Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 8 năm 2016

VÔ ĐỀ


Khoác trang phục Hoàng Hậu
Chễm chệ ngồi ngai vàng
Cứ ngỡ mình oai lắm
Đâu dè hình nộm rơm?!

 
          27-8-2016
          Song Thu

KIM VÂN KIỀU LƯỢC TRUYỆN


 Kết quả hình ảnh cho Hinh  ảnh,tranh vẽ về Kim Vân Kiều

Kể từ Kiều gặp chàng Kim
Những mong phận cải duyên kim có ngày
Nào ngờ vạ gió tai bay
Bán mình Kiều phải ra tay một lần
Trước là báo hiếu song thân
Sau vì thương xót Thúy Vân em Kiều…

Đường xa thân liễu đìu hiu
Gập ghềnh vó ngựa ráng chiều phôi phai
Buồn trông phong cảnh xứ người
Cánh chim vô định biết rồi ra sao
Mơ màng trong giấc chiêm bao
Đạm Tiên người cũ lẻn vào trướng loan
Nàng răng:”Nghiệp chướng trời ban
Má hồng rồi sẽ gian nan những ngày
Mười lăm năm kiếp đọa đày
Tiền Đường gặp gỡ nước mây trùng phùng…”
Giật mình lo sợ vô cùng
Nghe như sấm sét đùng đùng bên tai
Giám Sinh trực sẵn hiên ngoài
Động đào quyết mở then cài một phen
Phẩm tiên gặp phải tay hèn
Uổng bao gìn giữ thề nguyền những khi
Đêm dài trên đất Lâm Truy
Kiều như cành liễu còn gì nữa xuân?
Nổi nênh một kiếp phù vân
Phong trần lại tiếp phong trần từ đây
Sở Khanh hứa quyết ra tay
Cứu Kiều thoát kiếp đọa đầy lầu xanh
Hay đâu cạm bẫy rấp ranh
Tú Bà với gã Sở Khanh một loài
Mấy phen tan ngọc nát ngài
Kiều đành nhắm mắt an bài làm theo
Tháng ngày ong bướm dập dìu
Hẹn hò kẻ trước, yêu chiều người sau…

Thời gian cửa sổ bóng câu
Dập vùi thân liễu nát nhàu kiếp hoa
Thương thay số phận đàn bà
“Sống làm vợ khắp người ta ở đời”
May sao Kiều gặp một người
Hào hoa phong nhã vẻ thời thư sinh
Yêu bởi sắc, đắm bởi tình
Chuộc Kiều làm lẽ tư dinh rước về
Thúc Sinh chiều chuộng mọi bề
Kiều thêm rực rỡ chẳng nề tuyết sa
 Vợ chồng đang lúc thuận hòa
Nồng nàn hương lửa, cửa nhà ấm êm
Bất ngờ nhà cháy giữa đêm
Nát tan kỳ vọng một phen hãi hùng
Hoạn Thư bày chuyện hành chồng
Làm cho giáp mặt mà lòng cách xa
Thấp cơ thua trí đàn bà
Hoa nô đứng đó rõ là người xưa
Thúc Sinh rầu dĩ lòng dưa
Kiều đau vẫn phải dạ thưa dối lòng
Chồng nhìn vợ, vợ nhìn chồng
“Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”
Đưa Kiều ra các Quan Âm
Hoạn Thư hồ dễ tính lầm mà lo
Biết người, người cũng biết cho
Hiếu sinh đường mở tha cho một lần
Sớm khuya kinh mõ chuyên cần
Trưa chiều trà nước có phần nguôi mgoai
Một đêm vắng lặng trong ngoài
Chuông vàng khánh bạc giắt người kiều đi
Hoạn Thư biết rõ vân vi
Mở lòng hà hải từ bi thả Kiều

Cầu sương, giày nguyệt gieo neo
Chùa đâu chữ Ẩn Am Chiêu rõ rành
Giác Duyên sư trưởng lòng lành
Nghe Kiều phân tỏ sự tình mà thương
Nâu sòng khuya sớm đèn hương
Tiếng kinh gọi nguyệt, nện sương chày kình
Tưởng rằng yên phận rứt tình
Nào ngờ chuông khánh sự mình lộ ra
Vội vàng chẳng kịp tính xa
Lánh sang nhà với Bạc Bà trú Chân
Chưa  kịp mừng chốn an Thân
Lại rơi vào kiếp phong trần một phen
Bạc Bà bán phấn đã quen
Mưu cùng Bạc Hạnh ép duyên Châu Trần
Lạc loài đất lạ độc thân 
Nào hay duyên phận dữ gần, lành xa
Nào hay Bạc Hạnh, Bạc Bà
Cùng phường bán phấn buôn hoa quen nghề
Bán làm tiếp khách phòng khuê
Một phen Kiều lại ê chề lầu Xanh

Đêm dài gió mát trăng thanh
Gặp người qua khách biên thành sang chơi
Vai năm tấc, thân cao mười
Râu hùm hàm én rõ người lược thao
Đội trời, đạp đất anh hào
Mắt xanh hợp với má đào một đôi
Xưa nay tri kỷ mấy người
Anh hùng, kỹ nữ thề bồi trước sau
Đôi bên ý hợp tâm  đầu
Chuộc Kiều trăm lạng cùng nhau phát hoàn
Trời ban cho chốn thanh nhàn
Kiều cùng Từ Hải phượng loan ấm nồng…

Mười năm xa cách vợ chồng
Anh hùng phỉ chí anh hùng bốn phương
Làm cho rõ mặt phi thường
Tinh binh mười vạn, rợp đường thất tinh
Trẻ già trông thấy mà kinh
Kiều càng lo sợ lánh mình một nơi
Nào ai hay được cơ trời
Tìm Kiều, Từ Hải nói lời hàn huyên
Để cho ân oán phân miêng
Mặc Kiều xử, quyết báo đền công minh
Dưới cờ nhờ có uy linh
Thúy Kiều báo oán, trả tình trước sau
Thời gian thấm thoát trôi mau
Lựa lời Kiều mới trước sau tỏ tình:
“Bó cờ về với triều đình
Chữ trung đã rõ chữ tình càng trong
Chiến trường yên ngưa duổi dong
Chàng đi thiếp có an lòng được đâu
Về triều vinh nhục có nhau
Nghìn năm đời có khen đâu Hoàng Sào ?”
Nghe Kiều phân tỏ thấp cao
Chỉnh quân Từ xếp chiến bào cửa viên
Ngờ đâu Tôn Hiến đê hèn
Sẵn sàng phản phúc bốn bên súng cờ
Đang trong sơ ý bất ngờ
Hùm thiêng sa bẫy bây giờ tính sao?
Tả xung, hữu đột máu trào
Anh hùng dẫu có thế nào cũng cam
Trong ngoài hào lũy tan hoang
Tín quân kịp dắt tay nàng đến xem
Thấy Từ đứng giữa trận tiền
Trơ trơ oan khí một miền chửa tan
Lạ thay lệ hận của nàng
Vừa rơi Từ đã ngã ngang dần dần…

Đem Kiều vào chốn trung quân
Hồ Công thấy mặt mười phần ngất ngây
Là tuồng trăng gió xưa nay
“Dẫu rằng mặt sắt cũng ngây bởi tình”
Thương cho thân phận của mình
Đau cho hai chữ bạc tình hồng nhan
Vinh chi tiết liệt vua ban
Để đời tiếng xấu gái ngoan hại chồng
Kiều gieo mình xuống dòng sông
Mặt nào mà sống ở trong cõi đời ?
Buồn trông non nước xa vời
Tiền Đường dào dạt chân trời vắng tanh
Nỗi oan theo mãi với mình
Nỗi mình ai biết, sự tình ai hay…

Giác Duyên gặp mộng bấy nay
Đóng thuyền trực bến ngày ngày giăng sông
Sớm khuya chẳng quản nhọc công
Gặp Kiều duyên kiếp định trong chuyển vần
Ngư ông kéo lưới một lần
Vớt người trong mộng bóng vân chửa lòa
Hồn mai, phách quế nhập nhòa
Đạm Tiên thoắt hiện nhận là người xưa
Rằng:”Tôi có sẵn lòng chờ
Mười lăm năm ấy bây giờ gặp đây
Chị tuy phận mỏng phúc dầy
Đoạn trường đã hết phúc nay dồi dào…”
Ngẩn ngơ chưa biết sự sao
Trạc Truyền tiếng gọi lọt vào bên tai
Giật mình tỉnh giấc hòe mai
Mở nhìn thấy Giác Duyên ngồi kế bên
Gặp nhau mừng rỡ hàn huyên
Đoạn thôi cùng bước lên thuyền về am…

Chàng Kim muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà
Vội sang vườn Thúy dò la
Rã rời mới hiểu gần xa sự tình
Thương ông mắc nạn tụng đình
Thương Kiều giữ hiếu bán mình chuộc cha
Theo lời, Kim kết duyên hoa
Cùng Vân đền đáp tình nhà nghĩa xưa
Duyên Vân ngày tháng nồng ưa
Trai tài gái sắc sớm trưa Sở Tần
Ân khoa gặp hội trường vân
Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày
Cửa trời rộng mở thang mây
Hoa chào ngõ Hạnh, hương bay dặm đàng
Dẫu vui duyên cải cùng chàng
Thúy Vân mơ gặp Kiều đang bên giường
Nàng rằng : « Sông lớn Tiền Đường
Nghiệp đời chưa dứt mối giường người ta
Bên sông dựng một am hoa
Giác Duyên cùng chị lân la tháng ngày…”

Nghe tường Kim Trọng khôn khuây
Tìm đường vạch lối đến ngay Phật đường
Giác Duyên đánh tiếng gọi nàng
Phòng trong Kiều dạo gót vàng bước ra
Hân hoan đủ mặt một nhà
Xuân Huyên còn mạnh, cội già còn tươi
Hai em phương trưởng cả rồi
Chàng Kim Trọng đó vẫn người tình xưa
Kiều rằng:”Chẳng tưởng bây giờ
Cầm tay gặp mặt vẫn ngờ chiêm bao…”
Sông Tiền sóng vỗ dạt dào
Hoa xuân như cũng nở trao tặng người
Vân rằng:”Bèo dạt mây trôi
Nửa đời nếm trải đủ rồi đắng cay
Bây giờ gặp mặt nhau đây
Chàng Kim trả chị sum vầy trúc mai”
Kiều rằng:”Gia thất duyên hài
Chút tình ân ái âi âi cũng màng
Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
Chị nay ong bướm hoa tàn xác xơ
Nói chi kết tóc se tơ
Đã buồn nẫu ruột còn dơ dáng đời… »
Kim rằng : « Rõ khéo nói lời
Suy trong đạo hạnh rõ người rõ ta
Xưa nay trong phận đàn bà
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường
Nàng đem tính mạng coi thường
Đáp đền chữ hiếu, trọn đường chấp kinh
Thế là tròn hạnh, sáng trinh
Bụi nào vấy đục được mình bấy nay ?”
Nghe ra tay lại cầm tay
Càng yêu bởi nết, càng say bởi tình
Một nhà giá nến hương bình
Một nhà như thể cây quỳnh cành giao

Ngẫm muôn sự ở trời cao
Chữ tài chữ mệnh trời trao cho người
Chữ tâm treo ở trên đời
Tấm gương trong sáng giữa trời soi chung
Mượn vần lục bát đôi dòng
Kim Vân Kiều truyện cho lòng nguôi ngoai
Lời xưa lược lại dông dài
Mua vui và cũng tặng ai giải sầu
                   Nhân Hưng,ngày 31-3-2012
                                     Tạ Anh Ngôi

GIÁO VIÊN XE TĂNG NGA: "TỚ CHẲNG CÒN GÌ ĐỂ DẠY CÁC CẬU NỮA!"

Không biết vì lý do gì mà các giáo viên của Học viện Kurxư Vư xtrel mang tên Nguyên soái Shaposhnikov thường dành cho các học viên Việt Nam những mối thiện cảm rất đặc biệt. Có lẽ một trong những lý do là tinh thần chịu khó, vượt lên khó khăn để làm chủ trang bị của họ thật là mãnh liệt.
Sự đồng cảm, thân thiện từ trong máu
Tại Kurxư Vư xtrel những đối tượng tiếp xúc với học viên quốc tế nhiều nhất là khối trưởng, các bà má trực nhà và các giáo viên. Trong đó, gần gũi và thường xuyên nhất là giáo viên chủ nhiệm.
Giáo viên chủ nhiệm thường là giáo viên các khoa cùng chuyên ngành với học viên sang đây học tập. Chẳng hạn chủ nhiệm lớp giáo viên vũ khí và bắn thì cũng là giáo viên khoa "Vũ khí và bắn", chủ nhiệm lớp giáo viên chiến thuật là giáo viên khoa "Chiến thuật"...
Đối với các lớp là cán bộ cấp trung, sư, lữ đoàn thì chủ nhiệm là giáo viên khoa "Chiến thuật". Nhìn chung, giáo viên chủ nhiệm có thời gian tiếp xúc và làm việc nhiều nhất với học viên và là người chịu trách nhiệm chính về mặt chuyên môn của lớp học mình phụ trách.
Có lẽ vì vậy mà các giáo viên chủ nhiệm ở học viện này có tính độc lập khá cao và có quyền thay đổi chương trình, nội dung học tập nhằm đảm bảo kết quả học tập cao nhất cho lớp học mà mình phụ trách.
Không biết có phải do tinh thần trách nhiệm thôi thúc hay vì một lý do nào khác song có thể nói các giáo viên chủ nhiệm ở đây luôn luôn gần gũi, thân thiện với học viên, hết lòng chăm lo cho học viên về mọi mặt không chỉ về chuyên môn mà cả những vấn đề khác trong cuộc sống.
Giáo viên xe tăng Nga: Chúng tôi chẳng còn gì để dạy các cậu cả! - Ảnh 1.
Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt (trái) thời còn là học viên của Học viện Kurxư Vư xtrel mang tên Nguyên soái Shaposhnikov. Ảnh: Nguyễn Khắc Nguyệt.
Biết học viên Việt Nam, Cu Ba phụ cấp thấp, có thày mua tặng học viên sách vở và các loại văn phòng phẩm khác như thước chỉ huy, bút chì màu v.v... phục vụ cho học tập. Do đất của học viện rất rộng nên cho gia đình cán bộ, giáo viên mượn để tăng gia.
Mùa thu hoạch rau củ, có thày còn mang vào tặng học viên từng bao tải. Có thày vừa tặng vở vừa "xui" học viên cách đối phó với quy tắc bảo mật của nhà trường: "Các cậu ghi vào đây để mang về nước mà dùng, chứ ghi vào sổ do học viện cấp cho thì lúc ra trường họ thu lại đấy!".
Nhiều thày còn chủ động kéo học viên tham gia vào những hoạt động vui chơi giải trí trong những dịp lễ hội dân gian của nước mình, vừa làm cho học viên đỡ nhớ nhà đồng thời cũng giúp họ hiểu biết thêm về văn hóa của dân tộc Nga vĩ đại...
Những việc đó tuy nhỏ song đó cũng là biểu hiện của tấm chân tình mà những người đồng đội, đồng chí dành cho nhau. Dường như sự đồng cảm, thân thiện ấy đã có sẵn từ trong máu huyết mỗi người.
Tớ chẳng còn gì để dạy các cậu nữa
Đó là lời than phiền rất thật lòng của không ít giáo viên chủ nhiệm khi dạy chuyên môn cho các học viên Việt Nam.
Vì là đối tượng bổ túc cán bộ, giáo viên nên chương trình học tập được xây dựng trên cơ sở bàn bạc thống nhất giữa hai nhà nước- Liên Xô và nước gửi học viên sang học tập. Đối với Việt Nam, bạn xếp ta vào thành phần "các nước đang phát triển"!
Có lẽ vì vậy mà chương trình học tập khá đơn giản, nhẹ nhàng. Đối với khối cán bộ chỉ huy thì có thể coi như vừa sức vì các đồng chí này phần nhiều trưởng thành qua chiến đấu, ít người được đào tạo cơ bản.
Song đối với đối tượng giáo viên các trường sĩ quan thì có thể nói là chương trình quá đơn giản. Đó chỉ là những nội dung mà ở nhà họ đã và đang dạy cho học viên của mình, thậm chí còn không sâu bằng.
Mặc dù biết như vậy song cũng chẳng ai có ý kiến gì. Trước hết, đó là việc của cấp trên, của hai Nhà nước, nói cũng chẳng biết bao giờ mới đến tai các vị ấy. Hai là, cũng có một chút ích kỷ: "Học càng dễ thì càng nhàn; càng có thời gian đi chơi đây đó và... mua hàng!".
Tuy nhiên, để không lộ chuyện các học viên vẫn phải diễn như thật màn chịu khó học tập của mình: lên lớp thì chú ý lắng nghe, ghi chép đầy đủ và cẩn thận, thỉnh thoảng lại thắc mắc đòi giáo viên phải giải thích thêm vấn đề này, vấn đề khác...
Song dẫu cho "diễn" có khéo đến đâu thì chỉ một thời gian ngắn- từ 1 đến 2 tháng- là các thày đều phát hiện ra trình độ thật của đám học viên nhỏ con nhưng láu lỉnh này. Không chỉ qua kiểm tra các nội dung lý thuyết mà cả các bài kiểm tra thực hành, kết quả của họ cũng rất cao.
Thì có gì lạ đâu, giáo viên kỹ thuật chuyên ngành ở nhà cũng đã lái, bắn đến "mòn cả tay" rồi, không chỉ làm mẫu cho học viên mà thỉnh thoảng còn được tập huấn nâng cao trình độ hoặc bắn, lái trình diễn phục vụ tham quan nên không thành thạo mới là lạ!
Khi phát hiện ra điều đó, nhiều thày thốt lên một cách rất chân thành: "Trình độ của các cậu như thế này rồi thì tớ chẳng còn gì để mà dạy cả!".
Nói thì nói vậy song với tinh thần trách nhiệm cao cả trước nghĩa vụ quốc tế và tình cảm sâu nặng Xô- Việt, các thày chủ nhiệm đều tìm ra cách của riêng mình để bồi bổ kiến thức, kỹ năng cho đám học viên trình độ cao này.
Có thày thì tăng thời gian huấn luyện thực hành: "Ở đây chắc chắn nhiều xe, nhiều dầu, nhiều đạn hơn bên nhà các cậu nên cứ bắn đi, cứ lái đi cho thoải mái!".
Có thày thì sưu tầm thêm những loại tài liệu quý hiếm rồi giao cho phiên dịch dịch cho học viên chép đem về mà sử dụng. Có thầy thì bảo: "Bây giờ các cậu thích học cái gì thì bảo tớ!". Thậm chí, có thày còn "vượt rào" giới thiệu các loại trang bị còn đang ở trạng thái "MẬT" vốn chỉ phổ biến hạn chế.
Giáo viên xe tăng Nga: Chúng tôi chẳng còn gì để dạy các cậu cả! - Ảnh 2.
Xe tăng T-72B3 của Nga tại giải đấu tăng Tank Biathlon.
Chẳng hạn, thời đó xe tăng T-72, xe chiến đấu bộ binh BMP-2 và một số trang bị nữa mới chỉ đưa vào huấn luyện cho học viên đến từ các nước khối Vác-sa-va hoặc các nước khách hàng đã mua những loại xe này của Liên Xô thì theo yêu cầu của học viên Việt Nam các thầy vẫn đem ra giới thiệu và cho cả lên thực hành sử dụng nữa.
Nỗi khó xử đáng yêu của các thày giáo chủ nhiệm
Có một chuyện nhỏ thôi nhưng cũng gây ra cho các giáo viên chủ nhiệm khối học viên xe tăng Việt Nam chút khó xử mỗi khi kết thúc khóa học. Ấy là chuyện công nhận cấp pháo thủ và lái xe cho các học viên của mình.
Trình độ của học viên thì các thày đã biết cả rồi, các thày đề nghị thế nào thì khoa cũng sẽ công nhận mà thôi. Người được công nhận sẽ được cấp một tấm bằng (диплом) và một tấm huy hiệu. Tấm huy hiệu có hình chiếc xe tăng và dập nổi cấp pháo thủ, lái xe lên đó rất đẹp và nổi bật.
Giáo viên xe tăng Nga: Chúng tôi chẳng còn gì để dạy các cậu cả! - Ảnh 3.
Học viên Việt Nam dự Lễ tiễn mùa Đông cùng gia đình thầy chủ nhiệm. Ảnh: Nguyễn Khắc Nguyệt
Tuy nhiên, có một vấn đề phát sinh thường làm các thày phải khó nghĩ. Ấy là do quy định phân cấp pháo thủ, lái xe của quân đội 2 nước ngược nhau!
Theo quy định của Quân đội nhân dân Việt Nam thì pháo thủ và lái xe tăng được phân thành 3 cấp theo thứ tự từ thấp đến cao là: cấp 1, cấp 2 và cấp 3.
Trong khi đó của quân đội Liên Xô thì có 4 cấp xếp theo trình độ từ thấp đến cao là: cấp 3, cấp 2, cấp 1và kiện tướng (мастерны- các bậc thày). Chính việc sắp xếp ngược nhau này làm cho các thày khó nghĩ.
Trong thâm tâm, các thày muốn công nhận học viên của mình đạt cấp 1 song nếu như vậy thì về Việt Nam sẽ bị xem là trình độ thấp nhất. Còn nếu công nhận cấp 3 thì ai từng học ở Liên Xô về người ta sẽ đánh giá rất thấp trình độ này.
Cuối cùng, các thày thường chọn giải pháp "dĩ hòa vi quý" là công nhận trình độ "cấp 2". Như vậy, cả ở Việt Nam và Liên Xô đều ở mức "Khá". Đối với các học viên thì như thế cũng rất phấn khởi rồi.
Ngày nay, dẫu Liên Xô không còn nữa song mối chân tình, sự đồng cảm thân thiện của các thày giáo- những sĩ quan Xô Viết vẫn là một kỷ niệm đẹp trong lòng các học viên đã từng được sang học tập tại Kurxư Vư xtrel ngày ấy.