nhà xã hội học người Pháp Alexis de Tocqueville (1805 -1859): Khoa học xã hội của Tocqueville là một loại triết học vị công (public philosophy). Nghĩa là nó quan tâm đến công ích, và coi trọng công luận khi nêu ra những vấn đề khoa học của mình. Có thể nói, triết luận của Hoàng Ngọc Hiến cũng là thứ triết học vị công như thế. Ai đã đọc ông đều không mấy khó khăn để nhận ra điều này. Xem xét từng bước đường, thấy đam mê triết của ông có những giai đoạn lớn. Hồi đầu ông say mê tìm hiểu tư tưởng Nga Xô, rồi lại say mê tìm hiểu tư tưởng Pháp, đến cuối những năm 80 ông lại say mê nghiên cứu tư tưởng và văn hóa Mỹ. Gần đây, tưởng chừng triết gia đương đại Pháp là F. Jullien đã hoàn toàn hớp hồn ông, khiến những năng lượng học thuật cuối cùng của ông sẽ bị hiện tượng triết học này vắt kiệt. Nào ngờ, lại thấy ông bày “cuộc chơi triết học” mới, đầy đam mê, là quay về nghiên cứu minh triết Việt. Không biết những người khác thế nào, còn tôi thấy trong đó một hành trình nhất quán, và thấy càng ngày ông càng “đắc đạo” hơn. Ông nghiên cứu cái gì cuối cùng cũng chỉ để tìm ở đó những bài học có ích cho nước nhà. Không phải ngẫu nhiên mà sau mỗi một hồi triết luận về vấn đề nào đó mình khơi ra, nêu lên, bao giờ ông cũng có ngay những đề xuất khá kịp thời. Có không ít những đề xuất ở tầm vĩ mô, ví như về chiến lược văn hóa trong phát triển, về giáo dục đào tạo, về việc nghiên cứu minh triết, về coi trọng việc dạy văn chương đối với bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, hay chiến lược ngoại ngữ cho hiện tại và tương lai… Hồi Nga Xô đang hưng thịnh, việc tiến hóa bấy giờ được xem như Nga hóa, ông muốn biết thực chất nó thế nào. Rồi ngày nay, khi Mỹ đang là một siêu cường với tầm ảnh hưởng toàn cầu của nó, đến nỗi hình thành trào lưu Mỹ hóa ở nhiều nơi trên thế giới, ông cũng muốn xem nó thực chất ra sao… Ông muốn biết mỗi mô hình ấy về mặt tư tưởng có điều gì khả thủ. Và ông say mê nghiên cứu các triết thuyết không phải để truy tìm cho mình chỉ một triết thuyết độc tôn, rồi cứ thế mà dùng nó làm một thứ công cụ tư duy vạn năng đến mức làm nô tài cho nó như bao người khác. Trái lại, ông là người thủy chung với một tinh thần năng động triết học, chứ không phải giam mình trong một thói nô lệ triết học như những ai kia. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các định nghĩa triết học, ông tâm đắc nhất với định nghĩa của Thomas Carlyle, khi triết gia lớn này phát biểu: “Triết học là gì, phải chăng là một cuộc chiến liên tục chống lại tập quán: một nỗ lực luôn luôn đổi mới nhằm vượt siêu cầu trường của tập quán mù quáng?”. Có thể, sau này ông mới gặp định nghĩa này. Nhưng toàn bộ hoạt động của đời ông đối với triết học đã thực sự là một minh chứng cho định nghĩa ấy. Nói khác đi, hành trình của ông dường như đã được dẫn dắt bởi định nghĩa kia một cách vô thức. Cả đời ông là một cuộc chiến không mệt mỏi để chống lại tập quán mù quáng, mỗi bài viết dù trực tiếp về triết học hay về văn hóa, văn học đều là một nỗ lực đổi mới mình trong nhận thức, tư tưởng nhằm vượt siêu cầu trường của những nhận thức hời hợt bị bóng đè bởi một đức tin mù quáng. Mà điển hình nhất chẳng phải là bài “Về một đặc điểm của văn học Việt Nam trong giai đoạn vừa qua”, vẫn được gọi nôm là bài “phải đạo” đó sao ? Một tinh thần năng động triết học đó là phẩm chất đáng kể của học thuật Hoàng Ngọc Hiến.
        Sau những cuộc thám hiểm triết học, ông đã trở về bến quê, về lại mái nhà xưa để nâng niu gia tài minh triết của ông cha mình. Những cuộc phiêu lưu ấy đã đủ khiến ông tự tin hơn khi nhìn ngắm cái di sản minh triết độc đáo của tổ tiên. Nếu, sau những chuyến đi xa vào những xứ sở triết học khác để rồi trở về khinh rẻ vốn hương hỏa quí báu của tiên tổ, liệu có phải là người đã đạt đạo không ? Tôi nghĩ, điều đáng trân trọng ở hành trình triết học này của ông chính là ở chỗ: nó nâng ông lên một tầm mới để có thể thấy được vàng ngọc trong minh triết truyền thống và thấy cần thiết phải xây dựng một đội ngũ cho công cuộc khai thác minh triết tiềm ẩn trong nền văn hóa Việt. Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau.
         Khi viết “Triết lý Truyện Kiều”, cái tạng triết luận ở ông mới khởi lên những nét đầu tiên thôi, còn chưa thật sắc nét. Nhưng càng về sau, thiên hướng triết luận càng ngày càng nắm vị thế chủ đạo trong các luận giải văn chương và văn hóa của ông. Đề cập bất cứ sự kiện văn học nào, dù đó là tác phẩm như Truyện Kiều, Ơ đip làm vua, Đăm San…hay đó là tác giả như Nguyễn Du, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Maiacôpxki, Eptusenkô, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Hữu Thỉnh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Trọng Tạo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà… nghĩa là cả những tác gia kinh điển lẫn những cái tên mới nổi, dù đó là một giai đoạn văn học như Văn học Việt Nam thời chống Mỹ, văn chương Việt ở Hải ngoại, hay đi sâu vào một bình diện nào đó của văn chương như thể loại, thể tài, giọng điệu nghệ thuật hay ảnh hưởng của vô thức trong sáng tạo v.v… bao giờ ông cũng muốn truy nguyên vào bản chất, vào bản thể, bao giờ ông cũng muốn tìm cho ra những qui luật của sáng tạo, nhất là lật lên những bình diện triết học của mỗi hiện tượng ấy. Truy tìm vào bản chất sâu xa, săn tìm những qui luật phổ biến, lật tìm những ý nghĩa triết học và luận giải cho kì nổi bật mới thôi, đó chẳng phải là cảm hứng triết học hay sao ! Ông viết bài “Phải đạo” luận về những bình diện mỹ học và triết học khiến sản sinh nên cái đặc điểm của văn học Việt Nam suốt ba mươi năm chiến tranh (viết về “cái hiện thực phải có” hơn là “cái hiện thực đang có”) là theo tinh thần ấy, ông viết bài “Âm Dương”, muốn dùng những phạm trù triết học cổ phương Đông để luận giải và tiên đoán về mạch vận động của văn học ta qua bước ngoặt hậu chiến là theo tinh thần ấy. Ông khảo về những thể loại văn học như bi kịch, trường ca, tiểu luận, trào phúng là theo tinh thần ấy. Ông tường giải sáng tạo chân chính bao giờ cũng là sự giao cắt giữa cái tuyệt đối và cái hiện tại là theo tinh thần ấy. Ông luận về nguyên tắc tính nữ (thường gọi là thiên tính nữ) trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp cũng theo một tinh thần như thế…
        Một thủ lĩnh trận tiền trong đổi mới văn học
       Những ai quan tâm đến việc sáng tạo văn học Việt Nam đều thấy Hoàng Ngọc Hiến có một tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với không ít cây bút đương đại. Đó không hẳn là kiểu ảnh hưởng của một tay viết bậc thầy lão luyện nghề chữ, cũng không hẳn kiểu ảnh hưởng của một học giả uyên bác uyên thâm. Mà có vẻ là kiểu ảnh hưởng khác: truyền niềm thiết tha với văn hóa, nhiệt hứng sáng tạo, nhiệt hứng tư tưởng, tinh thần trí thức, kích thích tư duy. Mà trùm lên tất cả vẫn là ảnh hưởng từ cái phẩm chất năng động triết học đó. Nếu Trần Dần được xem là thủ lĩnh trong bóng tối, thì cũng có thể xem Hoàng Ngọc Hiến là một thủ lĩnh ngoài trận tiền.
        Ai đọc Hoàng Ngọc Hiến cũng thấy ở ông cái sở thích đối lập. Ông thường xây dựng hoặc sử dụng những phạm trù đối lập với tham vọng đạt đến tầm phổ quát nhất cho những những khái quát của mình: âm và dương, vi và vô vi, vị và vô vị, ý và vô ý, ngã và vô ngã, văn hóa và văn minh, minh triết phương Đông và triết học phương Tây, xây dựng Dự án và nương nhờ vào Thế, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa cổ điển mới, tính dân tộc và tính hiện đại, trí thức tinh hoa và trí thức bình dân, bi kịch và lạc quan, hiện thực và tuyệt đối, cái phải tồn tại và cái đang tồn tại, có đáy và không có đáy, viết cho bõ hờn và viết để thỏa chí, kể nội dung và viết nội dung, lý thuyết và nghiệm sinh, trí tuệ của trí tuệ và trí tuệ của trái tim, danh và thực, có và là… Sự phân lập kiểu này là sản phẩm rất đặc trưng của tư duy triết học. Lối đối lập này dần lâu dường đã thành một thứ thương hiệu Hoàng Ngọc Hiến. Ông còn đặc biệt tinh nhạy về những khía cạnh triết học của ngôn ngữ và giỏi mài rũa cái mặt triết tiềm ẩn nào đó để mỗi từ ngữ sáng lên vẻ đẹp triết học của mình. Ít ai không nhớ lần ông nói về các phương pháp khoa học bằng một chữ đích đáng, lần ông luận về quan niệm nhân cách của người Việt qua một chữ hẳn hoi, hay lần ông tranh luận với một cây bút hải ngoại xung quanh chữ moment trong tiếng Anh… Nhiều trường hợp, ông đưa ra những đối chọi chữ nghĩa khiến chúng cũng ánh lên những tia sáng triết luận triết lí bất ngờ nào đó. Ví như ông xem phê bình là làm sáng giá và sang giá cho những sáng tạo văn học, hay ông chọi chữ có và là như một cách đối lập giữa danh và thực, vốn là một mâu thuẫn phổ biến trong cõi người ta. “Một mâu thuẫn oái oăm trong “cõi người ta”- ông viết - là mâu thuẫn giữa “có” và “là”. Có thể có vợ, nhưng không là một người chồng, có thể có con nhưng không là một người cha, có thể có học hàm nhưng không là một người thầy, có thể có học vị, nhưng không là một trí thức,… có thể có tất cả nhưng không là gì cả”. Có thể nói năng lực ngôn ngữ của một nhà văn đã giúp ông diễn đạt sắc bén những suy tư triết lí của một nhà triết luận. Và có thể thấy lối phân lập ráo riết kia trong từ ngữ của ông là khá bén nhạy và nhuần nhuyễn, nó đã thực sự trở thành một nét thuộc phong cách triết luận của ông. Dù không khỏi có lúc cực đoan, nhưng bao giờ sự phân lập ấy cũng gây hứng thú và có khả năng truyền cảm hứng tư duy cho người đọc, thậm chí có lúc đã thực sự gây sốc. Không phải vô cớ mà người ta đã xem Hoàng Ngọc Hiến là người khơi mào, gây hứng thú tranh luận, đối thoại cho người khác hơn là người nói lời kết luận cho các vấn đề.
*
        Hoàng Ngọc Hiến là một người uyên bác mà trẻ trung, là người nhất quán mà năng động, là người thâm thúy mà rất đỗi hồn nhiên… Hình như tuổi tác cứ biến ông thành người già, nhưng tinh thần và tư duy của ông không bao giờ chịu già. Ai gần ông đều thấy cái vẻ lão hóa trong cơ thể muốn biến ông thành người già nua. Nhưng cái tinh thần trẻ trung và tích cực trong ông luôn cưỡng lại. Cái run run của tay chân, cái rè rè của giọng nói cứ muốn phanh ông lại, nhưng tư duy đầy chất trẻ trong ông lại luôn dấn ga để tạo nên một chất sống băng về phía trước, muốn vượt siêu cầu trường của trì trệ. Có lẽ ít ai ở vào tuổi ấy vẫn còn say sưa với mọi công nghệ hiện đại, mọi phương tiện tối tân để cập nhật tri thức nhân loại một cách hiệu quả như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn say sưa với những dự án dài hơi về tri thức về nghiên cứu và đào tạo như vậy. Ít ai vào tuổi ấy vẫn còn chơi với những người trẻ thoải mái hồn nhiên như vậy. Hồn nhiên, luôn đổi mới mình, luôn muốn người khác cùng đổi mới, luôn muốn cuộc đời đổi mới, có phải đó là những phẩm chất hiển nhiên của một người thực sự có cốt cách triết nhân ?
         Trong sự nghiệp của ông, người ta luôn thấy triết học ẩn dật trong văn học và văn học sóng sánh cùng triết học. Nó là sự nghiệp “hai trong một” của một văn nhân - triết nhân.
         Dù cảm nhận của tôi được ông chia sẻ và tâm đắc, nhưng tôi luôn nghĩ ông vẫn là một giá trị lớn mà hôm nay chưa dễ gì hiểu hết được.
        Hà Nội, 2010
        Lời thêm:
       Do một linh tính nào đó mà tôi đã ép mình kịp hoàn thành bài viết này để gửi ông trước khi đi một chuyến công tác đặc biệt phải cách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Và, may thay, ông đã kịp đọc nó ba ngày trước khi lên bàn mổ. Nếu không, hẳn là tôi phải ân hận suốt đời. Theo nhà văn Văn Giá, thì có thể nó là bản thảo cuối cùng ông đọc được trước lúc vào viện. Đến ngày được ra khỏi chốn cách biệt đó, tôi đến viện thăm ông thì ông đã hôn mê sâu rồi. Thật oái oăm ! Trong bài viết, khi nói đến tâm huyết của ông đối với sự nghiệp nghiên cứu minh triết Việt, tôi có một lời: “Cầu mong cho ông luôn đủ sức khỏe để tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cao quí này và truyền cảm hứng cho những người đi sau”. Khi viết thế, tôi vẫn đinh ninh tuổi ông tuy đã cao, nhưng sức ông cũng chưa đến nỗi nào. Đâu ngờ, trọng bệnh đã đem ông đi vĩnh viễn mất rồi !
       Biết bao giờ cuộc đời mới lại có được một Hoàng Ngọc Hiến nữa đây !

Nguồn: vanvn.net

Bỏ chữ “C”


Về họp lớp, không thích mang chữ “Cựu”
Để thấy mình còn mãi với hoa niên
Tóc đã bạc mà tình đâu chịu bạc
Cựu học sinh muốn bỏ chữ “C”
 
NT, 3/12/2016
VA

HỐ BOM và BÔNG SÚNG



Hố bom giặc mỹ thưở nào
Giờ bông hoa súng ngạt ngào hương đưa
Gửi về em Tám ngày xưa
Chèo thuyền hái muống, hoa vừa nở thơm
Rừng tràm xanh nắng du dương
Rặng trâm bầu hát vấn Vương nỗi niềm
Dòng kênh, mái lá, nước phèn
Vui nhìn đàn cá chao nghiêng rỡn đùa

Máy bay càn ném bom bừa
Cháy đồng cỏ lác, khoét thừa ao sâu
Tháng ngày trải vượt thương đau
Vươn lên thắm đậm sắc màu quê hương
Những bông hoa súng vô thường
Trắng hồng sen lẫn cao vươn giữa đầm
Điểm tô khao khát cháy lòng
Cho bầy cá lượn nước trong vẫy vùng
Ao hoa cảnh đẹp tiên bồng
Thiên đường ai đã góp công tạo thành
Một mình lặng ngắm bức tranh
Nhớ về em Tám long lanh mắt cười.
                                 VN