Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI

Bài viết này như một nén tâm nhang của tôi với các đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến vì sự thống nhất đất nước.

Entry gồm những hình ảnh từ máy ảnh, lưu lại những địa danh mà đã được đến thắp hương tưởng niệm. Minh họa cho những tấm ảnh là những bài thơ và lời bình của nhiều tác giả mà tôi tâm đắc.

Cứ mỗi dịp 27/7 tôi lại thấy mình có lỗi. Món nợ mà tôi đã hứa với lòng mình, sau trận đánh vào Thị Xã Con Tum  6/ năm 1972. ‘’ Viết cho anh em, Cán bộ chiến sĩ C3 D10 F2 - Những người đã hy sinh trong trong trận tập kích vào Biệt khu 24 “ mà tôi chưa trả được.
 

I. NGÃ BA ĐỒNG LỘC





“Những vầng trăng Đồng Lộc” của Bình Nguyên đăng trên báo Văn nghệ Ninh Bình số 5-2006 là bài thơ mang hương vị ca dao dân ca. Bài thơ viết về mười cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh vì độc lập dân tộc ở Ngã ba Đồng Lộc - một địa danh mà người dân cả nước và không ít bạn bè quốc tế biết đến như một tượng đài chiến thắng của nhân dân Nghệ Tĩnh và cả nước.

“Những vầng trăng Đồng Lộc” có thể coi là một bó hoa tưởng nhớ mười cô gái thanh niên xung phong mà hồn phách của các chị đã hóa vào vũ trụ để thành các vần trăng ngao du theo mỗi tháng .

Mây bay Đồng Lộc trắng trời
Khói mây thấp thoáng bóng người hiện lên

Cô Giêng Hai tóc xanh mềm
Sớm ra đứng ngẩn bên thềm tiếng chim
Có gì thổn thức con tim
Trong chiêm bao cứ lặng im cất lời

Cô Tháng Ba hay trông trời
Hễ mưa là nhắc áo tơi mẹ già
Bao lần ngó bóng mây xa
Sau bom nổ giở thư nhà chuyền tay

Cô Tháng Tư hay giãi bày
Nhớ mùa chớm hạ nắng đầy sân rêu
Qua rằm vào tuổi đang yêu
Mỗi trang gấp mở bao nhiêu thẹn thùng

Cô Tháng Năm hay ngượng ngùng
Mà qua bao trận bão bùng lạ chưa
Lớn thầm trong nắng trong mưa
Biết thương từng luống cày bừa nhà nông

Cô Tháng Sáu cặp má hồng
Tóc bồ kết gội gió nồng nã thơm
Nhớ vàng sợi nắng trong rơm
Trận mưa đầu vụ bát cơm cuối mùa

Cô Tháng Bảy thích thêu thùa
Tấm khăn gửi kín bốn mùa đấy thôi
Mưa ngâu trời đất sụt sùi
Lại thương hai phía hai người xa nhau

Cô Tháng Tám mắt dao cau
Bao đêm ngồi hát sông Cầu trao duyên
Nhớ về từng trận lũ lên
Sông quê neo bóng con thuyền và ai

Cô Tháng Chín dáng mảnh mai
Câu thơ lén gửicho người chưa quen
Bao giờ... ai hẹn mà lên
Đêm đêm trăng sáng bình yên lạ thường

Cô Tháng Mười mắt như gương
Se se nắng gió bụi đường bao năm
Cứ vời trông phía xa xăm
Gặp ai cũng gửi lời thăm quê người

Cô Một Chạp miệng hay cười
Hồn nhiên chẳng sợ gió trời buốt đêm
Nhớ ai tay hái tay liềm
Chợ quê cái lạt buộc mềm mớ rau

Các cô đấy các cô đâu
Nén nhang cháy đỏ xuống màu cỏ non.

Những cái tên Xuân, Tần, Cúc…khắc vào bia đá, nhưng ở bên kia thế giới tâm linh các chị là Tháng giêng Hai , tháng ba... tháng tám. Mười vầng trăng trong thơ là chính các chị lần lượt , lặng lẽ hạ giới thắp sáng thêm niềm tin hơn vào tương lai của đất nước sau chiến tranh.
…..
Sự hóa thân vào đất trời, vào thời gian, hiển hiện dưới những cái tên Giêng Hai, Tháng Ba, Tháng Tư, … Một Chạp của các chị như trong truyện cổ tích kể về các Nàng tiên trở về trời sau khi hoàn thành công việc nơi hạ giới.

Mười cô gái thanh niên xung phong - anh hùng liệt nữ hóa thân vào vũ trụ, thiên nhiên, gió, mây, thời gian năm tháng bốn mùa, núi sông, đất đai, cánh đồng, vào những trăn trở lo toan của cuộc sống thường nhật không ngừng đổi mới, đi lên... chính là “ đắc địa “ nhất của bài thơ

Nén tâm hương của nhà thơ cầu khấn sự khôn thiêng của các chị đã khép lại bài thơ đã làm nên sự linh thiêng huyền bí.

Các cô đấy các cô đâu
Nén nhang chảy đỏ xuống màu cỏ non











II THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ






Đò lên Thạch Hãn ơi...chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm"

Cuộc sống hàng ngày của mỗi con người ở dải đất miền Trung đơn giản mộc mạc như con đò trôi trên dòng Thạch Hãn, đấy là dòng đời, dòng sông thời gian.
Lê Bá Dương ví von cuộc sống như con đò, chứ không phải con thuyền. Vì hàng ngày con người miền Trung vẫn dùng sức mình đẩy con đò đi. Khi đò dọc, lúc đò ngang. Nơi nông- khó khăn thì dùng sào chống, đẩy. Nơi nước sâu-thuận dòng thì dùng mái chèo. Có nghĩa là sự vươn lên trong cuộc sống vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động của mình. Cuộc đời của người miền Trung chưa phải là con thuyền căng buồm dựa vào gió lộng. Sự vận động nhẹ nhàng đó thế mà cũng khua động đến ký ức của cuộc đời lưu giữ trong dòng sông Thạch Hãn. 

" Đò lên Thạch Hãn ơi...chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm"
 Đáy sông vẫn và mãi mãi hiện hữu bạn bè đồng đội nằm trong miền ký ức chứ không phải là mất, là khuất núi theo nghĩa tử trần trụi. Bởi vậy, anh cứ sẽ sàng nhắc những ai qua lại, ngược xuôi dòng sông Thạch Hãn dẫu có vô tình hững hờ quên thì anh sẽ nhắc: hãy gượng nhẹ mái chèo, bởi đáy sông còn đó những người còn nằm dưới lòng sông. 

Nào có ai dám quên đâu. Chỉ có điều là không muốn nói đến thôi. Nhưng lời anh nhắc đã làm cho sự hoài cảm về quá khứ quay lại. Đau đáu, tiếc thương về sự tổn thất vô bờ bến, những người bạn của anh ở lứa tuổi thanh xuân ngã xuống trong chiến tranh.
Người được nhắc, có nghĩa là người đọc bài thơ, biết thế thôi. Nỗi đau khôn nguôi và lặng lẽ giữ nó lại trong lòng mình, không dám bộc bạch cùng ai.

Với hai câu thơ kết giàu biểu cảm:
"Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm"
Lê Bá Dương đã thổ lộ hộ tâm tình của chúng ta rằng, cái bờ ở đây đã lớn hơn, rộng hơn hẳn cái bờ bị khuôn hẹp của một dòng sông hiện hữu. Nó là cỏ cây, là bờ cát trắng, nó là dòng chảy của con sông Thạch Hãn đã hóa vào dòng chảy tâm linh dạt dào sóng nước tuổi hai mươi. Mãi mãi nỗi mất mát của một thời đại bi hùng quá khứ ấy, không và mãi mãi không bị lãng quên. Rằng với những người đã khuất. Họ vẫn ở lại với chúng ta, họ đồng hành với chúng ta và họ vĩnh hằng tươi trẻ với lứa tuổi Hai mươi.

 Người lính từ chiến tranh trở về với mái nhà của mình rất lâu rồi, mái tóc xanh năm xưa của người lính cũng đã hoa râm. Tiếng súng nổ chiến tranh cũng đã lùi vào dĩ vãng. Thời gian trôi đi và lặng lẽ bỏ lại rất nhiều trong quá khứ. Nhưng nỗi đau mất mát về những con người trẻ tuổi vẫn còn đó, chừng nào chúng ta còn khoắc khoải nhớ tới họ. Nỗi tiếc thương về những con người trẻ tuổi bất tử đó đã vĩnh viễn hóa thân vào bài thơ LỜI GỌI BÊN SÔNG - Một bài thơ không chỉ nổi tiếng thời đại, mà hơn thế, nó còn là một bài thơ có giá trị đánh thức mọi thời đại của Lê Bá Dương.”




III NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN










Viết ở nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn
Bài thơ không có tiếng khóc than nức nở, không có những giọt nước mắt ngắn, dài nhưng xuyên suốt bài thơ là cảm xúc của một người em gái khi viếng mộ liệt sỹ tại nghĩa trang Trường Sơn. Tác giả đã khéo léo gắn kết cả quá khứ (viếng mộ liệt sỹ) với hiện tại (chuyện những thương binh không tàn, không phế). Khi nói về những liệt sỹ, tác giả đắn đo "không dòng nào ghi những chiến công" nhưng khi nói về những thương binh thì tác giả lại khẳng định "vẫn cho đời bao sức lực, niềm tin". Phải chăng, đó là dòng mạch chiến công chỉ có ở những người lính Cụ Hồ? Bài thơ là những lời tâm tình được chắt ra từ chính cái tâm của một thế hệ trẻ sau chiến tranh trước những hy sinh, mất mát của biết bao người con yêu, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Không có những nhịp điệu, tiết tấu cầu kỳ, không có những triết lý khúc trắc, từ câu đầu đến câu cuối là cả một mạch cảm xúc chứa chan tình người về hôm qua, hôm nay và ngày mai, biết kế thừa và phát huy truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam.

Không kịp mua huệ, cúc, sen, hồng
Chúng tôi đến thăm các anh
Với bó hoa rừng vừa hái
Con đường đến mênh mông nắng trải
Khoảng trời xanh màu xanh bình yên.

Chiến tranh qua lâu rồi
Mặt đất đã dịu êm
Nơi các anh nằm
Rừng thay lá mới
Nghĩa trang Trường sơn lần đầu tôi tới
Cứ ngỡ ngàng như lạ như quen:
Đây những Yên Bình, Lục Yên, Trấn Yên...
Cùng tên các anh trên từng bia mộ
Những dòng chữ khiêm nhường bé nhỏ
Không dòng nào ghi những chiến công...

Biết hồn thiêng đã hoá núi sông
Biết công ơn đời đời tạc dạ
Sao gặp đây rồi mà xa cách quá
Khói hương mờ, nước mắt tuôn rơi
Muốn nói cùng anh bao chuyện trên đời:
Về những con đường, những nhà máy mới
Ánh điện lung linh, rừng xanh vời vợi
Những chiếc cầu bắc đến tương lai
Những con người từ hạt lúa, củ khoai
Trên đỉnh OLYMPIA đã mang
vòng nguyệt quế
Chuyện những thương binh
không "tàn", không "phế"
Vẫn cho đời bao sức lực, niềm tin
Cuộc sống còn bộn bề,vất vả, ưu phiền
Vết thương cũ khi trở trời buốt nhói
Những nỗi đau lặng thầm không thể nói
Chuyện đời thường mà đâu ít gian nan...
Chỉ tấm lòng còn mãi với thời gian
Xưa máu xương, nay mồ hôi lại đổ
Tiếng thao thức đập dồn khuôn ngực nhỏ
Lòng bồi hồi ước gì được sẻ chia...

Mai tôi về Yên Bái, ngoài kia
Xin gửi lại nén hương lòng cháy mãi
Ôi Trường Sơn, Trường Sơn xa ngái
Có một ngày tôi đã về đây....

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

CHUYỆN BẠN BÈ TÔI

THÀY ...SỐ- 1


Làng Chi Ngại, xã Cộng Hòa, Chí Linh, HD là một làng quê khá nổi tiếng (không tin bạn thử vào hỏi bác Gúc mà xem). Sở dĩ làng đó nổi tiếng vì nó là quê hương bản quán của AHDT- DNVH thế giới Nguyễn Trãi. Làng có có tên Nôm là làng Ngái và đi vào dân gian quanh vùng với câu: “Trai làng Ngái, gái làng Sui” (hay làng Thiên cũng được, đó là 2 làng mà các cô gái rất xinh, còn trai làng Ngái thì thường khá phương phi, cao lớn, ngang tàng và hay đánh nhau). Đó là một làng cổ, thuần nông, nằm trải dài theo chân dãy núi Đồn như một con chim đại bàng đang sải cánh, chiều dài của nó phải đến hơn 2 km.       Dân làng Ngái rất tự hào về cái làng mình, nhất là từ khi Nguyễn Trãi được UNESCO vinh danh.
          Nằm cạnh làng Ngái, bám vào quốc lộ 18 là một dãy phố nhỏ cũng được gọi là phố Ngái. Về mặt hành chính, phố Ngái từ xưa luôn được coi là một bộ phận (một xóm) của thôn Chi Ngại, có lúc còn mang tên phố Hòa Bình (chẳng biết xuất sứ từ đâu, có lẽ tên đó hình thành vào quãng hòa bình lập lại trên miền Bắc). Ở đây có một cái chợ khá lớn từ hồi KC chống Pháp vì là đầu mối giao lưu giữa vùng núi rừng phía bắc với miền đồng bằng phía đông nam. Người phố Ngái đa số từ các nơi khác nhau về quần cư tại đây với nghề nghiệp là “bán nông, bán thương”, nghĩa là có một số làm ruộng, còn lại số ở mặt đường thì buôn bán và làm một số nghề thủ công như thợ may, thợ rèn, sửa chữa xe đạp v.v… Dưới thời PK, dân phố Ngái bị coi là dân ngụ cư và bị dân chính gốc làng Ngái coi thường như một lẽ đương nhiên. Đến thời VNDCCH, nhất là thời cải tạo XHCN thì dân phố Ngái đa số thuộc thành phần tiểu thương, tiểu thủ công nghiệp… nên vẫn bị người làng Ngái nhìn với con mắt khinh khi- thành phần không cơ bản. 



          Dẫu vậy, phố Ngái đã có thời rất ầm uất và nổi lên như một trung tâm kinh tế của khu vực vì có cái chợ to nhất huyện, có kho lương thực trung tâm, có cửa hàng bách hóa tổng hợp lớn của công ty cấp 3, có hiệu sách nhân dân, phòng thuế v.v… Rất tiếc, khi chiến tranh phá hoại nổ ra, chợ Ngái phải sơ tán rồi dần dần mất chợ. Lại do thị trấn Sao Đỏ mở ra, trở thành trung tâm huyện nên phố Ngái mất dần vị thế. Đến đầu những năm 70 nó mất hẳn vẻ sầm uất, chỉ còn lèo tèo vài chục gia đình làm những nghề vặt vãnh.. trông thật buồn. Tôi với hắn cùng lớn lên ở cái phố nhỏ đó (tôi ở đó từ 1 tuổi). Ông già tôi làm thợ may, còn ông già hắn làm nghề thợ rèn. Hai nhà cách nhau chừng vài chục mét. Cùng là cảnh cơm hàng, gạo chợ nên hoàn cảnh hai nhà cũng na ná nhau, không giàu cũng chẳng nghèo. Khi cải tạo công thương nghiệp, một HTX thủ công được thành lập, quy tụ tất cả các loại thợ thủ công trên địa bàn xã và mang tên HTX Tiến Lợi thì ông già tôi tham gia Ban quản trị, ông già hắn là xã viên. Gọi là HTX nhưng thực ra việc ai nấy làm, ủy viên BQT cũng chẳng có lương lậu gì cả.

5.2- Tôi với hắn phải nói là có khá nhiều cái cùng: cùng quê- dĩ nhiên rồi bởi tôi đã coi đó là quê hương của mình. Chúng tôi cùng trà lứa nên cùng được gia đình gửi học vỡ lòng với thày Ân, một thày giáo “bình dân học vụ” từ hồi CMT8. Thày Ân có bộ râu dài, trông hơi giống Cụ Hồ. Trong nhà thày có một tấm ảnh Cụ Hồ ký tặng “chiến sĩ diệt dốt”. Thày tự hào về phần thưởng này lắm. Tuy nhiên, tôi cũng không hiểu sao lại đi học lớp 1 trước hắn và từ đó về sau thì hắn học dưới tôi 1 lớp (Hình như hôm nhập học vào lớp 1 hắn đánh nhau và bị đuổi về thì phải). Chúng tôi lại cùng hội “bế em”: nhà tôi có 3 đứa em, hắn cũng 3 đứa nên cứ hết bế đứa này lại đến bế đứa khác. Thế rồi khi lên cấp 3 lại cùng đội bóng và đến lúc đi bộ đội lại cùng đi với nhau.
          Về chuyện hắn đi học sau tôi có lẽ không phải vì hắn dốt mà có lẽ do hắn quá nghịch ngợm thì phải. Chứ còn hắn vốn là một tên thông minh và láu cá. Suốt thời học phổ thông, hắn luôn là một học sinh giỏi Toán vào loại đứng đầu khối. Cùng có một đam mê là học Toán nên dù hơn kém nhau một lớp song chúng tôi vẫn hay trao đổi với nhau về bài vở, kiếm được bài toán hay lại cùng nhau giải và bàn luận. Hồi đó, sách vở đâu có nhiều như bây giờ. Thỉnh thoảng vớ được tờ báo “Toán học và tuổi trẻ” quý như vớ được vàng. Còn các bài tập khó chỉ do các thày cho chép mà thôi. Theo đánh giá của tôi, hắn có một bộ óc thông minh, khả năng tư duy lô- gíc và suy luận rất cừ khôi. Những bài toán khó thông thường theo bài bản người ta giải bằng cách lập phương trình hoặc vận dụng các định lý, tiên đề này nọ… thì hắn cứ suy luận theo kiểu số học thôi, đại loại là nếu cái ấy thế này thì cái kia thế kia, loanh quanh một hồi rồi cũng ra kết quả. Chẳng hạn bài toán “vừa gà vừa chó…” hắn lý luận thế này: “Giả sử mỗi con gà cũng có 4 chân thì số chân của chúng sẽ là 36x4= 144. Vậy đích thị 44 là số chân thừa ra của bọn gà nên chắc chắn số gà là 22 và số chó là 14”. Vụ này bây giờ đầy sách tham khảo người ta bày cho trẻ con rồi nhưng những năm 60 tự nghĩ ra được thế không phải ai cũng làm được.  Với đầu óc ấy, nếu được học hành tử tế thì ít nhiều cũng làm nên một cái gì đó. Chả thế, năm 95- khi tôi vào thăm thày Cảnh vốn làm chủ nhiệm lớp hắn hồi cấp 3 đang sống ở Nha Trang thì HS duy nhất trong lớp thày chủ nhiệm mà thày nhớ là hắn. Còn bọn học cùng lớp thì suy tôn hắn là "thày số...học".
          Hắn học được nhưng cũng cực kỳ nghịch ngợm. Đá bóng thì băm bổ, theo đúng phong cách “chém đinh, chặt sắt” của con nhà thợ rèn. Hắn không to nhưng người rắn chắc, chắc là do được tôi luyện qua những năm tháng phụ bố quai búa lò rèn nên thằng nào lớ ngớ xông vào hắn phang cho sưng chân ngay, cái cùi chỏ của hắn vừa nhọn vừa cứng và tôi cũng đã có lần được thử.
          Không chỉ học giỏi, hắn chơi cờ cũng được. Ngày ấy, cái hiên rộng của phòng thuế phố tôi thường là nơi giao đấu cờ tướng của các cao nhân mỗi khi chiều về. Trong đám đó, chú Hôi- người Quảng Ngãi tập kết nổi lên như một ngôi sao. Ấy thế mà có lần đã bị thằng trẻ ranh vắt mũi chưa sạch là hắn đánh bại. Chú cay mũi lắm nhưng không dám tái đấu vì biết chắc mình thua.
          Học giỏi, đá bóng được, lại nghịch ngợm nên hắn cũng… yêu khá sớm. Trong khi mặc dù học trên hắn mà tôi vẫn lớ ngớ chưa có mảnh tình vắt vai thì hắn cũng đã kịp có mấy mối tình trước khi đi bộ đội, trong đó cuối cùng và sâu nặng nhất là KTT- một hoa khôi của trường, cùng lớp với hắn. Nói chung ở TC3 CL hồi đó, KTT nổi lên như một ngôi sao. Em nó vừa xinh, lại học giỏi Văn, lại thông minh, khéo léo nên hai đứa kết với nhau thật là “một cặp trời sinh”.  

       (Còn nữa)

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

MẢNH ĐẤT QUÊ HƯƠNG

( ở chiến trường ra, lần về phép đầu tiên đời quân ngũ )

Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương
Như hôn người thương sau bao ngày xa cách
Tôi không khóc sao bỗng trào nước mắt
Con đã về với mẹ,  mẹ quê hương !


Anh đã về đây! Em ơi có gầy đi chút ít
Nhưng trái tim nhịp đập phi thường
Quả tim đã qua hai lần lửa đạn
Vẫn đợi chờ và chan chứa yêu thương


Anh về với em như con sông về biển
Chắt chiu nguồn nước ngọt phù sa
Hãy nhận lấy giùm anh dù con sóng nhỏ
Một doi bồi hay viên cát phù sa


tháng 8/ 1973

CHÙM THƠ 27/7


V VI M
                   Hoàng Bình Trọng

Không về ư? Ai bảo không về?
Bốn chúng con hôm nay đều có mặt
Thằng Cả: Hương Điền, thằng Hai: Ấp Bắc
Thằng Ba: Đồng Xoài, thằng Út: Núi Thành
Chúng con về, tất cả vẫn đầu xanh
Như buổi ra đi, vẫn thích làm nũng mẹ
Vẫn thích giọng ầu ơ… như hồi tấm bé
Chúng con vui sao mẹ lại buồn?
Mẹ dọn bàn thờ, mẹ đốt lò hương
Mẹ vái lạy. Trời ơi, sao lại thế?
Đúng đạo lý con phụng thờ cha mẹ
Can cớ gì mẹ cúng thờ con?
Ôi thời gian! Sắt đá vậy thời gian
Không cho mẹ quên nỗi đau se thắt
Thuở chúng con ngực găm đạn giặc
Không đau bằng nghe mẹ nấc hôm nay
Mấy chục năm rồi, đâu ngày một ngày hai
Đừng khóc nữa, mẹ ơi, đừng khóc nữa
Chúng con biết quay về khi mẹ hiền đợi cửa
Trong khói hương, trong gió lay rèm
Chúng con về đủ mặt bốn anh em
Dù có phải ngăn sông cách núi
Dù thân thể đã phai hòa gió bụi
Hồn vẫn về… mẫu tử tình thâm
Chẳng thể nào mẹ xa cách chúng con
Đừng khóc nữa – Mẹ ơi – Đừng khóc nữa.

 

NGƯỜI TR HN MÙA XUÂN
                                     Cao Quảng Văn

Anh không về dù đã hẹn mùa Xuân
Anh sẽ về khi phố phường đổi mới
Bao xuân đến rồi đi, em vẫn đợi
Trái tim em thầm nhắc biết bao lần

Anh vẫn còn đâu đó giữa mùa Xuân
Tiếng chim hót, lá xanh niềm xúc động
Trời xanh quá, trẻ đùa reo trong nắng
Mùa Xuân ơi, anh trễ hẹn bao lần

Anh đâu về cho kịp bước cùng Xuân
Mai đã nở một góc trời thinh lặng
Em qua phố điệp vàng khoe sắc nắng
Bỗng bâng khuâng nghe vọng bước chân mình

Anh có về trong nắng ấm đầu Xuân?
Ngời tia sáng cây đâm chồi hy vọng
Cho một ngày đất trời im tiếng súng
Anh ra đi – Rồi trễ hẹn bao lần

Anh không về
Dù đã hẹn mùa Xuân.


MÙA HOA CÚC
                      Bùi Hùng

Lại một mùa hoa cúc nữa Chị ơi!
Mây xõa tóc
                     trắng trời mưa tháng bẩy
Ngôi nhà nhỏ
                     mấy mươi năm chờ đợi…
Nén hương gầy
                     thành dấu hỏi thời gian

Anh vẫn còn ở lại với Trường Sơn
Chị đón nhận bao mưa nguồn, chớp bể
Mùa thu đến
                    bóng chiều nghiêng lặng lẽ
Cau trước thềm
                    úa bẹ phũ phàng rơi

Thêm một mùa hoa cúc nữa Chị ơi
Những sợi bạc lấp đi thời con gái
Giữ trong tim câu thề… anh trở lại
Chị vẫn chờ…
                   vẫn đợi... cả kiếp sau…



GỬI TÌNH VỚI TRI ÂN

Kính chào ban quản trị và các thành viên của xóm Tri ân

Xin đươc chân thành cảm ơn xóm ''TRI Ân'' đã yêu thương và giúp đỡ để ''VAN DUC BLOGC" được trở thành thành viên của xóm TRI AN.

Tôi xin phép được giới thiệu đôi chút về bán thân. Lý lịch trích ngang - Họ tên: Phan văn Đức; Sinh năm 1982; Quê quán: Phường Hoàng Tân - Thị xã Chí Linh -Hải Dương; Nghề nghiệp hiện nay: Cán bộ Ban Quản Lý Di Tích Thị xã Chí Linh.

Hôm nay tôi rất vui mừng phấn khởi vì được gia nhập xóm Tri ân, cũng là tự hào và vinh dự vì đã được ban quản trị cho phép và công nhận tôi là :"Tân thành viên" của xóm. Để bày tỏ tấm lòng của mình với Tri Ân, tôi xin gửi tới toàn thể các thành viên lời cảm ơn sâu sắc. Chúc các cô bác, anh chị dồi dào sức khỏe, hạnh phúc an vui và thành công hơn nữa trong cuộc sống. Ngày đầu lên trang blog này tôi con rất nhiều bỡ ngỡ, rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của tất cả mọi người. Để sẻ chia tình cảm của mình, tôi mạo muội có vài câu thơ gửi tặng xóm "Tri ân".

TÌNH TRI ÂN

Nghe danh"TRI" hội đã lâu
Nhưng mà chưa được gặp nhau một lần
Hôm nay vào hội Tri ân
Trước là chia sẻ sau gần nhau hơn

Cách xa cả dãy Trường Sơn
Lòng tôi đã thấy tình thân dạt dào
Biển kia sóng vỗ thì thào
Gửi tình với hội, tôi vào Tri ân
Tri ân tỏ sự biết ơn
Vui buồn chia sẻ giận hờn có nhau
Vần thơ tôi viết đôi câu

Gửi tới quý hội nhịp cầu yêu thương.
VĂN ĐỨC

THU TIẾT

Nắng nồng như giận giữ
Mưa dầm dề khúc nhôi
Trăng thanh tròn viên mãn
Đêm đầm đìa sương vui




Đầm sen tàn vẻ tươi
Lạnh se đầu ngọn gió
Vẽ mầu xanh da trời
Cho mùa thu muôn thưở.

20/7/2011
Đỗ Đình Tuân

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

CHÀO MỪNG HAI CƯ DÂN MỚI

Blog Triancuocdoi hân hạnh đón chào hai thành viên mới: anh Hà Phong và em Phan Văn Đức. Chúc các thành viên mới mau hòa nhịp bước để Xóm Tri Ân ngày càng đông vui và ấm áp. Chúc Xóm Tri Ân ngày càng gắn kết trong tình người, tình đời nhân hậu bao dung, để mỗi thành viên có thể tìm thấy niềm vui sống và sáng tạo đầy ý nghĩa.

HÀNH TRÌNH TRI ÂN-Phần 1

Kính chào các thành viên TRI ÂN!
HÀNH TRÌNH TRI ÂN là một cuộc giao lưu thắm đượm nghĩa tình, là một dấu ấn mà không dễ có được trong cuộc đời của bất cứ ai. Xin cám ơn Ban tổ chức - những người đã có ý tưởng, xin cám ơn những người đã tạo điều kiện giúp đỡ cho hành trình và đặc biệt là các thành viên đã tích cực tham gia, góp phần quan trọng cho sự thành công của HÀNH TRÌNH TRI ÂN.
Được sự cho phép của tác giả Nguyễn Xuân Thảo - một thành viên của HÀNH TRÌNH TRI ÂN và Ban biên tập của TRIANCUOCDOI, Hữu Trung và Minh Hương đã biên tập lại đĩa TRI ÂN CUỘC ĐỜI của tác giả Nguyễn Xuân Thảo thành 8 phần đưa lên TRIANCUOCDOI để các thành viên xem lại kỷ niệm đẹp cách đây đúng một năm. Do dung lượng hơi lớn nên có phần phải cắt làm hai đoạn. Mong mọi người thông cảm!
Phần 1: TẬP KẾT



KỶ NIỆM MỘT NĂM TRIANCUOCDOI

Tròn năm hành trình Tri Ân Cuộc Đời, xem những hình ảnh mà anh Nguyễn Xuân Thảo đã ghi lai, tôi vẫn bồi hồi xúc động. Một lần nữa tôi phải nói lời cảm ơn anh Thảo đã chu đáo lưu giữ những hình ảnh ấy, cảm ơn Dự án 1044 và tất cả các thành viên đã khởi đầu hành trình Tri Ân đầy ấn tượng, để đến hôm nay, Blog Triancuocdơi trở thành một sân chơi trí tuệ và tình cảm với sức sống mạnh mẽ. Xin chia sẻ chút tâm tình trong những ngày tháng 7/2010:
Hạnh phúc vỡ òa trong Tri ân hội ngộ
Nắng chan hòa cùng biển ngát sóng xanh
Lòng mang nặng ơn thày tình bạn
Nối cuộc đời dài mãi Khúc Tri Ân.

HÀNH TRÌNH TRI ÂN-Thăm Tuy Hòa

Phần 2A: Đón đoàn Hà Nội và thăm Gềnh Đá Đĩa - Phú Yên




Phần 2B: Thăm Tháp Nhạn và nghỉ tại Khu du lịch sinh thái Sao Việt - Tuy Hòa