Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

Dịch thơ cổ: Nguyễn Trãi 11

THƠ TỎ Ý CHÁN NẢN VÀ MUỐN VỀ NGHỈ (23 BÀI)
(nguồn: thivien.net có tham khảo thêm Nguyễn Trãi toàn tập tân biên)

BÀI 1
偶成
  Ngẫu thành
 
世上黃梁一夢餘,
Thế thượng hoàng lương (1) nhất mộng dư,
覺來萬事總成虛。
Giác lai vạn sự tổng thành hư.
如今只愛山中住,
Như kim chỉ ái sơn trung trú,
結屋花邊讀舊書。
Kết ốc hoa biên độc cựu thư (2)
                 阮廌
                 Nguyễn Trãi
Ghi chú
1.giấc mộng kê vàng: chàng thư sinh họ Lư hỏng thi, ghé một quán trọ và gặp một ẩn sĩ cho mượn cái gối kê đầu nghỉ. Trong lúc nằm nghỉ mơ thấy đỗ tiến sĩ, ra làm quan 20 năm, công danh sự nghiệp hiển hách, con cái cũng đều làm quan to. Sau vì dâng sớ hạch tội Lý Lâm Phủ nên bị cách chức. Lúc tỉnh dậy mới biết chỉ là một giấc mộng. Khi mới ngủ chủ quán nấu một nồi kê. Đến khi Lư tỉnh dậy, nồi cháo vẫn chưa chín. Do sự tích này người ta nói “Hoàng lương mộng” (giấc mộng kê vàng) để nói cuộc đời cũng giống như một giấc mộng vậy thôi.
2.Cựu thư: bản Dương Bá Cung chép là “cựu thư” (sách cũ, sách xưa). Thi Lục và Thi Tuyển chép là “phụ thư” (sách cha). Bản này theo Dương bá Cung.
 
Dịch nghĩa
Ngẫu nhiên làm (II)
 
Đời là kết quả của một giấc mộng kê vàng
Tỉnh ra mới biết vạn sự đều hóa thành không cả
Như nay ta chỉ thích ở chốn núi non
Làm nhà bên hoa mà đọc sách xưa.
 
Dịch thơ
Cuộc sống chẳng qua giấc mộng thừa
Tỉnh ra mới rõ thảy là hư
Nay ta chỉ thích về bên núi
Dựng mái nhà tranh đọc sách xưa.
                     Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 2
晚立
Vãn lập
 
長天漠漠水悠悠,
Trường thiên mạc mạc thủy du du,
黃落山河屬暮秋。
Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu.
羨殺花邊雙白鳥,
Tiện sát hoa biên song bạch điểu,
人間累不到滄洲。
Nhân gian luỵ bất đáo thương châu (1).
                  阮廌
          Nguyễn Trãi
 
Ghi chú
1.Thương châu: cồn bãi. ở đây chỉ nơi ẩn dật
 
Dịch nghĩa
Đứng trông cảnh chiều
 
Trời rộng bát ngát, nước mênh mông
Lá vàng rụng, nước non đã vào cuối thu
Lòng mến bắt gặp đôi chim trắng bên hoa
Luỵ nhân gian chẳng đến nơi cồn bãi này.
 
Dịch thơ
Trời cao bát ngát nước mênh mang
Phong cảnh cuối thu lá rụng vàng
Bỗng gặp bên hoa đôi nhạn trắng
Lụy đời không đến chốn sơ hoang.
                    Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 3
題山鳥呼人圖
Đề sơn điểu hô nhân đồ

深山寂寂鳥呼人,
Thâm sơn tịch tịch điểu hô nhân,
畫裏看來亦逼真。
Hoạ lý khan lai diệc bức chân.
閒掛午窗朝退日
Nhàn quải ngọ song triêu thoái nhật,
夢回疑是故園春
Mộng hồi nghi thị cố viên xuân.
                    阮廌
                    Nguyễn Trãi
 
Dịch nghĩa
Đề bức hoạ "Chim núi gọi người"
 
Trong núi sâu vắng vẻ chim gọi người
Cảnh trong tranh vẽ mà xem ra hệt như cảnh thực
Những ngày lui chầu rảnh rỗi
Ngỡ là mộng trở về cảnh xuân vươn cũ.
 
Dịch thơ
Tiếng chim núi vắng gọi người
Cảnh trong tranh vẽ hệt coi thực ngoài
Lui chầu những lúc thảnh thơi
Xem tranh ngỡ cảnh xuân nơi vườn nhà.
                       Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 4
題東山寺
Đề Đông Sơn tự (1)

君親一念久嬰懷,
Quân thân nhất niệm cửu anh hoài,
澗愧林慚夙願乖。
Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.
三十餘年塵境夢,
Tam thập dư niên trần cảnh mộng,
數聲啼鳥喚初回。
Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi.
                   阮廌
                 Nguyễn Trãi
Ghi chú
1.Đông Sơn tự: một ngôi chùa tại xã Vĩnh Lũ, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương.(nay thuộc Quảng Ninh)
 
Dịch nghĩa
Đề chùa Đông Sơn
 
Một niềm (trung hiếu) nhớ mãi đối với vua và cha
Thẹn với núi rừng vì đã sai lời nguyền xưa
Ba chục năm thừa mộng ở cõi trần
Vài tiếng chim kêu thức tỉnh lại như trước.
 
Dịch thơ
Một niềm trung hiếu với vua cha
Lỗi hẹn bao ngày với suối khe
Ba chục năm thừa trên thế giới
Chim kêu vài tiếng sực quay về.
                     Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 5
和鄉先生韻柬諸同志
Hoạ Hương tiên sinh vận giản chư đồng chí

愁來咄咄漫書空,
Sầu lai đốt đốt (1) mạn thư không,
天地無窮嘆轉蓬。
Thiên địa vô cùng thán chuyển bồng.
世事灰心頭向白,
Thế sự hôi (2) tâm đầu hướng bạch,
衰顏借酒暈生紅。
Suy nhan tá tửu vựng sinh hồng.
覽輝擬學鳴陽鳳,
Lâm huy nghĩ học minh dương phụng (3),
遠害終為避弋鴻。
Viễn hại chung vi tị dặc hồng.
淪落天涯俱是客,
Luân lạc thiên nhai câu thị khách,
年來出處略相同。
Niên lai xuất xứ lược tương đồng.
                     阮廌
                 Nguyễn Trãi
 
Ghi chú
1.Đốt đốt: do 4 chữ “đốt đốt quái sự”. Ân Hạo là một võ quan đời Tấn (Trung Quốc), có tiếng là thanh cao. Làm đô đốc, đánh giặc bại trận, bị cách chức nhưng không hề tỏ ra oán hận. Suốt ngày chỉ dùng ngón tay viết lên không khí mấy chữ “cha cha, chuyện lạ”.
2.Hôi tâm: chữ hôi bản Ức Trai di tập phiên là khôi, những đúng ra là hôi. Vì “hôi tâm” có nghĩa là “lòng mất hết hứng thú”.
3.Minh dương phụng: do chữ “phụng minh triêu dương” trong Kinh thi có nghĩa là “chim phượng kêu đón ánh mặt trơif buổi sáng. Đây ngụ ý chỉ người tài đối với thời buổi sáng sủa. Giả nghị đời nhà Hán, viết văn cúng Khuất Nguyên trong đó có câu: “Phượng hoàng tường vụ thiên nhẫn hề / Lâm huy túc nhi hạ chi” (Phượng hoàng bay cao nghìn trượng / Thấy có ánh sáng thì đáp xuống). Ngụ ý người hiền tài chỉ có thể phục vụ một chế độ sáng suốt.
 
Dịch nghĩa
Hoạ thơ của Hương tiên sinh lưu giản các đồng chí
Chao ôi (cha cha) mối sầu đến viết lên đầy trời!
Khó (cho ta) là di chuyển như ngọn cỏ bồng trong trời đất vô biên này
Cuộc đời khiến lòng người nguội lạnh như tro tàn, tóc bạc dần
Thần sắc kém, mượn rượu để làm ửng đỏ lên
Nhìn ánh sáng muốn bắt chước chim phượng hót trong ánh dương
Rốt cuộc làm chim hồng tránh tên để xa nguy hại
(Chúng ta) đều là khách luân lạc ở chân trời
Lâu nay xuất hay xử cũng giống nhau.
 
Dịch thơ
Sầu đến “cha, cha…” viết kín trời
Vô cùng thiên địa cỏ bồng thôi
Đời làm tim lạnh đầu thêm bạc
Rượu khiến mặt suy cũng đỏ ngời
Nhìn nắng muốn theo chim phượng hót
Sao bằng lánh họa nhạn hồng noi
Chúng ta đều khách chân trời cả
Xuất xử lâu nay cũng một nòi.
                  Đỗ Đình Tuân dịch

26/5/2012
Đỗ Đình Tuân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét