Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

CHUYỆN BẠN BÈ TÔI

BA CHÌM, BẢY NỔI, CHÍN CÁI LÊNH ĐÊNH- 3

(Tiếp theo)

Nhưng có lẽ Trời cũng không đến nỗi triệt mọi đường sống của con người. Giữa lúc đen tối nhất của cuộc đời, trong một buổi đi làm thuê ở chợ bất ngờ hắn gặp được ông Ba- người cùng làng, lại là bố thằng Nghị đen cùng lớp từ thuở nhỏ. Ông Ba là đại úy QGP, sau thời gian làm quân quản giờ chuyển sang công tác cải tạo công thương nghiệp ở thành phố. Chính hắn nhận ra ông chứ ông không thể nào tin cái thằng người nhọ nhem, bẩn thỉu này lại là thằng Thao bạn học của con trai mình. Sau khi kéo hắn đi đãi hắn một bữa no nê, ông mới hỏi đầu đuôi câu chuyện. Hắn thật thà kể lại từ đầu chí cuối. Nghe xong, ông khuyên: “Mày không có giấy tờ, tiền bạc, nghề nghiệp cũng không thì không sống được ở thành phố này đâu. Tao biết có một bà người làng mình, nếu xét về họ hàng thì là cô họ của mày hiện đang sống ở thị trấn Long Thành, Đồng Nai, cách đây chỉ độ sáu bảy chục cây số. Điều kiện kinh tế của bà ấy cũng khá. Nếu mày đồng ý tao sẽ chỉ đường xuống đấy mà kiếm công ăn việc làm cho ổn định”. Cùng đường rồi, hắn gật đầu ngay tắp lự.

Nhà bà cô hắn nằm ngay trung tâm thị trấn Long Thành nên hắn tìm đến không mấy khó khăn. Mặc dù xa quê đã lâu song bà cô hắn vẫn niềm nở đón tiếp hắn. Ngồi hỏi chuyện quê hương, họ hàng hồi lâu thì bà xác nhận đúng là có họ với nhà hắn. Vì ông Ba đã viết thư giới thiệu và gửi gắm hắn nên bà đồng ý cho hắn ở lại, trước mắt là giúp việc trong nhà, sau đó sẽ tính tiếp.

Bà cô hắn có một sạp hàng trong chợ Long Thành, ông chú rể thì là giáo viên trung học, nhà chỉ có mỗi cô con gái nên công việc của hắn cũng không đến nỗi vất vả cho lắm. Hàng sáng, hắn xếp hàng lên xe chở vào chợ cho bà cô bán hàng. Về nhà, hắn làm mọi việc, từ bửa củi, nấu cơm, gánh nước v.v… Hồi đó, phong trào đoàn thanh niên khá rầm rộ, hắn cũng thay mặt gia đình bà cô tham gia cùng bà con và thanh niên dọn vệ sinh đường phố rồi đào mương, đắp đập cùng nhiều việc công ích khác của thị trấn.

Được ăn uống, sinh hoạt điều độ hắn lại người nhanh chóng. Từ chỗ gày gò, nhem nhuốc hôm nào nay đã trở thành một cậu trai trắng trẻo, thư sinh. Vốn bản chất con nhà lao động, lại biết thân biết phận ăn nhờ ở đậu nên hắn không nề hà việc gì, lại khéo cư xử nên bà cô quý lắm. Mặt khác, lúc mới giải phóng, có thằng cháu là bộ đội Bắc Việt về ở trong nhà cũng có giá nên bà cô quyết định làm thủ tục nhập khẩu cho hắn. Với những mối quan hệ của ông chú, việc đó cũng không có gì khó khăn lắm. Thế là hắn lại có tên trong cõi đời này.

Không chỉ có vậy. Khi đã biết tường tận hoàn cảnh của hắn, bà càng thương hắn hơn nên muốn gây dựng cho hắn lâu dài. Trong số bạn bè của bà có bà chủ xưởng sản xuất bánh kẹo. Bà này có cô con gái vừa đến tuổi cập kê, trông cũng khá xinh xắn. Khi bà cô hắn ngỏ lời, gia đình kia xem ra cũng khá ưng ý. Về phía hắn, hắn thấy cũng không có điều gì đáng phàn nàn.

Nhưng có lẽ số hắn chưa hết khổ. Khi mọi sự tưởng như đã xuôi chèo mát mái thì lại bị chặn lại ngang xương. Tháng 7.76, ông anh ruột bà cô từ quê vào chơi. Nghi ngờ động cơ của thằng cháu họ, lại thấy cô em mình quý nó như thế… sợ rằng nó sẽ “đào mỏ” mất nên tìm mọi cách dèm pha. Bà cô họ của hắn bị đặt vào một tình thế khó xử, một bên là ông anh ruột, một bên là thằng cháu họ mà bà bắt đầu quý mến. Để đỡ khó xử cho bà cô, hắn quyết định sẽ ra đi. Khi bà cô hỏi hắn muốn xin cái gì thì hắn bảo: “Cô đặt cho cháu một con rựa”.

Với hành trang là cái túi đồ lép kẹp và một con rựa lớn, sắc như nước… hắn rời bỏ mái nhà yên ấm mà có lúc hắn đã tưởng đó là mái nhà của mình.

Sở dĩ hắn xin con rựa là vì mấy tháng ở đây hắn quan sát thấy những người đốn củi đem bán ở chợ cũng sống được. Rừng thì hắn chẳng lạ gì. Chí Linh quê tôi là một huyện miền núi mà, dân ở đây cũng nhiều người đang sống nhờ rừng. Ngay cả hắn nữa, hồi mới ra quân cũng đã vào rừng đốn củi nhiều lần. Lại nữa, suốt mấy năm ở chiến trường, lăn lộn với rừng. Chính đại ngàn Trường Sơn đã che chở và nuôi sống hắn. Thế nên, khi phải ra đi, hắn quyết định vào rừng Cẩm Đường để sống nhờ rừng.

Hồi ấy, Cẩm Đường còn khá nhiều rừng và là nơi cung cấp củi cho dân chúng quanh huyện Long Thành cũng như vùng làm gốm Lái Thiêu, Thủ Dầu Một… Nếu có sức khỏe, mỗi ngày chặt vài ste củi là dư ăn, dư mặc. mà cái đó thì hắn đang có. Những ngày đầu, cũng như mọi tiều phu ở đó hắn chặt củi để bán. Kỷ lục cao nhất hắn lập được là 16 ste một ngày (chẳng biết hắn có nói quá lên không?). Nhưng rồi hắn cũng nhận ra một điều là nếu cứ làm anh tiều phu thì mãi mãi sẽ chỉ là chàng tiều phu mà thôi. Hắn quyết định phải thay đổi cách làm ăn.

Đầu tiên, hắn vừa chặt củi đồng thời mua gom củi của các bạn tiều phu rồi mới bán lại cho các đầu nậu. Những bạn tiều phu của hắn nói chung là những người đơn giản, với họ mỗi ngày làm việc cứ đủ tiền ăn tiêu trong ngày là được. Vì vậy, mọi khi chặt đủ rồi cứ phải đợi đầu nậu lên thu mua, lại còn bị bắt chẹt… bây giờ có đầu nậu tại chỗ, giá cả lại thoải mái hơn (anh em cùng hội, cùng thuyền mà) nên họ OK ngay. Vì vậy, nguồn thu của hắn ngoài số tiền củi do hắn chặt còn thêm số tiền lời do mua gom và hắn đã bắt đầu có của ăn, của để.

Khi lưng vốn đã kha khá rồi, hắn quyết định sẽ không bán cho đầu nậu nữa mà sẽ trực tiếp tiêu thụ. Bỏ ra một ngày sang Lái Thiêu, hắn đã tìm được mối tiêu thụ của một số lò gốm. Thế là hắn về tiếp tục mua gom, khi áng chừng đã đủ xe thì thuê xe vào chở đến Lái Thiêu để bán. Mua tận gốc, bán tận ngọn nên lợi nhuận thu được khá cao. Hắn bắt đầu rủng rỉnh có đồng ra đồng vào.

Đúng ngày Quốc khánh 2.9.1976, khi đang gật gù ngự trên buồng lái chiếc xe REO chở đầy củi đến ngang chỗ nghĩa trang TP bây giờ hắn chợt giật thót người vì một tiếng còi rít lên. Mở mắt ra hắn ngỡ ngàng khi thấy một toán người đeo băng đỏ đang vẫy xe cho tấp vào lề đường. Đoàn kiểm tra liên ngành bắt hắn về tội phá rừng và buôn bán trái phép (không có đăng ký KD). Hắn điếng người vì chuyến đó hắn đã dồn tất cả vốn liếng thuê 2 chiếc xe REO để xếp hàng, bây giờ mất tất.

Hắn trắng tay lần thứ hai.

(Còn nữa)

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

DÒNG ĐỜI


"Hai bẩy năm trước có dư
Bà ru bố cháu ngủ như thế này"
...
Bài thơ
Ru cháu của cô giáo Nguyễn Thị Cẩm Tú làm tôi nghĩ đến dòng chảy thời gian... Lần đầu tiên tôi thấy cô là buổi thi vào Trường Cấp III Chí Linh. Tôi cứ ngẩn ngơ vì cô giáo đẹp quá. Dù phải tập trung làm bài thi nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn "liếc" trộm cô giáo. Không phải để "quay phim", ngày ấy đi thi bao giờ tôi cũng chỉ mang theo bút thước... Chỉ vì cô đẹp nên tôi bị phân tâm.
Thi đỗ vào trường, tôi được học lớp cô làm chủ nhiệm. Cô lại dạy chúng tôi môn Vật lý. Tôi vẫn còn nhớ như in nét chữ cô viết trên bảng:
Máy bay, Nguyên tử... những tiêu đề khô khan của môn Vật lý bỗng trở nên lung linh đầy thi vị theo nét chữ nghiêng nghiêng mềm mại của cô. Tôi nghe cô giảng mà đôi lúc lại thấy mình bay lạc vào miền mơ mộng bởi làn môi cô hồng thắm và màu hoàng yến chiếc khăn voan cô quàng trên cổ... Sau này, khi đã từng trải, tôi biết các bạn nam trong trường hồi ấy cũng nhiều người "choáng" vì vẻ đẹp thánh thiện của cô, một cách vô thức. Có bạn còn tuyên bố chỉ yêu mỗi mình cô Tú...
Người đẹp ngày ấy giờ đã cháu nội cháu ngoại đề huề, vẫn chung tình trọn nghĩa với người bạn đời "trước sau là một". Thày cô đã dành cả quãng đời thanh xuân tươi đẹp để cùng các thày cô giáo khác rèn dạy biết bao thế hệ học trò. Lại một mùa hoa phượng gọi mùa thi. Lại một lớp học trò mới vào đời. Và học trò của thày cô giờ đây cũng nhiều người đang ngồi ru cháu. Dòng đời ấm áp vẫn không ngừng trôi...

NHỚ HÀ NỘI


Tôi nhớ em Hà Nội
Trong mùa hoa sữa rơi
Hương thơm ngát cuộc đời
Tình say nồng quyến rũ
Bao tháng ngày không ngủ
Đi cùng em trong đêm
Giờ mái tóc pha sương
Tình yêu còn thổn thức
Ôi! trái tim hồng rực
Một tình yêu quê hương
Tôi nhớ phố, nhớ phường
Tôi nhớ em Hà Nội.


3/6/2011
Nguyễn Xuân Thảo

CỞI LÒNG




Đôi khi cảm hứng dâng trào

Muốn ghi, muốn viết, nhưng nào có hay?
Luật thơ, ngữ nghĩa học thầy
Vì đời lận đận, rơi, bay hết rồi
Đành lòng gặm nhấm đôi lời
Mua vui cùng bạn cho vơi nỗi buồn
Xa nhau lòng những vấn vương
Tình xưa, bạn cũ, con đường mình đi
Người vinh hoa, kẻ lâm nguy
Vẫn còn sau, trước ngại gì cười chê
Có sai bạn cũng cười huề
Chứ đừng bẻ lỗi, nhiêu khê làm gì
Cởi lòng với bạn một khi
Có tâm, tâm ở, tình si, si tình.

3/6/2011

Nguyễn Xuân Thảo

Huyền thoại GỐM CHU ĐẬU

CHIẾC BÌNH TỲ BÀ VẼ HOA LAM CÓ GIÁ TRỊ 521.000USA ĐƯỢC NGƯỜI ANH MUA VÀ ĐƯỢC NGƯỜI MỸ IN LÊN CON TEM RỒI CHIẾC ĐẦU RỒNG ĐẶT TẠI TRỤ SỞ LIÊN HỢP QUỐC ĐỀU LÀ SẢN PHẨN GỐM CHU ĐẬU ĐƯỢC TRỤC VỚT TỪ CON TẦU ĐẮM TẠI CÙ LAO CHÀM…



Người ta phát hiện ra con tầu gỗ chở đồ gốm đi biển bị đắm vào khoảng giữa thế kỷ 15 xuất phát từ Hải Dương, chủ thương thuyền đó là BÙI THỊ HỶ.

Nói về chuyện đi biển của bà Bùi Thị Hỷ, khó ai có thể tin được là ngay từ thế kỷ 15 người Việt Nam đã có thương thuyền vượt sóng gió Biển Đông đưa hàng đến nhiều nước. Nhìn lại toàn cảnh nhân loại thời bấy giờ giữa các châu lục là khoảng cách xa vời vợi. Cơ-rít-xtop-phơ Cô lông (1450-1506) bắt đầu hành trình từ cảng Palot Tây Ban Nha căng buồn trên biển tìm được miền đất mới (nước Mỹ) thì ở thời này thương thuyền của bà Bùi Thị Hỷ đả có mặt tại nhiều thương cảng trên thế giới. Cụ thể hơn là lúc Co-Rit-Xtop-pho Cô long đi biển thì bà Bùi Thị Hỷ ở tuổi 73 và đã trở về quê cha ở Quang Ánh, Gia Lộc, Hải Dương, xây chùa Viên Quang ẩn tuổi già.

Di vật quý của bà là tấm la bàn bằng đá cẩm thạch kích thước 17X17X7 cm vừa được tìm thấy trên mảnh đất nơi cụ thân sinh ra bà từng sinh sống. Trên la bàn có chữ: châm bàn CHU HẢI KHỨ, BÙI THỊ HỶ. nghĩa là: bàn kim chỉ đường cho thuyền biển của BÙI THỊ HỶ. La bàn này tương tự như nguyên lý la bàn đi biển thời Cơ-Rit XTop phơ Cô lông.

Theo những nghiên cứu mới đây, bà đã để lại một con rồng trên ngã ba sông Đinh Đào quê hương mình. Nhân dân Gia Lộc (Hải Dương) vẫn còn giữ được một số di vật của gia tộc bà có liên quan đến con rồng này. Thật bất ngờ là chiếc đầu rồng thể hiện nét văn hóa Việt được trưng bày ở trụ sở Liên hợp quốc là gốm Chu Đậu - giống với dáng đầu rồng ở quê bà.

ĐÔNG CON




Khốn thay cái kiếp đa tình

Ngủ đêm cứ phải có mình với ta
Ắt thì nhân khẩu tòi ra
Hoa khôi thị mẹt đã ba bốn lần
Tưởng chừng như đã hết xuân
Ai ngờ còn đẻ thêm lần thứ năm
Cũng may có một cái mầm
Không thì mất họ còn xuân cũng thừa

Nguyễn Xuân Thảo

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

THANH HÀ MÙA VẢI




Thanh Hà mùa vải ai về
Mà nghe rộn rã tiếng ve gọi bầy
Ôi mầu vải chín trên cây
Những mâm xôi gấc dâng đầy trời quê

Đi trong vườn vải mải mê
Tưởng như đi giữa bốn bề hương cây
Nâng chùm quả nặng trên tay
Tưởng trời cao với đất dày tròn căng

Dịu dàng những tối mơ trăng
Lời ai quê kiểng nói rằng yêu ta
Dòng Hương lắng đọng phù sa
Bao đời bồi đắp quê nhà thẫm xanh

Thanh Hà vị vải ngọt thanh
Một lần nếm thử cũng thành nhớ thương

Hải Dương 5-2011
Thanh Dạ

CHỢT NGHĨ



Con cóc cứ nằm trong hang
Không nhảy ra đàng… đã chẳng thành thơ
Ngang trời ngọn gió vu vơ
Bờ tre không cản đung đưa nỗi gì?
Trong đầu mọi sự nghĩ suy
Có xuôi, không ngược lấy gì nảy sinh ?
Âm-Dương huyền diệu, vô hình
Mãi luôn gắn bó như mình với ta.

1/6/2011
Đỗ Đình Tuân

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011

Ru cháu

Bà ru cháu ngủ cho say

Bồi hồi nhớ lại những ngày đã qua.

Hai bảy năm trước có dư,

Bà ru bố cháu ngủ như thế này.

Trong mơ cháu gái có hay

Cũng vầng trán ấy, miệng này năm xưa,

Cũng đôi mi mắt đầy mơ,

Cũng đôi má bụ ngây thơ giữa đời.

Bà ngồi ngắm cháu không rời,

Gió đừng gọi cửa, cháu tôi ngủ nào.

Cháu ngủ mơ vầng trăng cao,

Có cả chú Cuội tựa vào gốc đa.

Cháu ngủ mơ giải ngân hà,

Ngàn sao lấp lánh cùng Bà đưa nôi.

Giấc mơ còn đọng trên môi.

Như hai bà cháu đang chơi chốn tìm.

Bà ngồi ngắm cháu ngủ yên,

Mà như thấy cháu lớn lên từng giờ.

Cẩm Tú – 3/2003.

Thay lời cảm ơn XÓM TRI ÂN và NHÓM CÁNH PHƯỢNG đã đem lại những bài viết lý thú

ĐÓI

Đói cơm đói thịt là thường
Đói thông tin sẽ khó lường rủi ro...
Đói này mới thực đói to:
Cái đầu đói biết đôi giò đói đi

Phố Hóp 01-6-2011
Thanh Dạ