Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Năm, ngày 26 tháng 3 năm 2015

NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC

Ngày 26.3.1975
(trích Hành trình đến dinh ĐL)
"Buổi sáng ở biển đến thật sớm, mới hơn 5 giờ đã thấy những tia nắng bình minh nhuộm đỏ chân trời đằng đông. Hình như chỉ đợi có thế những dòng người từ bên kia bờ lại lũ lượt kéo về. Khác hẳn tối hôm qua. Hôm nay đoàn người di tản trở về thành phố có đủ nam, phụ, lão, ấu, ai cũng tay xách nách mang. Xe 380 án ngữ ngay đầu bến phà, ngồi trong xe nhìn ra Trang nói nhỏ với cả xe:
- Hình như dân thành Huế kéo nhau ra đây hết thì phải? Thảo nào hôm qua mình đến Huế thấy vắng như chùa Bà Đanh ấy.
- Thì dân người ta cũng sợ chứ, hai bên đánh nhau thế nào chả có “tên rơi, đạn lạc”, chẳng biết thế nào cứ tránh đi là hơn- Luông có vẻ hiểu biết.
- Có lẽ người ta sợ như hồi Mậu Thân ấy, hồi ấy mình đánh vào rồi thì bọn Mỹ ném bom. Lúc mình rút ra nó quay lại giết hết những người ở lại với giải phóng nên dân chết nhiều lắm- Trang đồng tình, cậu cũng đã tìm hiểu được nhiều tư liệu về Huế trong những năm nằm ở A- Lưới.
Thọ đột ngột chuyển đề tài:
- Cứ bảo con gái Huế đẹp nhưng từ hôm qua đến nay tớ chả gặp “em” nào đẹp cả.
- Tớ cũng thấy thế, cứ nghe đồn đại mãi mà có phải thế đâu?- Trực cũng góp chuyện.
- Bỏ nhà, bỏ cửa chạy ra đây nằm vạ nằm vật, nhịn đói nhịn khát mấy ngày thì tiên cũng thành cú vọ, còn đòi ai đẹp được- Trang gắt.
Quả thật, những dòng người đang diễu qua trước mắt họ trông mới đáng thương làm sao, ai cũng tiều tuỵ, mệt mỏi như không còn sức sống. Anh em họ cũng muốn ra tay giúp đỡ họ nhưng biết là không xuể vì dân thì quá đông mà họ chỉ có một dúm người, lại còn lúc nào cũng phải cảnh giác sẵn sàng chiến đấu nữa chứ. Trang lại nhớ đến người thiếu phụ đêm qua, mặc dù còn trẻ nhưng cậu hiểu những gì mà những con người này đã trải qua trong mấy ngày vừa rồi.

Thấy dòng người chủ yếu là dân thường Thận ra lệnh cho số lái xe đi thống kê sơ bộ các loại phương tiện mà địch đã bỏ lại đây, chủ yếu là tăng thiết giáp. Sau một hồi đếm đi đếm lại rồi leo vào tận nơi kiểm tra cả bọn kéo về xe 386, Hoả thay mặt bốn anh em báo cáo:
- Báo cáo “đại trưởng”! Tổng số có hơn 60 xe tăng thiết giáp, đủ cả M48, M113, cao xạ tự hành và xe công trình. Còn lại ô tô, xe kéo pháo thì nhiều lắm, đếm không xuể.
Trang còn chui vào xe nhặt về một lô quân kỳ của nguỵ. Những lá quân kỳ của lính thiết giáp ngụy thêu khá cầu kỳ với những hình thù rất dữ tợn, cậu vứt thành đống dưới băng xích xe:
- Cả một thiết đoàn nguyên vẹn đấy, nó mà “chơi” thì đại đội mình “toi” hết chứ còn gì!
- Đúng thế!- Thận xác nhận- Lúc mới đến đây tớ cũng nghĩ y như cậu, thế cho nên gom được ít nào phải cho về phía sau ngay, để chúng tập trung ở đây thấy có ba chục “mống” chúng mà hăng lên đánh lại thì “toi” cả nút thật".

Còn về chuyện ngày GP Huế là 25.3 hay 26.3 cũng đã được nhắc đến ở nhiều chỗ rồi. Nếu cứ lý luận phải "hoàn toàn giải phóng" thì cho đến giờ miền Nam vưỡn chưa GP đâu. Lý do ư: vưỡn còn Hoàng Sa đấy, bị TQ chiếm từ 1974 cơ mà. Về nguyên nhân thì cơ bản như bác Tai Le đã com ở stt trước. Thực ra lúc đầu là người ta định ưu ái Trung đoàn 6- đoàn Phú Xuân, đứa con dứt ruột của TTH nên đã may cờ lớn (8x12met) trao cho nó để về cắm cờ. Song nó là đơn vị đánh chác kém nhất, khi khắp cả Bắc, Đông, Nam, Tây Nam Huế đã động binh rồi thì nó vẫn nằm án binh bất động, kiểu "tọa sơn quan hổ đấu ấy mà". Vì vậy, khi các đơn vị đã vào Huế rồi còn đuổi địch ra cả Thuận An từ 25.3 thì sáng hôm sau e6 mới mò về và kéo cờ lên kỳ đài. Thế là người ta lấy ngày đó làm ngày GP Huế.
Thấy vô lý vậy nhiều người lên tiếng, trong đó có một GS ở ĐH Huế. Ông ấy tổng hợp từ Lịch sử đảng bộ các huyện trong tỉnh thấy huyện nào cũng GP vào 25.3 và đặt câu hỏi: "Tại sao tất cả các huyện trong tỉnh đã GP vào 25.3 mà tỉnh lại GP vào 26.3?". Bài này cũng đã được TC LSQS đăng song không ai trả lời câu hỏi ấy cả. Và lời mời dự HT của Viện LSQS với miềng cũng rơi tõm vào hư vô.
Sau này miềng có dịp gặp gỡ với một số vị tướng đã từng CĐ ở TTH và đặt câu hỏi thì các bác ấy nói thế này: "Năm 75 ông TQ Thanh là trung đoàn trưởng của Trung đoàn 6, khi vấn đề xem lại ngày GP Huế được đặt ra thì ổng đang là 2/// TL quân khu 4. Vì vậy khi Viện LSQS nêu vấn đề tổ chức hội thảo ổng đã bằng mọi cách gạt đi". Nhưng lạ một điều là ổng đã "đi" lâu rồi mà người ta không tiếp tục làm rõ. Hay là "đã hóa bùn" rùi?


Bãi CLP ở Thuận An đây (chú thích trong ảnh 4.75 là sai):

Dịch thơ Nguyễn Khuyến bài 116

                                                                    Nguyễn Hữu Độ

Bài 116
聞宋郡公訃有感
Văn Tống Quận Công phó hũu cảm
器業誰如宋郡公
Khí nghiệp thùy như Tống quận công
衣冠此去更成空
Y quan thử khứ cánh thành không
伊周管葛千秋後
Doãn Chu Quản Cát thiên thu hậu
漢楚随唐一夢中
Hán Sở Tùy Đường nhất mộng trung
若使九京皆可作
Nhược sử cửu kinh giai khả tác
未知當世孰為雄
Vị tri đương thế thục vi hùng
可憐世態炎凉甚
Khả liên thế thái viêm lương thậm
枯竹祠前幾鞠躬
Khô trúc từ tiền kỷ cúc cung
Nghe tin cáo phó của Tống Quận Công cảm tác (1)

Tài năng sự nghiệp ai bằng Tống Quận Công
Áo mũ chuyến này thôi thế là hết chuyện
Ai là Y-Chu-Quản-Cát còn có ngàn thu sau (2)
Kìa Hán-Sở-Tùy-Đường cũng thoáng qua như giấc mộng
Nếu người chín suối đều có thể sống lại (3)
Thì chưa biết trong buổi này ai đã hơn ai !
Đáng thương thói đời nóng lạnh thay đổi chóng
Trước đền “tre khô” nay còn mấy kẻ khom lưng nữa (4)
1.     Tống Quận Công: Tức Nguyễn Hữu Độ, người làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, đỗ cử nhân khoa Đinh Mão (1867) đời Tự Đức. Làm quan đến chức Khâm sai Bắc Kỳ kinh lược đại sứ sung phụ chính đại thần, một tay sai đắc lực của thực dân Pháp hồi mới xâm lược nước ta.
2.     Y, Chu, Quản, Cát:  Y Doãn tướng nhà Thương; Chu Công tướng nhà Chu; Quản Trọng tướng nước Tề đời Xuân Thu; Gia Cát Lượng tướng nước Thục đời Tam Quốc, đều là nhưng người có công nghiệp lớn.
3.     Chín suối: mộ địa của quý tộc đời Tấn, chỉ cõi âm
4.     đền Tre Khô: (Khô trúc từ); Khấu Chuẩn, tướng nước Tống chết ở Lôi Châu đem về táng ở Tây ninh khê, quan tài qua huyện Công an, dân trong huyện ra dọc đường tế ông, cắm cành tre xuống đất để treo tiền giấy. Sau hơn một tháng tre ấy đã khô lại mọc măng non. Dân chúng nhân đó lập miếu thờ ông, gọi là đền Tre Khô. Ở đây tác giả chỉ mượn chữ để nêu lên cảnh lạnh lẽo sau khi Nguyễn Hữu Độ chết.
Đỗ Đình Tuân dịch thơ:

Ai so bằng Tống Quận Công
Chuyến này áo mũ cũng xong chuyện rồi
Y-Chu-Quản-Cát nghìn đời
Tùy-Đường-Hán-Sở một thời qua nhanh
Nếu người xưa được tái sinh
Thì chưa biết được ai giành phần hơn ?
Thói đời nóng lạnh thất thường
“Tre khô” trước miếu ai còn khom lưng ?
17/12/2014
Đỗ Đình Tuân

Thơ cũ đăng lại (1)




Những bức thư

Ngày xưa học cùng lớp
Thân nhau như chị em
Gia đình chuyển về Nam
Bạn cũng vào trong ấy

Thời gian cứ trôi đi
Tình thân còn giữ mãi
Đã sáu bẩy năm rồi
Thư từ thường qua lại

Chẳng được sống gần nhau
Để kề vai bá cổ
Chỉ đọc quan dòng chữ
Gần nhau đôi phút giây

Chồng thư cứ thêm dầy
Xếp cao trong góc tủ
Chất đầy thêm nỗi nhớ
Đầy thêm lòng yêu thương.
                                     
   1982
Đăng lại 
26/03/2015
Đỗ Đình Tuân 

CUNG ĐÀN

 
Cung đàn dạo mãi khúc ca mơ
Chất ngất lòng ai nỗi đơi chờ
Giữa dạ say sưa cùng giấc mộng
Trong lòng nặng trĩu vạn sầu ngơ
Buồn têng tập tễnh nơi khuya vắng
Ảm đạm mơ hoài ngó sấu rơi
Biết ngỏ cùng ai cho hiểu thấu
Con đường vọng nẻo mãi xa vời.
                                            VN

BẠN THƠ TỚI THĂM NHÀ

Sáng ngày 26-3-2015, ông Vũ Trung Khu, nguyên cán bộ CA phòng cháy chữa cháy TP Hải Phòng, hiện đã về hưu và là người có nhiều sáng tác thơ văn (có thể nói) được bạn bè, những người yêu văn thơ nể phục đã bất ngờ đến tệ xá của Tạ Anh Ngôi. Thật là "đồng thanh tương ứng..."chúng tôi đã trò chuyện gần hêt buổi sáng mà vẫn chưa hết chuyện "trên giời dưới biển". Dưới đây là một số hình ảnh của 2 chúng tôi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc:
                                                               
Nhân Hưng, ngày 26-3-2015
Photo & Giới thiệu:Tạ Anh Ngôi

Thứ Tư, ngày 25 tháng 3 năm 2015

Dịch thơ Nguyễn Khuyến bài 114



Bài 114
Thị tử Hoan
示子懽
Thị tử Hoan
未有官時欲做官
Vị hữu quan thời dục tố quan
有官始覺做官難
Hữu quan thủy giác tố quan nan
宦濤衹以輕心掉
Hoạn đào chỉ dĩ  khinh tâm trạo
利局何能冷眼看
Lợi cục hà năng lãnh nhỡn khan
浪注金銀囊以罄
Lãng chú kim ngân nang dĩ khánh
不知何賭局將殘
Bất tri hà đổ cục tương tàn
吾兒自信聰明在
Ngô nhi tự tín thông minh tại
曾否吾言揭坐端
Tàng phủ ngô ngôn yết tọa đoan
Dặn con là Hoan

Chưa được làm quan thì muốn làm quan
Được làm quan rồi mới biết làm quan là khó
Bể hoạn sóng gió chỉ nên chèo với tấm lòng coi nhẹ
Thấy cuộc lợi sao cho có được con mắt lạnh lung
Dốc bưađ tiền bạc ra túi đã rỗng tuyêch
Không biết rắng canh tổ tôm đã sắp tàn
Con vẫn tự phụ là thông minh đấy
Đã viết lời ta mà dán lên chỗ ngồi chưa?
Đỗ Đình Tuân dịch thơ:

Lúc chửa làm quan muốn có quan
Làm quan mới biết cũng gian nan
Chèo qua bể hoạn lòng coi nhẹ
Cuộc lợi nhìn vô dạ chẳng màng
Chớ rót bừa tiền cho nhẵn túi
Biết đâu canh bạc đã đang tàn
Thông minh con vẫn tin con vậy
Đã viết lời cha dán trước bàn ?
16/12/2014
Đỗ Đình Tuân

SƯƠNG MAI


Sương mai trên đóa hoa Mai
Trong veo như khóe mắt ai nhìn mình
Hẹn cùng đợi ánh bình minh

Cho trời thêm ấm, cho tình lên hương !..
.

Phố Quê 17/3/2015 - T.D.N

ĐỢI ĐÒ



 

Chiều vàng đứng đợi ở bên sông
Vọng nhịp đàn xưa đến cõi lòng
Xóm cũ bao năm rồi cách biệt
Quê nhà mấy độ đã trông mong
Con đò lặng lẽ bao thương nhớ
Bến nước lao xao tiếng gió nồng
Vạn dặm mênh mang ai khắc khoải
Nhìn đò lặng lẽ mãi chiền sông.

                               VN

NGÀY NÀY 40 NĂM TRƯỚC- 7

NGÀY 25.3.1975

Cuộc dò gỡ mìn kéo dài đến quá nửa đêm 24.3. Ngay sau khi thông đường chúng tôi được lệnh chở theo bộ binh đi đánh La sơn. Tiểu khu La sơn nằm trên quốc lộ 1 và chỉ cách Huế hơn 20 km. Thực ra lúc đó chúng tôi không nắm được lực lượng địch ở đó như thế nào nên tiến rất thận trọng. Trời tang tảng sáng đại đội tôi đã đến sát La- sơn; một không khí vắng lặng hiện ra trước kính quan sát của chúng tôi: dường như không có một bóng người ở đó, những cái lô- cốt cũng im phăng phắc. Đoán là địch đã bỏ chạy chúng tôi ào lên chiếm La sơn. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không quên cái cảm giác khó tả của mình khi nhìn thấy con đường nhựa láng bóng, thẳng tắp hiện ra trước mắt mình. Cứ như là một giấc mơ!

Nghỉ một lát ăn vội miếng lương khô xong chúng tôi thẳng tiến theo quốc lộ 1 về phía Huế. Huế đã gần lắm rồi! Nhưng những con chiến mã đang say máu của chúng tôi bỗng bị khựng lại- cầu An Nông (cấu Nong) đã bị địch phá khi rút chạy trước đó chưa lâu- một vài thanh gỗ mặt cầu còn đang nghi ngút khói. Con sông này không lớn nhưng rất sâu buộc chúng tôi phải tìm đường vòng tránh mãi đến trưa mới quay trở lại được đường 1.


Tăng tốc độ chúng tôi bù lại thời gian đã mất. Dọc đường đã thấy ngổn ngang súng ống, quần áo rằn ri, có cả một cái xe tăng M48 đang nổ máy ình ình ngay cổng sân bay Phú bài. Thêm ít phút những căn nhà lúp xúp ngoại ô phía Nam thành Huế đã hiện ra trong kính ngắm; vẫn một không khí vắng lặng, bí ẩn bao trùm. Chúng tôi tiếp tục vượt cầu Phú Xuân vào chiếm thành Mang Cá. Đến đây chúng tôi mới biết cờ Giải phóng đã được treo trên Cột cờ bên Thành Nội từ trưa. Thật tiếc, nếu cầu An Nông không bị địch phá chúng tôi đã giải phóng Huế sớm được mấy tiếng đồng hồ. Ôi Cố đô! Thành phố mà chúng tôi đã nghe tên từ thời còn cắp sách tới trường; thành phố mà suốt gần 3 năm qua chúng tôi từng ngày, từng giờ mong ngày hội ngộ! Giờ đây tôi và đồng đội tôi đã thoả niềm mong; một cảm giác lâng lâng vui sướng, tự hào lan toả trong tôi.


Nằm ở thành Mang Cá chừng non một tiếng chúng tôi được lệnh đi diễu quanh một số đường phố. Tôi đoán chắc cấp trên muốn biểu dương sức mạnh của Quân giải phóng nhằm làm yên lòng đồng bào và trấn áp những tên địch còn sót lại. Lần đầu tiên được thấy xe tăng Quân giải phóng đồng bào phấn khởi lắm- nhất là giới thanh niên, học sinh- xe đang chạy mà họ cứ sán vào vẫy cờ, vẫy tay; lúc xe dừng trước cửa Chợ Đông ba có một thanh niên dúi vào tay tôi một tập sách, liếc nhìn qua thấy toàn là chuyện "chưởng" tôi lắc đầu không nhận. Đến 3 giờ chiều chúng tôi nhận lệnh truy kích địch ra cửa Thuận an.


Lực lượng tham gia truy kích địch ra cửa Thuận an gồm "xê 4" xe tăng của chúng tôi và một "xê" bộ binh. Nói là vậy nhưng thực ra chỉ có khoảng 20 tay súng lên ngồi sau xe tăng của chúng tôi. Qua cầu Tràng tiền chúng tôi hướng về phía Thuận an tăng tốc độ. Những làng quê ven đô đã lác đác có cờ giải phóng nên chúng tôi khá yên tâm. Nhưng càng đi thì đường càng vắng vẻ; chỉ thấy ven đường rải rác quần áo, súng ống của quân VNCH trút lại. Gần đến Thuận an- một quang cảnh hỗn độn hiện ra trước mắt chúng tôi- cả một bãi đất rộng như một cái sân bóng đá chất đầy các loại phương tiện chiến tranh: từ xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo, cho đến xe tải, xe JEP, xe du lịch, xe Hon- đa..., có cái vẫn còn đang nổ máy ình ình nhưng tuyệt nhiên không có một bóng người.


Do không có phương tiện vượt sông chúng tôi dừng lại ngay đầu bến phà Thuận an và triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu. Thực ra, với 4 chiếc xe tăng và 20 tay súng bộ binh- lực lượng chúng tôi quá là mỏng yếu nếu so với lực lượng địch đang tập trung cao độ ở quanh đó nên chúng tôi hết sức cảnh giác. Sau khi ổn định đội hình xe 386 hướng pháo ra phía biển bắn 1 phát pháo và 1 tràng đại liên 12 ly 7. Trong chạng vạng hoàng hôn đang tĩnh lặng đến nghẹt thở, tiếng nổ của pháo 100 như trầm vang hơn; còn tràng đạn 12 ly 7 nghe cũng chát chúa hơn. Nhưng tất cả vẫn yên lặng như tờ!.


Biết rằng lính địch vẫn đang ẩn nấp đâu đây, đại đội trưởng Thận cuộn một miếng bìa làm loa gọi họ ra hàng. Sau ba bốn lần gọi lác đác những bóng người từ phía bờ sông đi lên, hai tay giơ cao lên đầu. Một người, hai người... rồi hàng đoàn lũ lượt từ nơi trú ẩn kéo ra, hầu hết đều cởi trần, chân đất; có người còn kéo theo cả bầu doàn thê tử, nhếch nhác và rệu rã đến tột cùng. Lúc đầu chúng tôi còn đếm, còn bắt tập trung thành từng nhóm rồi cho xe chở về Huế; sau đông quá nên chỉ biết phát cho mỗi người một dải băng trắng, bảo họ buộc lên cánh tay trái rồi cứ về quê đợi hôm sau ra trình diện với cách mạng. Chúng tôi không nhớ được hôm ấy đã tiếp nhận bao nhiêu người lính VNCH ra hàng mà chỉ biết là nhiều, nhiều lắm. Đến khoảng 9 giờ đêm lính chỉ còn lác đác, còn đại bộ phận là dân Huế bắt đầu cuộc "di tản ngược" về thành phố.


Từ đó trở đi, tôi luôn đinh ninh là tỉnh Thừa Thiên Huế được giải phóng vào ngày 25.3. Không chỉ tôi mà nhiều CCB các đơn vị khác như 324, 325... cũng nghĩ vậy. Đến năm 2000 đi công tác qua đó dịp tháng 3 tôi hết sức ngỡ ngàng khi thấy họ trương biển kỷ niệm ngày GP vào 26.3. Về nhà viết thư gửi báo QĐND, Viện LSQS..., một bác ở Viện LSQS còn gọi điện xuống: "không chỉ một mình đc có ý kiến vậy, có rất nhiều người đã có ý kiến như thế. Sắp tới đây chúng tôi sẽ tổ chức hội thảo. Rất mong đc đến dự". Thế rồi mọi chuyện vẫn y nguyên từ đó đến giờ. Nhưng nói gì thì nói, với tôi ngày 25.3 đã trở thành một ngày vô cùng đáng nhớ trong cuộc đời.




NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG BINH VIỆT NAM

             Hôm nay là ngày truyền thống của Binh chủng Công binh Việt Nam. Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34-SL về việc thành lập Công chính Giao thông Cục thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam.
           Công binh là binh chủng chuyên môn kỹ thuật của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thuộc Quân chủng Lục quân Bộ Quốc phòng Việt Nam, có chức năng bảo đảm các công trình trong tác chiến, xây dựng các công trình quốc phòng và đảm bảo cầu đường cho bộ đội vận động tác chiến. 
         Sau khi ra đời, bộ đội công binh (BĐCB) phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, gian khổ, thực hiện từ nhiệm vụ đánh phá giao thông, đánh công đồn đến các nhiệm vụ làm đường, bắc cầu, xây dựng sân bay, bến cảng, xây dựng các công trình phòng thủ... 
        Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quy mô lực lượng Công binh mới ở cấp đại đội, tiểu đoàn; toàn quân mới chỉ có một trung đoàn Công binh chủ lực với trang bị thô sơ, nhưng đã tham gia hầu hết các chiến dịch lớn của quân đội, như: Biên giới, Hoà Bình, Thượng Lào và đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ. 
          Trong kháng chiến chống Mỹ, lực lượng Công binh phát triển không ngừng, ngoài các đơn vị cầu, đường chuyên trách, BĐCB còn được biên chế ở hầu hết các đơn vị trong toàn quân. Đặc biệt, lực lượng Công binh nhân dân, Công binh địa phương đã phát triển rộng khắp, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo đảm chiến đấu và chiến đấu ở địa phương. Cùng với phát triển lực lượng, các đơn vị Công binh được trang bị nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại, có sức cơ động cao và khả năng hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng: từ các hình thức bảo đảm chiến đấu cho từng trận đánh, tiến đến bảo đảm công binh trong các phương thức tác chiến hiện đại, hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn và lập được nhiều thành tích xuất sắc, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc. 

            Ngày truyền thống Binh chủng Công binh nhắc nhở chị em Tô Hà, Minh Hương, Vân Anh về người cha kính yêu đã dành trọn đời quân ngũ của mình cho bộ đội Công binh. Các con gái của người đã trở thành hội viên Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh với niềm tự hào là con gái của một chiến sỹ Công binh Việt Nam.