Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Tư, ngày 01 tháng 10 năm 2014

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 98

Bài 98

Kinh Kha cố lý
荊軻故里
Kinh Kha cố lý
白虹貫日天漫漫
Bạch hồng 1 quán nhật thiên man man
風蕭蕭兮易水寒
Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy 2 hàn
歌聲慷慨金聲烈
Ca thanh khảng khái kim thanh liệt
荊軻從此入秦關
Kinh Kha tòng thử nhập Tần quan
入秦關兮持匕首
Nhập Tần quan hề trì chủy thủ
六國深仇一引手
Lục quốc thâm cừu nhất dẫn thủ
殿上卒然一震驚
Điện thượng thốt nhiên nhất chấn kinh
左右手搏王環柱
Tả hữu thủ bác vương hoàn trụ 3
階下舞陽如死人
Giai hạ Vũ Dương 4 như tử nhân
神勇毅然惟獨君
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân
縱然不殺秦皇帝
Túng nhiên bất sát Tần hoàng đế
也算古今無比倫
Dã toán cổ kim vô bỉ luân
怪底行蹤原市隱
Quái để hành tung nguyên thị ẩn
曾與燕丹無夙分
Tằng dữ Yên Đan 5 vô túc phận
殺身只為受人知
Sát thân chỉ vi thụ nhân tri
徒得田光輕一刎
Đồ đắc Điền Quang 6 khinh nhất vẫn
可憐無辜樊於期
Khả liên vô cô Phàn Ô Kì 7
以頭借人無還時
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì
一朝枉殺三烈士
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ 8
咸陽天子終巍巍
Hàm Dương 9 thiên tử chung nguy nguy
燕郊一望皆塵土
Yến giao nhất vọng giai trần thổ
秋日秋風滿官路
Thu nhật thu phong mãn quan lộ
市上歌聲不復聞
Thị thượng ca thanh bất phục văn
易水波流自今古
Dịch Thủy ba lưu tự kim cổ
故里枳棘縱復橫
Cố lí chỉ cức tung phục hoành
只有殘碑猶未傾
Chỉ hữu tàn bi do vị khuynh
莫道匕首更無濟
Mạc đạo chủy thủ canh vô tế
楬竿斬木為先聲
Yết can trảm mộc 10 vi tiên thanh
Dịch nghĩa: Làng cũ của Kinh Kha
 
Cầu vồng trắng vắt ngang mặt trời, bầu trời mênh mang
Gió thổi hắt hiu, chừ, sông Dịch lạnh
Tiếng ca khảng khái, tiếng thép rít
Kinh Kha vào ải Tần ở chỗ này
Vào ải Tần, chừ, cầm chủy thủ
Thù sâu sáu nước gửi vào một tay
Trên cung điện bỗng nhiên kinh động
Quan tả hữu tay không bắt, vua chạy vòng quanh cột
Dưới thềm, Vũ Dương như người đã chết
Thần dũng hiên ngang chỉ có mình ông
Dù chẳng giết được Tần hoàng đế
Tính xưa nay không có người sánh bằng
Lạ thay, vốn dấu kín hành tung giữa chợ
Không từng có duyên nợ gì với Yên Đan
Liều thân chỉ vì được người biết đến mình
Luống được Điền Quang nhẹ đâm cổ chết
Khá thương Phàn Ô Kỳ chẳng tội tình gì
Cho mượn đầu không hẹn kỳ trả lại
Một sớm ba liệt sĩ chết oan
Mà ngôi thiên tử ở Hàm Dương cuối cùng vẫn cao ngất ngưởng
Đất Yên nhìn toàn đất bụi
Nắng thu gió thu đầy quan lộ
Trong chợ không còn nghe tiếng ca nữa
Sông Dịch chảy mãi xưa nay
Làng cũ cây chỉ, cây gai mọc ngang dọc
Chỉ có cái bia tàn chưa đổ
Chớ nói rằng cây chủy thủ chẳng ích gì
Nó dẫn đầu cho việc trương sào, chặt cây (làm cờ, làm giáo khởi nghĩa)

Dịch thơ: Làng cũ của Kinh Kha

Cầu vồng trằng ngang trời mênh mang
Gió hiu hiu chừ Dịch Thủy buốt
Lời ca khẳng khái tiếng thép rít
Kinh Kha từ đây vào ải Tần
Vào ải Tần chừ cầm gươm ngắn
Thù sâu sáu nước một tay cầm
Trên cung điện đột nhiên hoảng hốt
Tả hữu tay không, vua quanh cột
Dười thềm Vũ Dương như chết rồi
Mình ông thần dũng vẫn đường đột
Dẫu không giết được Tần Thủy Hoàng
Xưa nay chưa ai đã sánh bằng
Lạ thay hành tung dấu ngoại chợ
Chưa từng Yên Đan có duyên nợ
Liều thân muốn người biết đến mình
Lại có Điền Quang đâm nhẹ chết
Khá thương khi không Phàn Ô Kỳ
Cho người mượn đầu không hẹn trả
Một buổi chết hoài ba liệt sĩ
Hàm Dương thiên tử vẫn ngôi cao
Đất yên nhìn khắp đều cát bụi
Nắng thu gió thu đầy đường quan
Trong chợ không còn nghe tiếng hát
Dịch Thủy chảy hoài suốt xưa nay
Cây chỉ cây gai mọc làng cũ
Và một cây bia tàn chưa đổ
Chớ bảo gươm ngắn không ích gì
Dẫn đầu dân theo dựng cờ nghĩa.

                             Đỗ Đình Tuân
                               (dịch thơ)

Chú thích:
* Kinh Kha: Kinh Kha người nước Vệ. Được Thái tử Đan nước Yên tin dùng, sang Tần uy hiếp Tần Vương Chính 秦王政 (Tần Thủy Hoàng 秦始皇).
Có 2 người thích: ha uy di, Kiem Khach
1. Cầu vồng (mống) trắng. Tục ngữ Việt nam: "Mống vàng thời nắng, mống trắng thời mưa. Mống cao gió táp, mống rạp mưa dầm".
2. Sông phát nguyên từ Dịch Huyện, tỉnh Hà Bắc, chảy về phía đông, đến địa phận huyện An Định. Kinh Kha hát: "Gió vi vu chừ, sông Dịch lạnh tê, Tráng sĩ một đi chừ, không trở về" (Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn, Tráng sĩ nhất khứ bất phục phản 風蕭蕭兮易水寒, 壯士一去不復返 ).
3. Bị Kinh Kha đuổi theo để đâm, vua Tần chạy quanh cái cột.
4. Tần Vũ Dương được Tháí tử Yên Đan 燕丹 cử đi theo giúp sức Kinh Kha. Tới trước bệ rồng, Vũ Dương thất sắc run rẩy.
5. Thái tử Đan, con của Yên Vương Hỉ 燕王喜, bị đưa sang Tần 秦 làm con tin, giận Tần Vương là bạn chơi hồi nhỏ, bỏ trốn về nước.
6. Người tiến cử Kinh Kha với Thái tử Đan. Tự đâm cổ chết để khích lệ Kinh Kha và tỏ chữ tín với Yên Đan.
7.  Phàn Ô Kỳ ?
8. Tức Điền Quang, Phàn Ô Kỳ và Kinh Kha.
9. Kinh đô nước Tần. Tức Vị Thành cũ, ở phía đông bắc Trường An Thị 長安市, tỉnh Thiểm Tây 陝西 bây giờ. "Hàm Dương thiên tử" chỉ vua Tần
10. Tần Thủy Hoàng vô đạo. Trần Thiệp cùng Ngô Quảng khởi nghĩa. Dân hưởng ứng chặt cây làm gậy, trương sào làm cờ. (Sử ký Tư Mã Thiên, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, Saigon, Việt Nam, 1972, trang 541-544).
26/7/2014
Đỗ Đình Tuân

BỖNG DƯNG


Bỗng dưng trong sáng thu nay
Hồn ta gió thoảng mây bay phiêu bồng
Lạc về một buổi chiều đông
Bay qua nắng sớm xuân hồng năm nao
Đậu vô ngày hạ thuở nào
Ngu ngơ cánh phượng ép vào trang thơ
Thế rồi trải mấy nắng mưa
Hoa phai sắc thắm câu thơ nhạt màu
Nỗi niềm tưởng đã vùi sâu
Sao khi trở gió lại đau thế này?!

            01-10-2014
            Song Thu

THU VÀNG

(Họa nguyên vận bài úa mi của HANSY)

705
ÚA MI
(Ngũ vị hương)

Thu chùng đuổi sắc vợi tình đi 
Chẳng nữa mà mơ ước vọng gì 
Thảng thốt cung trầm đau lẫn nghẹn 
Tan tành nốt huyễn mộng cùng si 
Điù hiu tuổi ngỡ ngàng hương phấn  
Khắc khoải đường duyên lặng lẽ thì 
Trở gối hờn chăn thầm dỗ nguyệt
Chau buồn sẫm giọt úa rèm mi

HANSY

NHÌN NHỮNG MÙA THU ĐI

Nắng trải hanh vàng tiễn Hạ đi
Rừng thưa lặng lẽ vấn vương gì
Cho cành nhớ cội ru hồn ngẩn
Để gió mong chiều dỗ mộng si
Dỗi bóng thời gian rời tuổi ngọc
Hoài trang kỷ niệm tiếc xuân thì
Bao mùa lá đổ trông người mãi
Chỉ thấy sương sầu dệt đẫm mi

Phượng Buồn

SẦU THU

Thu dần trải bước dỗ hồn đi
Ủ rũ đường mơ ước nguyện gì
Những tưởng xa rời hương ái vọng 
Đâu ngờ giã biệt mối tình si
Đường mê vẫn đọng tràn mơ thuở
Ngõ luyến hoài vương phủ mộng thì
Dẫu biết thời gian nào ủy mị
Cung sầu lệ đẫm ướt nhòa mi.

Khánh Mỹ Trần
Sắc lá thu tàn đuổi mộng đi
Em còn ước muốn được điều gì
Làn mây nhẹ tễnh bao mơ tưởng
Lượn gió vờn bay mấy khối si
Luyến ái mơ vàng đang tuổi ngọc
Thương cùng tiếc ngọc lúc xuân thì
Theo chân hẹn ước bao nhung nhớ
Mỗi đợt thu về bớt lệ mi.
                                             VN
Phụ chép   ÚA MI
(Ngũ vị hương)
 
Thu chừng đuổi sắc vợi tình đi
Chẳng nữa mà mơ ước vọng gì
Thảng thốt cung trầm đau lẫn nghẹn
Tan tành nốt huyễn mộng cùng si
Đìu hiu tuổi ngỡ ngàng hương phấn
Khắc khoải đường duyên lặng lẽ thì
Thẹn gối hờn chăn thầm dỗ nguyệt
Chau buồn sẫm giọt úa rèm mi
                                                      HANSY

Trêu Bà

Chung kết hoa hậu nước ta
Hai mốt cô gái quả lầ rất duyên
Đến từ khắp cả ba miền
Áo quần tự chọn như tiên giáng trần
Áo tắm để lộ phần thân
Nước da trắng ngần cân đối rất "ngon"
Tuần Châu chắc mãi vẫn còn
In sâu cho một tấm son cho đời
Say! nhưng buồn thế bà ơi
Tuổi xuân một thời dành đánh Mỹ tây
Mong mà có dịp nào đây
Mở thi lão hậu nước mây rộn ràng
Gần xa chẳng ngại trở ngang
Tôi sẽ sẵn sàng đưa đón bà đi
Xem bà ứng xử cực kỳ
Mấy lần cãi lộn tôi thì đều thua.

 Bùi Trác Trường

ĐỌC “BỐN MÙA” THƠ TRẦN NHUẬN MINH NXB VĂN HỌC HÀ NỘI 2011

(tiếp theo)

“CHÁU ĐI ĐÀO THAN THỔ PHỈ”
Hai tiếng “Thổ phỉ” đã là minh chứng đủ đầy cho sự hỗn loạn của xã hội một thời ở vùng mỏ than Quảng Ninh. Nạn đào than cướp giật, trộm cắp của các đầu gấu, đầu nậu hoành hành ở vùng đất này 5 năm liền. Đến nỗi Trung ương phải về chỉ đạo mới tạm yên cái nạn đào than thổ phỉ. Cháu Mừng của Nhà thơ là nạn nhân chắc chắn không phải duy nhất vì không phải một hầm, một lò mà hàng trăm, hàng nghìn hầm lò than khai thác than thổ phỉ. Đã là trộm cắp thì lấy đâu ra an toàn. Cứ thế nhân lên để biết có bao nhiêu cháu Mừng lâm vào cảnh đói rách nên phải:
“Cháu đi đào than thổ phỉ
Lấy tiền nuôi mẹ nuôi em
Sập lò, cột đè gẫy nát
Xác buộc túm trong vải bạt
Than đổ ứ đầy lên trên
Xe chạy trốn người, qua đêm”

Mặc dù Nhà thơ đã viết:
“Đã qua cái thời đói rách
Làm sao còn khổ thế này”.

Nhưng đã qua được đâu cái thời đói rách ấy và:
“Mẹ cháu sẽ nhận được gì ?
Tiền ư ? Gạo ư ? Vải ư ?
Em cháu sẽ nhận được gì ?
Cặp ư ? Sách ư ? Bút ư ?”

Tất cả chỉ còn lại là cái chết đau thương tang tóc của cháu Mừng. Cho đến chết thân hình dập nát giờ đây vẫn không thoát khỏi tội tình:
“Cháu nằm túm trong vải bạt
Mặt mũi than đè dập nát
Xe than đổi một mạng người
Chú biết kêu cùng ai được”

Trần Nhuận Minh chỉ biết ngửa mặt lên trời gọi tên cháu: “Mừng ơi!”. Ôi cái tên mới đẹp làm sao ! Mẹ cha đặt tên cho cháu, hy vọng cháu sẽ mang mừng vui đến cho cả nhà nhưng ngờ đâu cháu lại đoản mệnh và mừng vui đâu chẳng thấy, chỉ thấy tang tóc đau thương trùm lên cháu, trùm lên gia đình, trùm lên cả vùng than. Không có ai vô can trong nỗi đau này.

“ĐỒI HOANG”

Trần Nhuận Minh muốn gửi gắm vào đây thuyết nhân quả. Cái giá phải trả cho việc hủy hoại quá khứ của chính dân tộc mình là như thế đó. Sau cải cách ruộng đất, rồi hợp tác hóa biết bao đình chùa ở những miền quê thờ những vị thành hoàng, nơi cho những kẻ tu hành nương nhờ cửa phật đều bị đập phá tan hoang để làm chuồng lợn, chuồng bò. Lợn, bò chết chưa hẳn do thần linh trừng phạt mà còn do cơ chế. Người bị dở dại dở điên, kẻ thì lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử. Qua bài thơ Trần Nhuận Minh muốn nhắc nhở không chỉ cả một dân tộc mà mỗi con người phải biết tôn trọng những giá trị đích thực của quá khứ, của lịch sử. Nhìn cảnh đổ nát điêu tàn của Lam Kinh ai chẳng thấy đau lòng.

“GỬI BÁC VƯƠNG LIÊN”

Tôi đã định dừng lại ở “Bên đường” vì những thân phận khổ đau tôi nhắc đến đã đủ. Nhưng đây lại là một phạm trù khác, phạm trù của lòng tham và tội ác. Tôi luôn nghĩ trong một bài thơ có những câu thơ phải viết để dẫn dắt và có những câu thơ muốn viết mà người ta thường gọi là những câu thơ “đinh”, câu thơ cốt lõi. Câu thơ lóe sáng để quyết định tứ thơ mà Nhà thơ muốn gửi gắm. Bài thơ nói về chuyện tiền nong nhiều đến nỗi phải nhét vào bao tải và bác Vương Liên lại thuê đến hai hầu gái để đấm lưng xoa bóp… Nhưng chỉ cần hai câu thơ tự bộc lộ thân phận mình thì thần thái của bài thơ đã bốc lên ngùn ngụt:
“Cái thằng bé thuở nào
Bác dạy làm cách mạng”

Thì ra bác Vương Liên không phải ai khác mà đó là một ông thầy của cách mạng. Ôi chua chát và phản phúc biết chừng nào ! Ông thầy dạy cách mạng hiện nay sống như thế đó, mà họ sống ngang nhiên mới lạ chứ. Những điều như thế này phải dùng câu trả lời của đấng Mê Tơi “như thế là như thế”. Còn chúng ta người trần mắt thịt biết trả lời sao đây và biết đặt niềm tin vào đâu để mà sống, mà làm việc.

“CANH KHUYA”
Thân phận của người con gái đẹp thời nay sao đắng cay đến thế ? Xung quanh em chỉ toàn là cạm bẫy. Tôi cứ nghĩ Trần Nhuận Minh lấy đâu ra nước mắt mà khóc thương cho hết mọi kiếp người. Có thật thế chăng ?
“Đất đã hẹp mà trời càng thêm hẹp
Trốn vào đâu sông núi vẫn vô tình
Góc phố nào không có lầu Ngưng Bích
Mặt người nào không có dáng Sở Khanh”

Nhân phẩm bị bủa vây.
“Chẳng còn dám gửi quà về biếu mẹ
Nỗi cô đơn thăm thẳm đến rợn người
Khi chợt thấy bếp nhà ai đỏ lửa
Lúc thoảng nghe đâu đó trẻ con cười”

Khát vọng một tổ ấm gia đình, khát vọng làm mẹ đã bị tước đoạt và Nhà thơ giàu nhân ái của chúng ta chỉ biết:
“Anh hãy ít ra là cầm lấy tay em
Để em nhận tiền mà không hổ thẹn”

“NHÀ THƠ ÁP TẢI”

Ở nhiều nơi trên thế giới văn chương có thể biến người ta thành tỷ phú đô la. Còn ở Việt Nam Nhà thơ còn phải làm nghề áp tải hàng hóa để kiếm kế mưu sinh. Nhà thơ Nhà văn là tầng lớp “bạch diện thư sinh” mà phải :
“Không ngờ một nhà thơ
Lại sống bằng nắm đấm”

Và cái cảnh:
“Thỉnh thoảng lại gặp cướp
Còn trộm thì mênh mông”...

“Đất nước có một thời
Kẻ gian nhiều như nấm”.

Đó là thời nào? Còn nếu vậy thì người ta sống làm sao đây? Nhưng không vì thế mà Nhà thơ phải từ bỏ khát vọng, khí phách của mình:
“Phải áp tải Sự Thật
Đến những bến cuối cùng”

Và:
“Chai rượu ngang dốc ngược
Đứng cùng trời
uống chung”

Những bến cuối cùng ấy là cõi người, phải rọi soi, phải thức tỉnh cõi người này bằng những câu thơ rắn hơn sắt thép và sắc hơn cả gươm đao.

“VỚI CHỊ HỒNG TÂM”

Thơ Trần Nhuận Minh thường lấy tư liệu trong hiện thực cuộc sống, vì thế tôi mới coi “Nhà thơ và hoa cỏ” là văn chiêu hồn của thời hiện đại. Câu chuyện đau lòng này xảy ra trên quê hương thứ hai của Trần Nhuận Minh:
“Cuộc đời toàn người tốt cả
Không ai xấu với ai đâu”

Nói thì nhẹ như lông hồng, nhưng thực tế thì bỗng dưng chồng chị mất cửa, mất nhà, bị bắt giam vào tù. Chuyện tày đình vậy mà Trần Nhuận Minh chỉ buông một câu:
“Mừng anh qua chút tai ương”
Cuộc đời như thế mà chỉ là “chút” thì như thế nào mới gọi là tai ương, là đại họa. Thế mới biết cuộc đời này luật pháp không nằm trong tay những người điều hành luật pháp mà thực ra những chánh tòa trong “Ngày này tháng nọ năm kia…”, những chánh tòa dốt nát trong “Em đi biên giới…” thì có cũng bằng không. Luật pháp bây giờ nằm trong tay những kẻ nhỏ nhen ti tiện, đố kỵ nhưng lại nắm trong tay chức trọng quyền cao. Chỉ vì sơ sẩy trong đối nhân xử thế mà chồng chị Hồng Tâm:
“Anh chẳng hiểu sao bị bắt
Rồi tự nhiên lại được tha
Thôi thế là anh có phúc
Được trả lương hưu trả nhà”

Anh phải đi tù oan mấy năm trời. Ra tù rồi được trả nhà, trả lương hưu nhưng rồi cũng không trụ nổi và phải vĩnh biệt thế gian này đi tìm một chốn bằng an nơi nào đó ở thế giới bên kia. Nhưng thế giới ấy như Trần Nhuận Minh đã viết vẫn “tưng bừng cái ác”. Đọc bài thơ tôi lại nhớ (khổ cái thân tôi lại nhớ, lại liên tưởng nhưng nó đã là nghiệp chướng của tôi rồi), vâng, vẫn nhớ vụ án giết người oan sai ở tỉnh Bắc Giang. 12 năm tù cho một người vô tội. Chuyện đã hai năm rõ mười như ban ngày mà tha ngay hay tha chậm cứ nhùng nhằng mãi, trên dưới đều chối tội, đều vô can như chẳng có gì. Kiếp người bây giờ chỉ bằng con ong cái kiến.

“THOÁNG”

Là tiếng chuông cảnh tỉnh sự băng hoại nhân cách của xã hội đương đại. Nét thuần phong mỹ tục, vẻ đẹp đoan trang của người phụ nữ Việt Nam thời nay không còn nữa mà chỉ là:
“Đàn bà khoác bị cói, đeo kính kơn, mặc quần soóc ra phố
Uống rượu chửi tục như đàn ông”

Còn trẻ con thì:
“Khách đến nhà trẻ toàn nói trống không
Khó lòng sai đun nước hay giữ chó
Chúng đến trường tay dây mực xanh đỏ
Bôi lên lưng áo thầy cô”

Rồi ông kết thúc với câu thơ làm cho ta lo lắng sợ hãi:
“Bà bán nước chè xanh không chỉ bán nước chè
Có bán cả phụ tùng tên lửa”

“PHÚT LÂM CHUNG CỦA CỤ HÃN”

Biểu tượng liêm khiết, tận trung của một thời giờ đã trở thành một nỗi ám ảnh, ân hận xót xa. Đến chết cụ Hãn vẫn không thể nhắm mắt vì chưa được ăn năn sám hối những gì do lòng tận tâm mù quáng đã gieo rắc tội ác lên lớp trẻ. Trước khi nhắm mắt cụ muốn Nhà thơ viết báo để xin lỗi những đứa trẻ đã bị ông đánh đập, có đứa hộc cả máu mồm máu mũi, Nhà thơ đành bất lực vì ông chỉ biết làm thơ. Thì ra tất cả mọi nẻo đường không phải là ngõ cụt. Trước khi chết con người ta vẫn mong muốn làm việc thiện. Sự ăn năn sám hối này đã làm xúc động bao con tim. Cụ Hãn ơi ! Cụ hãy nhắm mắt mà về trời, tất cả trẻ con trên đời này đều sẵn sàng tha thứ cho cụ vì đó là biểu trưng của một thời chứ không phải chỉ riêng mình cụ.

Thứ Ba, ngày 30 tháng 9 năm 2014

Dịch Bắc hành tạp lục: Bài 97

                                        Triệu Tương Tử

Bài 97

Dự Nhượng kiều
豫讓橋
Dự Nhượng kiều
豫讓匿身刺襄子
Dự Nhượng nặc thân thích Tương Tử 1
此地因名豫讓橋
Thử địa nhân danh Dự Nhượng kiều
豫讓既殺趙亦滅
Dự Nhượng kí sát Triệu diệc diệt
橋邊秋草空蕭蕭
Kiều biên thu thảo không tiêu tiêu
君臣正論堪千古
Quân thần chính luận kham thiên cổ
天地全經盡一朝
Thiên địa toàn kinh tận nhất triêu
凜烈寒風冬日薄
Lẫm liệt hàn phong đông nhật bạc
奸雄過此尚魂消
Gian hùng quá thử thượng hồn tiêu
Dịch nghĩa: Cầu Dự Nhượng
 
Dự Nhượng dấu mình đâm Tương Tử
Chỗ này do đó tên là cầu Dự Nhượng
Dự Nhượng giết rồi, nước Triệu cũng diệt vong
Bên cầu cỏ thu xơ xác
Lời bàn đúng đắn về nghĩa vua tôi đáng làm gương muôn thuở
Làm trọn đạo trời đất trong một sớm
Gió lạnh căm căm, trời đông nhạt
Kẻ gian hùng tới đây còn mất hồn vía
Dịch thơ: Cầu Dự Nhượng

Diệt Tương Tử Nhượng dấu mình
Nơi đây Dự Nhượng thành danh cây cầu
Nước Triệu cũng chẳng còn đâu
Cỏ thu man mác bên cầu xác xơ
Nghìn năm để tiếng thơm tho
Đạo trời đất đã một giờ trả xong
Căm căm gió lạnh trời đông
Qua đây những kẻ gian hùng hồn bay.

                                   Đỗ Đình Tuân
                                     (dịch thơ)
 
Chú thích:
1. Dự Nhượng: Xem chú thích bài 96
2 Trí Bá: . Trí Bá 智伯 đánh thua Triệu Tương Tử 趙襄子, bị Tương Tử cho sơn xương sọ dùng làm tô đựng rượu (có thuyết nói dùng đựng nước tiểu). Dự Nhượng hết lòng rửa nhục cho Trí Bá.
 
25/7/2014
Đỗ Đình Tuân

BÈO TÂY


 
Tụ lại ria đường bèo cánh ơi
Bồng bềnh kết mảng ở trên đời
Cho xanh thảm lụa bên đường thắm
Để tím màu hoa nước nổi trôi
Ấp ủ lòng người từng tiếng gọi
Miên man ngóng kẻ mấy câu mời
Bao nhiêu bão gió em còn đó
Ứơc hẹn vẫn tìm chẳng thể vơi.
                                      VN

MỘT MÌNH KHAU VAI

Bao lần hẹn nhau Khau Vai
Mãi hẹn không thành Khau Vai
Đành hẹn chờ nhau Khau Vai
Lại hẹn mùa tình Khau Vai.
 
Nguyễn Tô Hà

ĐỌC “BỐN MÙA” THƠ TRẦN NHUẬN MINH NXB VĂN HỌC HÀ NỘI 2011

(tiếp theo)


“THƠ TÌNH NGÀY KHÔNG EM”, “CHIỀU XANH”.


Thơ tình mà lại không em vì giờ đây :
“Thì em xa,
Em đã quá xa rồi…”

Những đổi thay dâu bể bao giờ cũng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của con người. Ta không hiểu được những gì rồi sẽ đến nên con người thường sống chơi vơi và đau khổ trong tình yêu. Những câu thơ ở đây nhẹ nhàng nhưng lại gieo giông bão vào lòng ta. Trần Nhuận Minh cứ liên tiếp đặt vào đây những trăn trở:
“Nếu biết rằng sẽ chẳng gặp lại nhau”
Và sau câu trăn trở đó, là sự xót xa ân hận của Nhà thơ – người tình:
“Anh đã chẳng buộc em vào tội lỗi”
Để đến nỗi:
“Em đứng lặng. Mặt úp vào bóng tối
Khổ thân em có nói được gì đâu”

Và cũng sau trăn trở ấy có lúc đã le lói một niềm hy vọng:
“Để quá khứ chỉ còn là thương nhớ
Và tương lai ít ra cũng ngọt ngào”

Cùng với “Thơ tình ngày không em” những bài thơ tình khác của Trần Nhuận Minh cũng mỏng nhẹ như sương khói nhưng lại có độ lắng sâu và rất dạt dào cảm xúc. Vì thế nó găm chặt được vào cõi người. Thơ tình của ông gieo vào lòng ta một nỗi buồn man mác, để lại trong ta một nỗi niềm tiếc nuối của một thời xưa cũ, nơi mối tình đầu của mỗi đời người chớm nở. Nó cứ như sợi heo may se lạnh đầu thu vấn vít vào hồn ta. Trong “Chiều xanh” Trần Nhuận Minh có những câu thơ thật hình tượng:
“Áo em ngắn hết một thời con gái
Nỗi yêu anh còn biết giấu vào đâu”

Tình yêu của cô gái dậy thì, sức vóc lớn trước tuổi. Tình yêu ấy mới trong trắng làm sao, sao đẹp thế mà em lại phải e thẹn dấu vào trong áo. Để bây giờ em chẳng thể giấu nó vào đâu. Rồi thời gian cứ trôi đi:
“Tóc em rối trăng lên chưa kịp chải
Đôi giọt buồn mơ mộng đọng trong mây”

Mây là thực, mây cũng là mái tóc mây của nàng trinh nữ biếng chải khi trăng lên. Trăng của thề hẹn lứa đôi nhưng giờ đây em đã lẻ bóng. Chỉ mình em, em chải tóc làm duyên cho ai ? Và tự nhiên lại vụt lên câu thơ tài hoa đến thế. Thơ là sự vụt hiện, sự lóe sáng của thiên tài:
“Mây trinh nữ che nghiêng trời xóm bãi”
Sự kỳ ảo, vẻ đẹp của câu thơ này có nói đến cả đời cũng không hết được. Mỗi người sẽ tìm cho mình một cảm nhận về nó. Rồi tất cả lại chìm sâu vào quạnh vắng cũng chỉ bằng một câu thơ:
“Chim le le gọi bạn cuối đầm sâu”
Mây trinh nữ thì lang thang trên trời, còn chim thì gọi bạn cuối đầm sâu. Sự kỳ ảo trộn lẫn với sự hoang vắng cho ta cảm nhận về một không gian thơ có cái gì khác lạ.
Và: “Tà áo mỏng bồng bềnh cơn gió rét
Thổi nao lòng từ tuổi chớm hoa bay”

Bài thơ thì khép lại nhưng tà áo mỏng và cơn gió rét ấy cứ bay, cứ thổi, cứ thổi mãi đến nao lòng ta. Xin được trích vào đây một khổ thơ đọc nó lòng ta dịu lại trước khi ta bước vào hành trình đi đến với những kiếp người:
“Còn chăng hương xuân trong đôi hoa tay
Chạm vào môi em hoang vu khô gầy
Xoa lên má em xanh mờ hồn xưa
Vuốt trên mi em mặn nhòe hơi mưa...”


“MỢ HỮU”


Hữu ở đây trong chữ Hán là hữu – có chứ không phải là hữu – bạn. Trong thơ Trần Nhuận Minh thường xuất hiện những từ trái ngược như thế. Ta sẽ giật mình khi đọc hết bài thơ. Tên bài thơ như thắp lên niềm tin, nhưng đọc xong thơ ta lại thấy sự đổ vỡ.
Vợ chồng mợ làm ăn chỉn chu chính đáng, chồng mợ là người đàn ông sống có trách nhiệm với gia đình luôn coi chuyện an cư mới lạc nghiệp lên đầu. Đây chính là cái ham muốn quẩn quanh của con người. Rồi số phận khắc nghiệt đã giáng lên cái gia đình hạnh phúc ấy:
“Cậu xây xong nhà ba tầng
Người cứ dần dần héo quắt
Thế rồi một sớm tinh mơ
Cậu cứ lặng im mà mất...”

Từ cậu ở đây không để chỉ địa vị cao sang mà chỉ ngôi thứ anh chị em trong một gia đình. Có nghĩa là trên cậu và dưới cậu là chị gái và em gái. Điều đó mới là nguyên nhân của sự tan vỡ - đàn bà lắm chuyện, lắm ghét ghen và đố kỵ. Sự đố kỵ và ghét ghen của con người ở đây sao mà tàn nhẫn thế. Người chết vẫn nằm đó trong quan tài mà người sống thì đã:
“Cô bác từ quê ra viếng
Thấy mợ dịu dàng mảnh mai”

(Ôi cái dịu dàng mảnh mai cũng có tội ư ?)
“Mà nhà thì to đẹp thế
Biết rồi sẽ vào tay ai ?”

Và :
“Em chồng mắt lườm miệng nguýt
Vô tâm mợ có thấy đâu...”


“Cậu chết mợ thành người lạ
Bơ vơ trong chính nhà mình”

Hỏi có gì khổ đau hơn thế, họ hàng đơn bạc và thói đời đơn bạc. Ngày xưa khi tôi đọc câu thơ của Kha Ly Chàm: “Ừ nhỉ thói đời như mõm chó” đăng trên báo Văn nghệ Bình Dương tôi đã phê phán câu thơ đó. Giờ đọc thơ của Trần Nhuận Minh tôi mới thấy ân hận xót xa. Từ nơi xa này xin tạ lỗi với Nhà thơ Kha Ly Chàm. Mõm chó chỉ làm rách da rách thịt, còn thói đời ở đây đã hủy hoại những kiếp người.
“Như con thuyền nan không bến
Lênh đênh trong chính phòng mình”

Rồi Trần Nhuận Minh chỉ biết kêu trời mà chẳng thể làm gì được để bảo vệ hạnh phúc cho một kiếp người.
“Mợ đáng thương hay đáng trách
Trời ơi ! Tách bạch mà chi
Dòng sông muôn đời vẫn thế
Đục trong thì cũng trôi đi...”

Đi qua cuộc đời mợ Hữu ta lại bắt gặp một thân phận, một kiếp người:


THÍM HAI VUI:


Lại một cái tên trái ngược nữa mà Trần Nhuận Minh đặt cho nhân vật của mình.
Đời một người chinh phụ khi chồng ra đi chinh chiến lại coi đó là những năm mình được sống trong hòa bình. Có cái nghịch lý nào đau đớn hơn thế ?
“Thím bảo những năm ấy
Là những năm hòa bình”

Một mình thờ chồng nuôi con trong gian lao vất vả mà chẳng có một lời kêu ca trách móc:
“Có tin đồn chú mất
Thím thầm cắn chặt môi
Nuôi hai con ăn học
Cấy cày đến quắt người

Nhưng rồi:
“Bỗng đột nhiên chú về
Tung huân chương đầy chiếu
Thím cười mà như mếu
Nước mắt chả buồn lau”

Chân dung của một người anh hùng, công thần nhưng vô học và chân dung của một người phụ nữ khổ đau đã được Trần Nhuận Minh tóm gọn trong bốn câu thơ. Sự tài hoa ở đây đã đi đến tột đỉnh và sự đau thương mất mát ở đây đã đi đến tột đỉnh. Cái nhân cách của một vị anh hùng, công thần nhưng vô học đã được Trần Nhuận Minh tóm gọn trong 2 câu thơ nhưng thực ra chỉ trong một từ “tung”. Sau cái hành động ngạo mạn vô học ấy là tất cả đã đổ vỡ nát tan: danh dự, công lao, gia đình và hạnh phúc. Trong con người ấy bây giờ cái gì cũng nhất:
“Giặc nào chú cũng thắng
Có thua thua ông trời”

Một con người đã đổ xương máu cho bốn cuộc chiến tranh, chắc là thế: Chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, giờ còn lại là gì sau hành động “tung huân chương đầy chiếu” ấy ?
“Thế rồi … biết vì đâu
Yên lành không chịu được
Vợ con chú đánh trước
Xóm giềng chú đánh sau”

Khắc họa hình ảnh người anh hùng, công thần ấy Trần Nhuận Minh còn muốn gửi gắm cho cõi người này một thông điệp về tội ác chiến tranh, nó không chỉ hủy hoại xương máu mà còn hủy hoại nhân cách của cả một lớp người. Chiến tranh đã tạo dựng ra những lớp người khát máu không chỉ phía bên kia mà còn cả phía bên này. Cuồng tín và bạo lực. Nhưng ở đây vẫn chỉ là của một người theo tôi là vô học. Còn những kẻ có học thì tệ nạn công thần, địa vị còn tàn sát và dày xéo đất nước này tan hoang và kiệt quệ đi rất nhiều. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Tầng lớp công thần địa vị có học khôn ngoan hơn nhiều, mưu kế hơn nhiều và cũng hiểm độc hơn nhiều.
Tôi đã đọc một bài báo của Trần Nhuận Minh bàn về cơ chế quản lý khoáng sản của đất nước. Vì theo ông các công ty khai thác khoáng sản bây giờ gần với ông nhất là khai thác than ở Quảng Ninh thực chất là công ty của một gia đình, một dòng họ. Lợi nhuận thu được là của gia đình và dòng họ, thế mà họ không phải bỏ ra một xu, một cắc nào để mua khoáng sản của đất nước ? Thế là nghĩa làm sao ? Hay phải chờ đến đấng “Mê Tơi” trả lời : “Như thế là như thế”.
Thím Hai Vui đã phải sống một cuộc đời nhiều mất mát đến nỗi bị chồng ly dị, nhưng cái đau đớn nhất là bị chồng cướp đi đứa con mà mình mang nặng đẻ đau, chắt chiu mồ hôi nước mắt để nuôi dạy nó khôn lớn thành người. Đó là nỗi đau lớn nhất của người mẹ. Chính vì thế:
“Thím hát như kẻ dại
Miệng mếu lại như cười”

Thím phải bỏ làng bỏ quê lên rửa bát cho các quán ăn trên tỉnh, nhưng có phải rửa bát thôi đâu mà còn trở thành người tình của các ông chủ, nên mới có cảnh:
“Những mặt phấn quần hoa”
Nhưng dù sao thì thím vẫn phải cố giữ lấy tiết hạnh của mình. Vì vậy khi gặp người quen thím đã phải:
“Thấy ai quen cũng lánh”
Nỗi đau của thím Hai Vui là nỗi đau đi trọn kiếp người.


“ÔNG HỦI”


Như tôi đã nói “Nhà thơ và hoa cỏ” là văn chiêu hồn của thời hiện đại. Ngoài khóc thương những kiếp người đang sống ông còn khóc thương những kiếp người đã chết. Bằng giọng thơ lục bát nhuần nhuyễn ta lại thấy một Nguyễn Du vĩ đại giàu nhân ái đang giang rộng vòng tay ôm trọn mọi kiếp người.
Tuy nhiên ngoài ý nghĩa nhân văn như ông đã viết:
“Lòng dân dù ở thời nào
Vẫn như mây nước thấm vào cỏ hoa”
Và nghĩa cử cao đẹp của ông:
“Câu thơ viết buổi thăm nhà
Đọc trong tâm tưởng gọi là viếng ông”
Thì đằng sau những ngôi mộ của ông Hủi không chỉ ở quê ông mà nó tồn tại khắp mọi cung đường của đất nước, trên cả những đỉnh đèo mây phủ còn lẩn khuất một điều mà có lẽ ông không muốn đề cập đến vì ông muốn dành riêng vào đây tất cả lòng nhân ái. Bài thơ còn gợi cho tôi một khía cạnh khác mà câu thơ đề tựa của ông ở đầu tập luôn nhắc nhở tôi một khía cạnh không tốt đẹp, đó là lòng ham muốn vô độ của con người. Chính vì thế mộ ông hủi đã bao lần san lấp và cũng chừng ấy lần mọc lên nguyên vẹn. Mỗi người đi đường qua đây đều ném vào đó một hòn đất, một hòn gạch, một nhành lá, một bông hoa và có khi là những nén hương thơm ngát. Rồi cứ lầm rầm khấn khứa: Xin được phù hộ cho tai qua nạn khỏi, cho buôn may bán đắt, cho phúc lộc dồi dào. Chỉ bỏ ra một hòn gạch, một cục đất mà ham muốn của con người lại vô độ. Chẳng hiểu những ông đống, ông hủi ấy có đủ lộc mà ban phát cho ham muốn của cõi người. Cảnh đến đền thờ bà Chúa Kho cũng thêm một minh chứng cho câu thơ “Trái đất quay trong hy vọng khôn cùng”. Bỏ lễ vật ra một đồng, một hào mà đi vay tiền tỷ để làm giàu. Theo tôi những ngôi mộ của ông đống, ông hủi đã được tạo dựng lên từ hai yếu tố đối nghịch – nhân ái và lòng tham vô độ của con người.


“BẠN CHƠI TỪ THUỞ QUÀNG KHĂN ĐỎ”


Khi viết về “Nhà thơ và hoa cỏ”, tôi coi nó là văn chiêu hồn của thời hiện đại. Trần Nhuận Minh khóc thương những kiếp người hiện hữu trong cõi người. Tôi chưa đọc và chưa đếm những hạng người trong bài thơ này. Đúng như tôi đã khẳng định, ở đây Trần Nhuận Minh đã khắc họa đúng 10 hạng người. Tất cả đã tụ họp về đây. Bài thơ kết dính những số phận của một thời – một thời tươi đẹp biết bao nhiêu. Thời của khăn quàng đỏ thắm chỉ bằng một bài thơ dài hai trang mà biết bao thân phận, bao trải nghiệm cuộc đời. Tất cả đã dồn tụ vào đây như một xã hội của một thế giới người. Bằng chất giọng của những câu hỏi xót xa, những câu hỏi ở đây và bao nhiêu bài khác nữa của Trần Nhuận Minh cứ xoáy sâu vào tim óc mỗi người, và rồi có ai tìm ra câu giải đáp nào đâu ! Những tâm hồn đẹp đẽ vậy mà thời gian, sóng gió cuộc đời đã làm đổi thay đi bao số phận. Mỗi số phận, Trần Nhuận Minh đã tóm gọn bằng một hoặc hai câu thơ. Đọc nó ta thấy được nguyên trạng một đời người. Cái tài năng nắm bắt thần thái cốt cách của đối tượng muốn miêu tả, muốn gửi gắm của Trần Nhuận Minh đã đạt đến độ thượng thừa. Nhân cách của một cai tù thời hiện đại được Trần Nhuận Minh tóm gọn trong một câu:
“Gặp nhau tay bắt lạnh như đồng tiền”
Đối với bạn thuở quàng khăn đỏ mà tâm hồn còn giá băng như thế còn đối với các tù nhân thì băng giá đến mức nào ? Đọc câu thơ đó gợi cho tôi một sự liên tưởng, ông cai tù thời hiện đại sao lại giống ông cai tù Đỗ Chu cách đây đã hai ngàn năm, kẻ đã thiến sử gia vĩ đại của nhân loại – Tư Mã Thiên đến thế. Những ông cai tù như thế làm sao có thể phục hồi nhân cách cho tù nhân để họ có thể hoàn lương. Xin đừng cho tôi lắm điều suy diễn vì những câu thơ của Trần Nhuận Minh cứ bắt tôi phải suy nghĩ, phải liên tưởng.
Trong thập loại chúng sinh đó có lẽ khổ nhất là người nghệ sĩ mà đại diện cho họ là anh đạo diễn văn công:
“Đứa làm đạo diễn văn công
Nỗi đau đời dấu vào trong tiếng cười”
Cái khổ nhất của đời người là không dám bộc lộ chính mình, không dám phơi trải gan ruột của mình ra với đời. Tất cả cứ nằm trong cái vỏ bọc mà mình không bao giờ muốn.
Vẫn còn đó một ông giáo già, đã là ông giáo chỉ biết dạy chữ, dạy nhân, dạy đức mà sao còn ham hố đi buôn nhà. Có lẽ vì ông quá nghèo khổ. Ông không biết đâu những gian manh lừa lọc trong đời này. Ngù ngờ như ông giáo đi buôn nhà phải ra tòa âu cũng là chuyện thường tình. Trần Nhuận Minh đặt nhiều lòng nhân ái cho hai hạng người này: Ông giáo và nghệ sĩ.
“Sự đời bác đến thế thì
Đã làm ông giáo còn đi buôn nhà
Sớm mai bác phải ra tòa
Khôn ngoan biết lấy chi mà đãi nhau”

Không hiểu sao tôi chỉ cầu mong ông giáo ấy có phải vào tù thì đừng rơi vào ông trưởng trại tù – bạn chơi từ thuở quàng khăn đỏ. Với một ông cai tù như thế vào đó chắc rằng ông sẽ bị thịt nát xương tan. Người bạn ấy sẵn sàng tỏ ra cái thế mạnh của mình kể cả đối với bạn bè. 


(Còn nữa)