Thành viên xón TriAn kính viếng thân mẫu ông Nguyenx Văn Nhã

- CẢM ƠN ĐỜI MỖI SÁNG MAI THỨC DẬY. TA CÓ THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG -

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Dịch thơ cổ: Nguyễn Trãi 7

THƠ LÀM SAU KHI THÀNH CÔNG 
VÀ LÀM QUAN Ở TRIỀU (31 BÀI)

Bài 16
秋夜客感

西風撼樹響錚錚,
搖落聲悲久客情。
黃葉滿庭秋過半,
青燈和雨夜三更。
病多骨瘦眠應少,
官冷身閒夢亦清。
一念息來千念息,
雞虫自此了相爭。
 
Phiên âm
Thu dạ khách cảm (II)
 
Tây phong hám thụ hưởng tranh tranh (1),
Diêu lạc thanh bi cửu khách tình.
Hoàng diệp mãn đình thu quá bán,
Thanh đăng hòa vũ dạ tam canh.
Bệnh đa cốt sấu miên ưng thiểu,
Quan lãnh thân nhàn mộng diệc thanh.
Nhất niệm tức lai thiên niệm tức,
Kê trùng (2) tự thử liễu tương tranh.
                                Nguyễn Trãi
Ghi chú
1.Tranh tranh: Ức Trai di tập bản Dương Bá cung ghi là “đề tranh” (?)
2.Kê trùng: gà và bọ. Do tích “Kê trùng đắc thất” trong bài hành Phược Kê của Đỗ Phủ, với câu “Kê trùng đắc thất vô liễu thời”. Ý nói gà ăn bọ, người lại ăn gà, chẳng bao giờ hết vòng luẩn quẩn.
 
Dịch nghĩa
Ðêm thu ở đất khách cảm hoài (II)

Gió tây lay động cây cối nghe tiếng rì rào
Tiếng buồn khiến đau lòng khách tha phương lâu ngày
Lá vàng rụng đầy sân, quá nửa mùa thu đã sang
Ánh đèn xanh hòa trong tiếng mưa đã ba canh
Bệnh nhiều, xương gầy nên mất ngủ
Rảnh việc quan, nhàn rỗi nên mộng cũng nhẹ nhàng
Dứt được một niềm suy tư, hẳn nghìn mối khác cũng dứt
Gà và bọ từ nay thôi chớ tranh nhau nữa.
 
Dịch thơ
Gió tây lay ngọn rì rào
Tha phương lòng khách thiết thao vô vàn
Rụng vàng quá nửa thu sang
Ánh đèn xanh tiếng mưa tàn qua đêm
Thân nhàn mộng nhẹ nhàng thêm
Xương gầy bệnh lắm chẳng yên giấc vàng
Muốn dừng suy nghĩ miên man
Bọ gà thôi hãy miễn bàn quanh co.
                           Đỗ Đình Tuân dịch

Bài 17
即事

小小軒窗矮矮廬,
官居頓覺類幽居。
滄波江上閒垂釣,
綠樹陰中靜看書。
雨過晴嵐窺戶牖,
風來雪浪舞庭除。
午窗瀟灑無塵累,
一片閒心躡太虛。
                  阮廌
 
Phiên âm
Tức sự
 
Tiểu tiểu hiên song nuỵ nuỵ lư,
Quan cư đốn giác loại u cư.
Thương ba giang thượng nhàn thuỳ điếu,
Lục thụ âm trung tĩnh khán thư.
Vũ quá tình lam khuy hộ dũ,
Phong lai tuyết lãng vũ đình trừ.
Ngọ song tiêu sái vô trần luỵ,
Nhất phiến nhàn tâm nhiếp thái hư.
                                    Nguyễn Trãi
 
Dịch nghĩa
Tức cảnh
 
Hiên và song cửa nho nhỏ, mái lá thấp
Nhà quan bỗng thấy như nhà ẩn dật
Trên sông xanh màu sóng thong thả buông câu
Trong bóng cây màu lục ung dung đọc sách
Mưa tạnh bốc hơi bay qua cửa sổ
Gió thổi làm tuyết bay múa ở sân thềm
Nằm ở cửa sổ lòng nhẹ lâng lâng chẳng vướng luỵ trần
Một tấm lòng nhàn nhã vượt lên tận cõi hư vô.
 
Dịch thơ
Nho nhỏ hiên song thấp thấp lều
Nhà quan bỗng thấy giống nhà hưu
Trên sông sóng biếc buông cần thả
Dưới bóng cây xanh đọc sách đều
Khí núi sau mưa xông cửa sổ
Tuyết bay như múa trước thềm rêu
Nằm bên song dạ lâng lâng nhẹ
Một mảnh tâm nhàn vút vút cao.
                     Đỗ Đình Tuân dịch
Bài 18
次菊坡贈詩
太平天子正崇文,
喜見黃金礫瓦分。
美玉不勞求善價,
猗蘭終自吐清芬。
羡君已作儀庭鳳,
愧我應同出岫雲。
兩眼昏花頭竟白,
涓埃何以答君恩。
                  阮廌
 
Phiên âm
Thứ Cúc Pha tặng thi
 
Thái bình Thiên tử chính sùng văn,
Hỷ kiến hoàng kim lịch ngoã phân.
Mỹ ngọc bất lao cầu thiện giá,
Ỷ lan chung tự thổ thanh phân.
Tiện quân dĩ tác nghi đình phụng (1),
Quý ngã ưng đồng xuất tụ vân (2).
Lưỡng nhãn hôn hoa đầu cánh bạch,
Quyên ai hà dĩ đáp quân ân.
                                      Nguyễn Trãi
Ghi chú
1.Nghi đình phụng: phượng chầu sân vua, theo câu “Phụng hoàng lai nghi” (chim phượng hoàng đến chầu). Ý nói lúc chế độ thịnh thì có ngưpừi tài giỏi ra giúp vua.
2.Xuất vân tụ: lấy ý trong câu “ Vân vô tâm nhi xuất tụ” trong bài “Quy khứ lai từ” của Đào Tiềm (Đời Đông Tấn Trung Quốc) nghĩa là “Mây kia vô tình bay ra từ trong hang núi một cách nhàn nhã.

 
Dịch nghĩa
Hoạ thơ của Cúc Pha tặng
 
Thời thái bình vua chuộng văn chương là chính
Mừng thấy vàng được phân biệt với sỏi gạch
Ngọc tốt khỏi phiền đòi giá đắt
Lan quý cuối cùng cũng toả hương thơm
Mừng thấy người đã làm chim phượng ở triều đình
Thẹn cho bản thân tôi còn giống áng mây bay khỏi cửa động
Hai mắt đã hoa, đầu tóc đã bạc
Lấy gì mà đền đáp mảy may ơn vua?
 
Dịch thơ
Thái bình vua lại chuộng văn
Mừng thay gạch sỏi được phân với vàng
Ngọc lành được giá cao sang
Lan thơm quý lại tỏa hương ngạt ngào
Ông thành chim phượng trong triều
Thẹn tôi chỉ đám mây vèo cửa hang
Hai ta mắt lóa đầu sương
Lấy gì chút đỉnh đền ơn cửu trùng.
                            Đỗ Đình Tuân dịch
 
Bài 19
題石竹窩
傍石移栽竹幾竿,
玲瓏色映碧琅玕。
煙梢露滴衣裳冷,
地骨雲生枕簞寒。
幽致已應塵外想,
清標還愛雪中看。
窗前月白供佳賞,
退食聊將寓暫歡。
                 阮廌
 
Phiên âm
Đề Thạch Trúc oa (1)
 
Bàng thạch di tài trúc kỷ can,
Linh lung sắc ánh bích lang can (2).
Yên sao lộ trích y thường lãnh,
Địa cốt vân sinh chẩm điệm hàn.
U trí dĩ ưng trần ngoại tưởng,
Thanh tiêu hoàn ái tuyết trung khan (3).
Song tiền nguyệt bạch cung giai thưởng,
Thối thực liêu tương ngụ tạm hoan.
                                            Nguyễn Trãi
Ghi chú
1. Thạch Trúc Oa: am Thạch Trúc tại Côn Sơn, nơi Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi ở dưỡng già.
2.Lang can: một thứ đá đẹp như ngọc
3.Khan: một cách đọc của chữ “Khán” trong thơ cho hợp vận
 
Dịch nghĩa
Đề am Thạch Trúc
 
Dời mấy cây trúc đến trồng bên khóm đá
Ánh sáng long lanh chiếu như ngọc xanh biếc
Giọt sương trên ngọn lá cây khiến xiêm áo lạnh
Xương đất (đá trong đất) bốc hơi trong mây, khiến gối đêm cũng lạnh
Cảnh ý vị tưởng đang ở ngoài trần tục
Tính thanh tao lại khiến ưa nhìn ngắm cảnh trong tuyết
Trước song cửa trăng sáng cho ta thưởng thức vẻ đẹp
Sau bữa ăn, lấy chỗ nghỉ cũng tạm vui.
 
Dịch thơ
Khóm đá trồng vài cây trúc bên
Long lanh nắng ngọc biếc ngời lên
Sương treo ngọn lá buốt xiêm áo
Đá phả hơi mây lạnh gối đêm
Ý vị tưởng như ngoài cõi tục
Thanh tao thường vẫn tuyết nhìn xem
Trước song thưởng ngoạn vầng trăng đẹp
Sau bữa ăn chiều nghỉ tạm yên.
                     
Đỗ Đình Tuân dịch
Bài 20
浴翠山
海口有仙山,
年前屢往還。
蓮花浮水上,
仙景墜塵間。
塔影針青玉,
波光鏡翠鬟。
有懷張少保,
碑刻蘚花斑。
           阮廌
 
Dục Thuý sơn  (1)
Hải khẩu hữu tiên san,
Niên tiền lũ vãng hoàn.
Liên hoa phù thủy thượng,
Tiên cảnh trụy nhân gian.
Tháp ảnh, trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thúy hoàn.
Hữu hoài Trương Thiếu Bảo (2),
Bi khắc tiển hoa ban.
                             Nguyễn Trãi
 
Ghi chú
1. Núi Dục Thuý, tức núi Non Nước ở Ninh Bình, tên Dục Thúy là do Trương Hán Siêu đặt.
2.Trương Thiếu Bảo: tức Trương Hán Siêu, được phong chức Thiếu Bảo, hàm chánh nhất phẩm. Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, quê làng Phúc Thành, huyện An Ninh (sau đổi là làng Phúc Âm huyện Gia Khánh) tỉnh Ninh Bình, làm quan đời Trần, chức Tham tri chính sự, về già ở ẩn ở núi Dục Thúy.
 
Dịch nghĩa
Núi Dục Thuý
 
Gần cửa biển có núi tiên,
Năm xưa thường đi về.
Hoa sen nổi trên mặt nước,
Ðúng là cảnh tiên nơi cõi trần.
Bóng tháp như cài trâm ngọc xanh,
Ánh sáng trên sóng soi mái tóc biếc,
Chạnh nhớ quan Trương Thiếu Bảo,
Tấm bia đá nói về ông đã lốm đốm rêu phong.
 
Dịch thơ
Non tiên gần cửa biển
Năm xưa thường lại qua
Cảnh tiên nơi trần giới
Mặt nước nổi sen hoa
Tóc biếc soi đáy nước
Bóng tháp cài trâm ngà
Chạnh nhớ Trương Thiếu Bảo
Bia khắc rêu phủ nhòa.
        
Đỗ Đình Tuân dịch
15/5/2012
Đỗ Đình Tuân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét