Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Dịch thơ cổ: Nguyễn Trãi 6

THƠ LÀM SAU KHI THÀNH CÔNG 
VÀ LÀM QUAN Ở TRIỀU (31 BÀI)

Bài 11
題伯牙鼓琴圖

鐘期不作鑄金難,
獨抱瑤琴對月彈。
靜夜碧宵涼似水,
一聲鶴唳九皋寒。
                 阮廌
 
Phiên âm
Đề Bá Nha cổ cầm đồ
 
Chung Kỳ bất tác chú kim nan,
Độc bão dao cầm đối nguyệt đàn.
Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thuỷ,
Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn.
                          Nguyễn Trãi
 
Dịch nghĩa
Đề bức hoạ Bá Nha đánh đàn
 
Vàng của Chung Kỳ cũng khó đúc nên được
(Bá Nha) một mình ôm đàn ngọc dưới trăng mà gẩy
Bầu trời đêm như ngọc yên tĩnh và mát như nước
Một tiếng hạc kêu lạnh cả chín chằm.
 
Dịch thơ
Chung Kỳ vàng khó đúc nên
Bá Nha ngồi dưới trăng đêm gảy đàn
Đêm thanh như nước ngọc toàn
Hạc kêu một tiếng chín chằm lạnh thêm.
                             Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 12
次韻陳尚書題阮布政草堂

一心報國尚桓桓,
小構茆亭且自寬。
薇省退歸花影轉,
金門夢覺漏聲殘。
琴書雅趣真堪尚,
松菊歡盟亦未寒。
後樂想知終有意,
好將事業百年看。
                 阮廌
 
Phiên âm
Thứ vận Trần thượng thư đề Nguyễn bố chánh thảo đường
 
Nhất tâm báo quốc thượng hoàn hoàn,
Tiểu cấu (1) mao đình thả tự khoan.
Vi tỉnh (2) thối quy hoa ảnh chuyển,
Kim môn (3) mộng giác lậu thanh tàn.
Cầm thư nhã thú chân kham thượng,
Tùng cúc hoan minh diệc vị hàn.
Hậu lạc (4) tưởng tri chung hữu ý,
Hảo tương sự nghiệp bách niên khan.
                                      Nguyễn Trãi
 
Ghi chú
1.Bản Nguyễn Gia Tuân phiên là cách
2.Vi tỉnh (hay Vi sảnh): Vi (hoa tử vi) Tỉnh (rút từ chữ Trung Thư tỉnh, tức nội các của vua). Tại Trung Thư tỉnh thường trông nhiều hoa tử vi nên vào đời vua Huyền Tông nhà Đường đổi tên là Tử Vi tỉnh. Bạch Cư Dị trong một lần trực ở Trung Thư tỉnh làm bài thơ trong đó có câu: “ Độc tọa hoàng hôn thùy thị bạn / Tử vi hoa đối tử vi lang” (Hoàng hôn một bóng cùng ai bạn / Chàng tử vi đối hoa tử vi).
3.Kim môn: do chữ “Kim mã môn” rút gọn. Vào đời nhà Hán trước cửa cung Vị Ương có một con ngựa đồng nên gọi là kim mã môn. Các quan chầu chực tại đây để vào triều.
4.Hậu lạc: do chữ “tiên ưu hậu lạc” (lo trước vui sau). Bài Nhạc Dương Lâu ký của Phạm Trọng Yêm có câu: “Tất kỳ tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu / Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Phải lo trước cái lo của thiên hạ / Vui sau cái vui của thiên hạ).
 
Dịch nghĩa
Hoạ vần Trần thượng thư đề thảo đường của Nguyễn bố chánh
 
Một lòng báo quốc vẫn còn đeo đẳng hăng hái
Dựng mái tranh để tự giải khuây
Từ chỗ vi tỉnh về thì bóng hoa đã chuyển
Tỉnh mộng kim môn ra thì đồng hồ lâu cũng đã cạn
Cái thú cầm thư trang nhã thật đáng chuộng
Lời hẹn vui với hoa lá cũng chưa nguôi
Vui sau (lo trước) tưởng cuối cùng cũng có ý
Đáng mang sự nghiệp trọn đời ra nêu gương về sau.
 
Dịch thơ
Một lòng báo quốc vẫn nồng sôi
Mái lá con con tạm nghỉ ngơi
Từ sảnh trở về hoa bóng chuyển
Cửa quan tỉnh giấc đồng hồ vơi
Thú vui đàn sách thật nên chuộng
Món nợ cúc tùng vẫn chửa nguôi
Lo trước vui sau hằng giữ chí
Cần đem sự nghiệp để đời soi.
                    Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 13
秋夜與黃江阮若水同賦

紅葉堆庭竹擁門,
滿階明月過黃昏。
九霄清露三更濕,
四壁寒蛩徹夜喧。
天籟語秋驚草木,
玉繩低漢轉乾坤。
高齋獨坐渾無寐,
好把新詩向志論。
                  阮廌
 
Phiên âm
Thu dạ dữ Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thuỷ đồng phú
 
Hồng diệp đôi đình trúc ủng môn,
Mãn giai minh nguyệt quá hoàng hôn.
Cửu tiêu thanh lộ tam canh thấp,
Tứ bích hàn cung (1) triệt dạ huyên.
Thiên lại (2) ngữ thu kinh thảo mộc,
Ngọc Thằng )(3) đê Hán (4) chuyển càn khôn.
Cao trai độc toạ hồn vô mị,
Hảo bả tân thi hướng chí luâ (5).
                                             Nguyễn Trãi
 
Ghi chú
1.Cung: Nguyễn Trãi toàn tập chép là “cung” (con dê); Ức Trai di tập chép là “tương” (con ve).
2.Thiên lại: Tiếng vi vu giữa trời nghe như tiếng sáo. Phàm những chỗ hư không phát ra tiếng đều gọi là lại: “Thiên lại” (tiếng trời); “Địa lại” (tiếng đất)…Ức Trai di tập chép là “Tiên lại” (Tiếng sáo tiên).
3. Ngọc Thằng: Tên một vì sao gần sao Bắc Đẩu. Lúc đêm khuya sao này xuống thấp gần Ngân Hà.
4.Hán: còn gọi là Thiên Hà, tức Ngân Hà.
5.Luân: gốc là luận. Trong thơ có thể đọc là luân hay lôn.
 
Dịch nghĩa
Đêm thu cùng Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thuỷ làm thơ
 
Lá đỏ chất đầy sân, trúc ôm cửa
Đầy thềm trăng sáng, đã quá hoàng hôn
Từ chín từng mây, những hạt móc trong thấm ướt ba canh
Bốn vách dế lạnh kêu suốt đêm
Tiếng trời nói thu đến làm kinh động cây cỏ
Sao Ngọc thằng xuống thấp gần sông Ngân hà, chuyển trời đất
Ngồi một mình trên phòng cao, không ngủ được
Hãy đem bài thơ mới nói đến chí mình.
 
Dịch thơ
Lá đỏ đầy sân trúc cửa ôm
Đầy thềm trăng sáng quá chiều hôm
Chín tầng hạt móc ba canh ướt
Bốn vách trùng kêu lạnh suốt đêm
Thu đến tiếng trời kinh cỏ lá
Ngọc Thằng hạ thấp chuyển càn khôn
Phòng cao một bóng không sao ngủ
Hãy viết bài thơ nói chí luôn.
                       Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 14
端午日

天中共喜值佳辰,
酒泛菖蒲節物新。
進帖當年思永叔,
沉湘底事嘆靈均。
闢邪不用絲纏臂,
隨俗聊為艾結人。
願把蘭湯分四海,
從今澡雪舊污民。
                 阮廌
 
Phiên âm
Đoan Ngọ nhật (1)
 
Thiên trung cộng hỉ trị giai thần,
Tửu phiếm xương bồ tiết vật tân.
Tấn thiếp đương niên tư Vĩnh Thúc (2),
Trầm Tương để sự thán Linh Quân.
Tịch tà bất dụng ti triền tý,
Tùy tục liêu vi ngải kết nhân.
Nguyện bả lan thang phân tứ hải,
Tòng kim tháo tuyết cựu ô dân.
                              Nguyễn Trãi
 
Ghi chú
1.Đoan ngọ(còn gọi là Đoan Dương, Đoan Ngũ, Trùng Ngũ hay Trùng Ngọ):  ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch, năm 290 trước Tây lịch, Khuất Nguyên, tự là Linh Quân, làm đến chức Tả đồ đời Sở Hoài Vương (Trung Quốc), vì hai lần bị gièm pha do ghen tài nên tự vẫn ở sông Mịch La (tức sông Tương). Về sau dân nước Sở cứ đến ngày ấy tổ chức đua thuyền, ngụ ý để vớt thi hài Khuất Nguyên.
2.Vĩnh Thúc: tên tự của Âu Dương Tu, đời Tống Nhân Tôn (Trung Quốc), tùng dâng sớ can vua về việc bãi chức nhiều quan đại thần trung nghĩa.
 
Dịch nghĩa
Ngày Đoan Ngọ
 
Giữa trưa cùng vui gặp ngày đẹp trời
Rượu xương bồ là món mới ngày tết
Nhớ năm ấy Vĩnh Thức đệ sớ
Việc trầm mình dưới sông Tương đáng than cho Linh Quân
Không dùng tơ ràng ở cánh tay để trừ tà
Theo phong tục tạm kết cây ngải bện thành hình nhân
Nguyện mang nước thang lan chia khắp bốn bổ
Từ nay rửa sạch cái dơ bẩn cũ cho dân.
 
Dịch thơ
Cùng vui trời đẹp giữa trưa ngày
Rượu mới xương bồ hợp tiết đây
Vĩnh Thúc năm xưa từng đệ sớ
Linh Quân tuẫn tiết đáng than vầy
Trừ tà tơ sợi tay không buộc
Chỉ kết hình người rau ngải thay
Muốn lấy nước thơm chia bốn biển
Rửa đi dơ cũ của dân này.
                         Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 15
偶成

喜得身閒官又冷,
閉門盡日少相過。
滿堂雲氣朝焚柏,
遶枕松聲夜瀹茶。
修己但知為善樂,
致身未必讀書多。
平生迂闊真吾病,
無術能醫老更加。
                  阮廌
 
Phiên âm
Ngẫu thành (I)
 
Hỉ đắc thân nhàn quan hựu lãnh,
Bế môn tận nhật thiểu tương qua.
Mãn đường vân khí triêu phần bách,
Nhiễu chẩm tùng thanh dạ thược trà.
Tu kỉ đãn tri vi thiện lạc,
Trí thân vị tất độc thư đa.
Bình sinh vu khoát chân ngô bệnh,
Vô thuật năng y lão cánh gia.
                                    Nguyễn Trãi
 
Dịch nghĩa
Ngẫu nhiên làm (I)
 
Mừng được nhàn thân, chức quan rảnh rỗi
Trọn ngày đóng cửa, ít qua lại với ai
Hơi bốc đầy nhà vì xông gỗ bách buổi sáng
Tiếng reo của cây tùng làm rộn gối ngủ, đêm pha trà uống
Sửa mình chỉ biết làm điều thiện là vui
Lập thân chưa hẳn cần đọc nhiều sách
Bình sinh vu khoát quả là bệnh của ta
Vô phương chữa được mà lại thêm nặng theo tuổi già.
 
Dịch thơ
Mừng được thân nhàn quan lại rỗi
Suốt ngày đóng cửa ít qua xem
Đầy nhà hơi bách xông ban sáng
Rộn gối tiếng tùng trà uống đêm
Chỉ biết sửa mình làm việc thiện
Lập thân đâu phải đọc nhiều thiên
Viển vông quả bệnh ta hằng mắc
Khôn chữa càng già càng nặng thêm.
                          Đỗ Đình Tuân dịch

13/5/2012
Đỗ Đình Tuân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét