Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2015

Truyền thuyết và mẩu chuyện xung quanh Đền Cao (8)





                                     Lễ hội đền cao


          Hàng năm, cứ vào các ngày 22, 23 và 24 tháng Giêng âm lịch, dân địa phương lại tổ chức lễ hội Đền Cao.
          Ngày 22, tất cả kiệu rước, nghi trang, cờ quạt, tán lọng...đều được sắp sửa ở Đến Cả (thờ hai bà Vương Thị Đào và Vương Thị Liễu), chuẩn bị chu đáo cho ngày 23 sẽ rước về Đền Cao (thờ ông anh cả Vương Đức Minh) và làm lễ dâng hương.
          Ngày 23, lễ hội bắt đầu bằng đám rước: dội múa rồng, múa lân đi trước. Đội gồm 20 thanh niên khỏe mạnh, mặc áo lậu đỏ, chít khăn đỏ, múa nhảy theo nhịp trống. Con rồng được làm bằng thứ vải có màu sắc rực rỡ, uốn lượn uyển chuyển vờn nhau với mấy người đeo mặt nạ cầm côn.
          Sau đoàn múa rồng là đoàn rước kiệu. Tất cả gồm 6 kiệu:
          -Kiệu thứ nhất rước các sắc phong của năm anh em họ Vương.
          -Kiệu thứ hai rước ngai và bài vị của ông thứ nhất Vương Đức Minh.
          -Kiệu thứ ba rước ngai và bài vị ông thư hai Vương Đức Xuân.
          -Kiệu thứ tư rước ngai và bài vị ông thư ba Vương Đức Hồng.
          -Kiệu thứ năm rước ngai và bài vị của hai bà Vương Thị Đào và Vương Thị Liễu.
          -Kiệu thứ sáu rước bài vị của Thành Hoàng làng.
          Đoàn rước kiệu có 58 người khiêng kiệu, 30 người đánh trống, gõ chiêng, che tán lọng. Họ đều được chọn từ những trai tráng khỏe mạnh và có đức độ của dân làng. Hô vận áo lậu mầu xanh, đỏ, tím, vàng, chít khăn đỏ và đi hài cỏ.
          Riêng kiệu của hai bà lại được để cho các cơ cánh người thập phương khiêng. Họ cũng ăn vận hóa trang giông như các quan văn tướng võ thời xưa. Đi bên cạnh các kiệu là các già làng vận lễ phục. Mỗi kiệu do một “ông Đám” đi trước chỉ huy.
          Chiêng trống tùng... bili...bộ bát âm đi bài “Lưu Thủy” làm không khí đám rước thêm rộn ràng trang nghiêm
          Đoàn rước kiệu xuất phát từ Đền Cả (nơi thờ hai bà Vương Thị Liễu và Vương Thị Đào), qua Đền Bến Cả (nơi thờ ông Vương Đức Minh), Đền Bến Tràng (nơi thờ ông Vương Đức Xuân), lên đến Đền Cao (nơi thờ ông Vương Đức Xuân) thì dừng lại.
          Tại đây, Ban tổ chức lễ hội tiến hành Lễ Dâng Hương. Ông trưởng Ban sẽ đọc tiểu sử và công lao của năm anh em họ Vương. Rồi các vị chức sắc trong hạt, trong làng, đại diện các cơ, cánh...lần lượt thắp hương tưởng niệm, nguyện cầu.
          Sau đó các bài vị, bát hương ở các kiệu được lần lượt rước vào đặt an vị trong Đền Cao để cho dân làng và khách thập phương đến làm lễ trong suốt những ngày hội.
          Ngày 24, các kiệu của ông Vương Đức Xuân, ông Vương Đức Hồng, hai bà Vương Thị Đào, Vương Thị Liễu Và kiệu của Thành Hoàng làng được rước trả lại nơi thờ cũ.
          Do Đền Cao có tiếng là linh thiêng nên khách thập phương đi trẩy hội và lễ đền rất đông làm không khí những ngày này náo nhiệt hẳn lên. Những năm gần đây Lễ hội Đền Cao đã trở thành một lễ hội lớn ở trong vùng.
 29/01/2015
Đỗ Đình Tuân

Dịch thơ Nguyễn Khuyến bài 83




Bài 83

Kỷ Sửu trùng dương 1
己丑重陽 ()
Kỷ Sửu trùng dương ( nhất)
風雨萧萧九月天
Phong vũ tiêu tiêu cửu nguyệt thiên
山河举目最堪憐
Sơn hà cử mục tối kham liên
小池綠漲乃如此
Tiểu trì lục trướng nãi như thử
去歲黄花殊不然
Khứ tuế hoàng hoa thù bất nhiên
柳葉垂青光透日
Liễu diệp thùy thanh quang thấu nhật
竹籬積翠暮浮烟
Trúc ly tích thúy mạc phù yên
近來不作豋高兴
Cận lai bất tác đăng cao hứng
醉卧寒窗抱甕眠
Túy ngọa hàn song bão úng miên
Tiết Trùng dương năm Kỷ Sửu (1889)

Trời tháng chín tiếng gió mưa dào dạt
Trông vời non sông nghĩ rất đáng thương
Trong ao nhỏ nước xanh dâng lên như vậy
Cảnh hoa vàng năm ngoái đã khác hẳn rồi
Chồi liễu rú lá xanh có ánh mặt trời xuyên qua
Giậu tre um mầu biếc làn khói chiều bao phủ
Gần đây không có hào hứng lên chơi núi (1)
Chỉ say nằm bên cửa sổ vắng ôm vò rượu mà ngủ (2)
  1. Lên núi: tục cổ người Trung Quốc cứ đến tết Trùng dương (9 tháng 9 âm lịch) thì đi chơi núi.
  2. Ôm vò rượu mà ngủ: Tất Trác đời Tấn làm Lại bộ lang, tính ham rượu, thấy hàng xóm nấu rượu, đêm đến sang uống trộm, say quá, nắm ngay bên vò rượu mà ngủ. Nhà bếp bắt được trói lại. Đến sáng chủ nhân mới biết, cởi trói cho Trác và lại cùng nhau ngồi uống ngay bên vò rượu.
Đỗ Đình Tuân dịch thơ:

Tháng chín dạt dào mưa gió bay
Trông vời non nước đáng thương thay
Nước xanh ao nhỏ dâng lên vậy
Năm ngoái hoa vàng đổi khác vay
Chồi liễu lá xanh trời chiếu nắng
Giậu tre mầu biếc khói chiều vây
Gần đây không hứng trèo chơi núi
Chỉ thích ôm vò rượu ngủ say.
3/12/2014
Đỗ Đình Tuân

AI NGỜ !...



Thơ tình có lắm chữ “Em”
Cho nên vợ đã nổi ghen lạ lùng :
Gió mưa, sấm chớp đùng đùng
Tuyên bố “ bỏ chồng “ – Thật tội nhà thơ .

Nhà thơ bỗng hóa bơ vơ (tự do?)
Thơ tình
Thơ tiếc
Ai ngờ...
Hay hơn !

Phố Quê 1/2015
THANH DẠ

DỞ DANG

Dọn dẹp mãi mà không hết

Trăm mối tơ lòng ngổn ngang

Giống như người xây trong mộng

Hẳn là còn mãi dở dang.


                            Nguyễn Xuân Hiểu

Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

Dịch thơ Nguyễn Khuyến bài 82







Bài 82
Ức gia nhi
憶家兒
Ức gia nhi
東窗雨後覺微寒
Đông song vũ hậu giác vi hàn
縱飲狂歌興未闌
Túng ẩm cuồng ca hững vị lan
法密不聞蛙鼓禁
Pháp mật bất văn oa cổ cấm
賦煩猶幸醉鄉寬
Phú phiền do hạnhtúy hương khoan
古今風會知胡底
Cổ kim phong hội tri hồ để
王伯功名若等閒
Vương bá công danh nhược đẳng nhàn
屈指吾兒上京路
Khuất chỉ ngô nhi thượng kinh lộ
今朝當是過橫山
Kim triêu đương sự quá hoành san
Nhớ con
Mưa ngớt ngồi cửa sổ phía đồng thấy lành lạnh
Uống bừa ngâm tràn hứng thú vẫn chưa cạn
Pháp luật tuy nghiêm mật vẫn chưa nghe nói cấm trống ếch (1)
Thuế tuy nhiều thứ may còn khoan hoãn cho làng say
Xưa nay phong hội thay đổi mãi biết đến đâu là cùng ?
Công danh dù làm đến bậc vương bá cũng chỉ là việc thường
Bẫm đốt tính đường con ta vào kinh
Sáng nay có lẽ đã qua đèo ngang rồi (2)
1.Trống ếch: tiếng ếch kêu không phải là tiếng trống “cà rùng” sau này.
2. Đèo Ngang : tức Hoành Sơn, giáp giới hai tỉnh Hà Tĩnh với Quảng Bình.
Đỗ Đình Tuân dịch thơ:
Cửa đông mưa ngớt lạnh se người
Ngâm phóng uống tràn hứng chửa vơi
Luật pháp vẫn chưa cấm trống ếch
Thuế tô còn hoãn thú say lười
Xưa nay phong hội luôn thay đổi
Vương bá công danh chỉ có thời
Bấm đốt tính đường con trảy Huế
Đèo ngang chắc đến sớm nay rồi .
3/12/2014
Đỗ Đình Tuân

Truyền thuyết và mẩu chuyện xung quanh Đền Cao (7)



                                Chuyện của một vị thủ nhang
 

          Theo tục lệ thì những người thủ nhang ở Đền Cao, nếu trong nội tộc có tang, đều phải tạm dời khỏi đền, về nhà chịu tang trong ba năm. Dân làng phải tìm vị thủ nhang khác để thay thế.
          Bấy giờ ông Dương Văn Diệm đang làm thủ nhang thì bà mẹ ông mất. Đúng ra theo lệ thì ông phải nghỉ ở nhà chịu tang mẹ đủ ba năm. Nhưng vì người thay thế ông công việc không quen, lại yếu đuối nên công việc sớm hôm hầu hạ Đức Ngài không được chu đáo. Thấy vậy ông Diệm rất áy náy trong tâm và suy nghĩ rất nhiều. Cuối cùng ông cứ mạnh dạn “phá lệ” xin làng cho được trở lại làm thủ nhang. Nhiều vị cao niên và chức sắc trong xã tỏ vẻ rất e ngại vì sợ rằng “phá lệ” như thế nhỡ bị các ngài quở phạt thì thật tội nghiệp.
          Riêng ông Diệm vẫn nghĩ rằng chẳng lẽ cứ phải bỏ việc “hầu hạ” các ngài về nhà “chịu tang” mới là có hiếu và ngược lại thì không? Ông thấy lý lẽ này không ổn lắm. Nhất là thấy khói hương trên đền tàn lạnh tình cảm ông bị cắn dứt nên ông cứ đánh liều “phá lệ” xem sao.
          Ông tắm gội sạch sẽ, ăn chay, tu luyện cho mình thật thanh thản , tĩnh tâm, rồi sửa lễ lên Đền kêu khấn:
          - Con một lòng thành cung phụng trước cửa Đức Ngài. Con vô cùng khắc khoải buồn rầu khi thấy cảnh Đền hương tàn khói lạnh, vắng vẻ quạnh hiu. Con xin tình nguyện trở lại hầu hạ cửa ngài - Nếu có bị quở phạt con xin chết trước cửa Ngài để tỏ lòng mình.
          Từ đó ông lại làm thủ nhang. Mọi người vẫn nghe ngóng chờ đợi nhưng không thấy Đức Ngài quở phạt. Có lẽ lòng thành của ông Diệm đã động đến cửa Ngài chăng? Riêng ông Diệm thì rất tin như thế. Ông vẫn thường nói với mọi người rằng “Cứ phải có lòng thành thì mới động đến Đức Ngài được”.
28/01/2015
Đỗ Đình Tuân 

TRƯỚC và SAU

TRƯỚC SAU DẪU CÓ THẾ NÀO . XIN ANH CŨNG CỨ TIN VÀO MÌNH EM !

XƯỚNG HỌA CÙNG BẠN BÈ BLOG

BUỔI TÀN ĐÔNG 

 (Bài Xướng)


 
Trắng đục ngàn sương ngọn gió bồng

Xa trông chiều quạnh buổi tàn đông

Tiết thời thoáng đã đùa mây bạc

Ngày tháng chừng đang kết nụ hồng

Đã biết cành trơ chờ nẩy lộc

Mới hay mai lạnh để thơm bông

Bên trời lãng đãng tình hoa cỏ

Thì đấy, hương xuân giữa vạn lòng.!
                           Louisiana, 12.01.2015,

                            MẶC PHƯƠNG TỬ

CẠN ĐÔNG
(Bài họa)
Lạnh giăng mây xám nổi lồng bồng

Ngày ruổi rong ngày cũng cạn đông

Lóe tóe phương mai ngời ánh bạc

Lơ thơ phía núi ửng tia hồng

Thầm trong rạo rực trời ươm nụ

Lặng giữa miên man đất trổ bông

Đĩnh đạc xuân về người đón hội

Nghe đời mở cửa phút giao lòng !
               
                                              Lý Đức Quỳnh_ĐN-24/1/2015
BUỒN TÀN ĐÔNG
( Họa nguyên vận 2 bài thơ : BUỔI TÀN ĐÔNG và CẠN ĐÔNG
 của các bạn Mặc Phương Tử và Lý Đức Quỳnh)
Từng cơn gió lạnh vẫn phiêu bồng

Xám ngắt hoàng hôn buổi tận đông

Chẳng thấy trời cao mây dát bạc

Mong chi hạ giới nắng tươi hồng
Lô xô núi trọc quang cây lá
Lởm khởm gò hoang vắng nụ bông
Non nước mùa tàn cô quạnh quá
Tìm đâu hơi ấm chút xuân lòng?!

28-01-2015

Song Thu

 
Ruông ải mênh mông nước đổ về
Niềm vui rộn rã cả miền quê
Người lồng tiếng máy nghe xao động
Kẻ hát say hồng khắp mé đê
Dưới lũy tre làng con sáo hót
Trong hồ thủy mạc lá sen che
Trên đường dạo gót mơ mười tấn
Lúa chin vàng đồng thật thỏa thuê 
                                       VN

Thứ Ba, ngày 27 tháng 1 năm 2015

Truyền thuyết và mẩu chuyện quanh Đền Cao







                                    Thánh cũng công tâm
          Tin đồn Đức Thánh Đền Cao rất thiêng đã lan truyền đi khắp vùng. Ai bị mất trộm, hay bị vu oan sửa lễ lên đền kêu cầu thì thế nào cũng được thánh độ. Một lần có một anh nọ công tác ở Sở Điện lực tỉnh H.., cũng sắm lễ vật, phóng xe máy lên Đền Cao kêu cầu. Anh trình bày với ông thủ từ rằng:

          -Thưa ông, ngày mồng 8 tháng 4 này, tòa án mở phiên xét xử cháu. Cháu nhờ ông kêu giúp cho được tai qua nạn khỏi, mọi điều đều vô sự, công ăn việc làm đều đặn, xin đa tạ công ơn.

          Vị thủ từ đã trả lời rằng:

          -Tôi hầu hạ Đức Ngài đã mấy chục năm nay, tôi biết ngài rất thiêng nhưng cũng rất công tâm. Nếu quả anh có oan trái trong vụ án này thì tôi kêu giúp cho được giải oan, còn nếu anh có tội thì dù tôi có kêu giúp, Đức ngài cũng chẳng cho đâu!
            Nghe nói anh ta ra tòa và vẫn phải nhận hình phạt của pháp luật. 

27/01/2015
Đỗ Đình Tuân